Cầu cho các linh mục đang làm việc mục vụ

Trần Bá Nguyệt, 7-2018

1. Đọc sách dùm quý vị

1.1 Thành ngữ Tiếng Việt

Người giáo dân từ ngàn xưa vẫn được gọi là con chiên. Con chiên đi theo chủ chiên. Và nhiều người vẫn giữ quan niệm này theo nghĩa đen, ngoan ngoãn và “vâng lời cho đến chết” mà không để ý gì đến các Hiến Chế Lumen Gentium (về Giáo Hội), Gaudium et Spes (về Mục Vụ) hay Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem (về Tông Đồ Giáo Dân) cũng như Ad Gentes (về Truyền Giáo) của Công Đồng Vatican 2 cả.  Truyền thống “giữ đạo kiểu Việt Nam” kính trọng các đấng bậc linh mục một cách rất cao, nếu không muốn nói là “quá mức”. Có vị trong một hội đồng mục vụ giáo xứ ở Saigon đã gọi “cha là con ngươi của Chúa”. Ông bà chúng ta thường dạy con cháu đối với các đấng phải “kính nhi viễn chi”. Quan niệm “kính nhi viễn chi” tức là “tôn trọng, ngưỡng mộ, nhưng rất xa vời, chỉ có thể đứng xa chiêm ngưỡng, không nên đến gần”. Quan niệm này xuất  phát từ lời Khổng Tử nói về thần thánh, đại ý, với thần thánh, thì rất kính, nhưng ở xa không đến gần được. Khổng Tử muốn đưa ra một cách nhìn nhận khách quan, nghiêm túc và thuần lý trí với thần thánh, cho nên mới dùng cụm từ “kính nhi viễn chi” (Tự điển Thành Ngữ Việt Nam).

Trong văn hoá dân gian hiện vẫn còn tồn tại (dù không nhiều) thói quen sử dụng cụm từ “Con xin phép lạy cha …” Các ông bà nhà ta vẫn thường nói như vậy. Một phần có lẽ do truyền thống “Cha – con” trong xưng hô giữa các đấng và giáo dân trong ngôn ngữ Việt. Chính cách xưng hô như vậy tạo nên sự xa cách và hiểu lầm vị thế thực sự của các đấng và giáo dân. Do đó những gì Công Đồng Vaticanô 2 nói về vai trò người giáo dân với những trách vụ “tư tế, tiên tri, vương đế” vẫn chỉ được nhắc đến như một cái máy mà không chút đi sâu vào ý nghĩa cùng trách vụ thực sự của người “thừa tác cộng đồng” (tức là “Kitô hữu giáo dân” (Lumen Gentium, 28). Cụm từ “Kitô Hữu giáo dân” là chữ được dùng làm tựa đề của Chương 12, sách Compendium of the Social Doctrine of the Church (Toát yếu về Học Thuyết Xã Hội của Công Giáo), dầy 750 trang của Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình, ấn hành năm 2004, do ĐHY Nguyễn Văn Thuận soạn trước khi Ngài qua đời). Người Kitô hữu giáo dân có vai trò thực hiện ba nhiệm vụ vừa kể giữa thế giới làm việc, tức là trong cuộc sống ngoài đời của người giáo dân, nơi nằm ngoài lãnh vực của những thừa tác viên có chức thánh với thế giới khép kín trong “nhà thờ”. Linh Mục Nguyễn Huy Lịch, OP, khi còn sinh tiền đã có lần (trước 1975) phê phán hiện tượng mà cha gọi là “hiện tượng Krist-ky” (tức tôn trọng quá mức các đấng) trong văn hoá Việt.

Tại các hội nghị ở Vatican hay ở các nơi khác, sự phân biệt các đấng và giáo dân không hề quá xa như văn hoá Việt Nam. Các đấng và giáo dân sử dụng những phương tiện như nhau, dùng thức ăn, thức uống như nhau, nơi vệ sinh như nhau (như tại Hội Trường Pope Paul VI tại Roma trong Jubilee of the Family năm 2000 hay Asian Mission Congress tại Chiangmai năm 2206). Nhưng điều đáng nói là cách xưng hô rất gần gũi (không lệ thuộc ngôn từ cách biệt “cha – con” như trong tiếng Việt).  Có xưng hô father hay bishop thân mật với “Hi! Father!” “Hi! Bishop!” nhưng sau đó vẫn là “you and me”, “vous et nous”, hay gần gũi “vous et moi” để hàng rào thứ bậc cao thấp – dễ làm hỏng quan hệ thân thiện – không còn tồn tại, cũng như không tạo ra khoảng cách tự tôn như trong văn hoá Việt. Hiện tượng (tự tôn và tự ti) vẫn còn tồn tại ở một số bộ phận người Việt trong nước cũng như ngoài nước. Hiện tượng đó (đáng buồn) là có nơi vẫn diễn ta theo cấp bậc từ trên xuống dưới có chủ ý và tạo hệ quả không hay vì gây xa cách.

1.2  Từ điển Christian Lore and Legend định nghĩa “Linh mục (Priest) là người (minister) được phong chức (ordained)  để thi hành các Bí Tích, với thẩm quyền rao giảng, ban phép lành (bless) và chăm sóc phần hồn (sđd, trang 204).

Tại Hôi Nghị Gia Đình lần thứ Ba, World Jubilee of the Family tại Rome (10-2000), người dân tham gia vào các công việc của giáo xứ, giáo hội cũng được gọi là minister. Trong các nhóm thảo luận hay nói chuyện bên lề Hội Nghị, các bạn nước ngoài hỏi chúng tôi những câu như, “Bạn tham gia vào ministry giới trẻ được bao lâu rồi?” Hoặc, “Giới trẻ Việt Nam có dấn thân trong các ministry của giáo hội không?” Và khi dấn thân như vậy họ là những minister, hiểu theo nghĩa rộng, ý muốn nói về tất cả những ai tham gia vào công việc của giáo hội.

1.3 Tự điển “đời” Mariam Webster

Tiếng Anh thời Trung Cổ, Middle English – ME – gọi linh mục (Priest) là Preist. Thời Cổ Điển, Old English – OE – gọi các vị là preost. Các vị là Người được trao cho thẩm quyền cử hành những Bí Tích trong tôn giáo, đặc biệt là đóng vai trò trung gian (mediatory) giữa con người và Thượng Đế. Trong Anh Giáo, Chính Thống Giáo và Công Giáo La Mã, các vị đứng sau các giám mục và trên các phó tế.

Gốc La-tinh gọi Linh Mục là Presbyter, Sacerdos. Vì thế, Lễ Ngân Khánh Linh Mục là Sacedotal Silver Jubilee và Lễ Kim Khánh là Sacedotal Golden Jubilee.

Presbyter, là linh mục hay Niên Trưởng (thời Giáo Hội Sơ Khai) hoặc Niên Trưởng của các Hội Thánh Niên Trưởng trong đạo Tin lành. Presbyterian Churches theo truyền thống Jean Calvin (Calvinism) do các niên trưởng điều khiển, gồm bốn cấp bậc: Cộng Đoàn (Congregation), Hội Đồng Niên Trưởng (Presbytery), Thượng Hội Đồng (Synod) và Đại Hội Đồng (General Assembly). (Nguồn: Tự Điển Công Giáo Anh-Việt).  

Giáo Hội Công Giáo dùng chữ Presbyterorum Ordinis, PO, tức là “The Order of Priest”(Sắc Lệnh về Linh Mục) tức Sắc Lệnh về sứ vụ và đời sống linh mục (Decree of the ministry and life of Priests). PO là một trong những văn kiện của Công Đồng Vaticanô 2. (Xin xem phần 1.5 bên dưới.)

Chữ Presbytery cũng còn được dùng để chỉ Nhà

Xứ, hay nhà của Cha Xứ, như chữ Rectory, là nhà của linh mục quản đốc nhà thờ, nhà của cha giám đốc.

1.4 Từ điển Truyền Giáo

Linh mục Ngô Quang Tuyên, Tổng Thư Ký Uỷ Ban Loan Báo Tin Mừng (Evagelization) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục có dịch nhiều tài liệu về Truyền Giáo trong đó có bài viết của Cha Georg Kirchberger về chức vụ Thừa Tác Thiêng Liêng.

“Chức thừa tác đặc biệt trong Giáo Hội dựa trên quyền kế vị các Tông Đồ. Nó không chỉ là một sự sắp đặt của cộng đoàn về mặt thực hành hay sự uỷ quyền của chính cộng đoàn, nhưng là một chức vụ do chính Đức Kitô thiết lập. Do đó, thừa tác viên này không chỉ ở trong cộng đoàn nhưng cũng đứng trên cộng đoàn, vì được nhận lãnh quyền bính nhân danh Đức Kitô. Nhưng quyền bính này phải được hiểu trong tương quan với Đức Kitô mà thôi. Đức Giêsu Kitô là tác nhân thực sự uỷ thác nhiệm vụ cho thừa tác viên. như thế thừa tác viên là dấu chỉ cá nhân của Chúa đang hoạt động trong cộng đoàn của Ngài lúc này.

“Do đó, khi truyền thống công giáo mô tả các thừa tác viên là các linh mục, điều này chỉ có nghĩa là trong Chúa Thánh Thần, họ tham dự và làm cho hiện diện chức tư tế của Đức Giêsu Kitô. Truyền thống Tin Lành thì tránh dùng tước hiệu linh mục để không làm người ta hiểu sai về chức vụ tư tế độc nhất của Đức Kitô.

“Chức vụ  ‘thừa tác thiêng liêng’ được định nghĩa như thế thì cần thiết cho Giáo Hội (Luật Chúa); nhưng trong hình thức cụ thể của nó, nó phải luôn luôn mở ra cho các hình thức mới tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử.”

Cha Pater Georg Kirchberger

(Theo Linh Mục Georg Kirchberger, SVD; Linh mục Ngô Quang Tuyên, GP Saigon, Tổng Thư Ký Uỷ Ban Loan Báo Tin Mừng dịch và phổ biến trong tác phẩm Từ Điển Truyền Giáo: Thần Học – Lịch  Sử – Viễn Tượng, NXB Orbis Books, Maryknoll, New York; bản tiếng Việt gồm ba tập sách với 1875 trang khổ A-4.)

1.5 Sắc Lệnh về Tu sĩ và Linh Mục

Trong 92 điều được chọn lựa trong các văn kiên của Công Đồng Vaticanô 2 về Chức Vụ Linh Mục, có những điều nổi bật như sau. – Các linh mục (LM) được Thiên Chúa ban ân sủng để làm thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô giữa muôn dân (Sắc Lệnh

Presbyterorum Ordinis, 2 & 2,7), – Các LM là những cộng sự viên của Hàng Giám Mục (PO 2,7),

  • Các LM mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Tin Mừng (PO 4), – Các LM phải chăm lo trau dồi kiến thức và nghệ thuật phụng vụ (PO 5), – Các LM tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất (PO 6), – Các LM không bao giờ phục vụ một chủ thuyết hay một đảng phái nào của người

đời (tức xã hội dân sự) (PO 6), – Không một LM nào có thể tự sức riêng hay đơn độc chu toàn đầy đủ sứ mạng của mình (PO 7),

  • Tất cả các linh mục, triều cũng như dòng, phải giúp đỡ nhau (PO 8), – Các LM phải nhìn nhận và khích lệ phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân (PO 9), – Các LM dẫn đưa mọi người đi đến hiệp nhất (PO 9),
  • Các LM, dù bản tính nhân loại yếu hèn, phải hướng đến sự hoàn thiện (PO 12), – Các LM phải tránh những gì xa rời người nghèo (PO 17),
  • Phải lưu ý đến chức tư tế cộng đồng của các giáo hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật của các LM (LG 28), – Mọi người phải tìm thấy được Lời Chúa nơi môi miệng các LM (PO 4),
  • LM là nhà giáo dục đức tin (PO 6).

2. Bài giảng

Giảng thuyết, tức là giáo dục giáo dân, là một nhiệm vụ của linh mục (Sắc Lệnh PO phần số 4).

2.1 Thánh Phanxicô Salêsiô nói, “Thước đo giá trị của người giảng thuyết (Preacher) là khi cộng đoàn giải tán, họ không nói, ‘Bài giảng này hay quá!’ nhưng nói, ‘Tôi sẽ làm điều này, điều nọ’.”

Bài giảng thường được gọi là Homily, Preach, Sermon.

Tiếng Anh và tiếng Pháp thời Trung Cổ dùng từ Omelie, Omelie; tiếng La-tinh là homilia, từ gốc tiếng Hy lạp có nghĩa là đối thoại, diễn văn, thuyết trình, diễn từ (Discourse). Từ ngữ homilos , gốc Pháp và Hy lạp, có nghĩa là đám đông, nhiều người tụ họp lại với nhau (Crowd,  hay Assembly). Sermon nghĩa là một sự trình bày về Kinh Thánh theo nghĩa thông thường, không phải với một nội dung kinh điển dùng cho chủng viện, nghĩa là trình bày với ngôn ngữ  “đời” cho người giáo dân bình thường. (Merriam-Webster, Massachusetts, USA.). Dụ ngôn “người làm vườn nho”, hay dụ ngôn “Ta là cây nho, các con là ngành (cành)” của Chúa là những sermon người dân bình thường ai cũng hiểu.

2.2 Những lời nhắn nhủ

2.2.1 ĐHY Phạm Minh Mẫn, ngay khi về giữ chức vụ Tổng Giám Mục TGP Saigon (gồm 10 Giáo Phận và 40 nhà dòng) đã gửi đến các linh mục một tập sách nhỏ. Đại ý Ngài ghi “Những điều nên nói với giáo dân và những điều không nên nói”. Ngài cũng nhắc “Xin các cha giảng Lời Chúa” bởi vì có nhiều vị thường đem chuyện đời tư của mình ra mà trình bày trong bài giảng như một món quà. Đến nỗi giáo dân biết rõ “cha” đã có bao nhiêu người (ý nói bao nhiêu cô) theo đuổi lúc còn làm thày hay lúc “đi bộ đội” hay đi “thanh niên xung phong”. Trách tuyệt đối chuyện tự ca tụng mình giỏi giang hơn người khác nên mới được chọn.

2.2.2 Phải gắn bó với Thánh Kinh (Dei Verbum, đoạn 25)

Thánh Ambrôsiô trong De Officiis Ministrorum I, nói, “Đừng quên rằng kinh nguyện phải đi đôi với Thánh Kinh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Người khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các lời Người tuyên phán.” (DV 25)

Trong hơn 58 năm theo đuổi Phong trào Thanh Sinh Công, chúng tôi được hướng dẫn và chỉ dạy của linh mục Tổng Tuyên Uý Đỗ Long Bộ, OFM, kể cả những năm ở tỉnh lên Saigon học đại học (từ 1963 đến 1969) được các cha Dòng Khó Nghèo cho  ở trọ trong nhà dòng tại Cầu Muối. Đây là lò đào tạo thanh niên theo phương châm “Education par l’Action” của Bố Bộ. Đó là một ngôi nhà các cha thuê của thành phố với giá một đồng một năm. Bên dưới là nhà thờ, bên trên là các phòng làm việc và phía sau là nhà bếp, nhà ăn, nhà làm việc, nhà kho và nhà người Pháp nuôi chó bẹc-giê vì trên tường vẫn còn những móc và thanh gỗ dài, to để treo giây xích cổ chó. Chúng tôi ở trong “chuồng chó” đó. Ba đứa học trò xa quê hương ở trong đó. Căn phòng có tủ hồ sơ và vài chiếc phản gỗ. Điều đáng kể cho vui là “chuồng chó” này nhiều, rất nhiều rệp. Rệp cắn riết rồi cũng chán. Tôi vừa đi học vừa đi dạy học cho Trường Lasan Đức Minh kiêm luôn dạy giáo lý cho học sinh trường. Lý do có chỗ dạy là vì Frère Cosme, giám học Trường Lasan, là bạn cùng học đại học với chúng tôi. Nhiều bữa Cha Tổng Bộ kêu chúng tôi cùng ăn cơm với Ngài. Ăn cơm với chén dĩa thuỷ tinh, muỗng nĩa i-nox theo kiểu Tây.  Tuần nào cũng nghe Cha giảng. Chưa kể những lần theo Cha đi thuyết trình hay đại hội miền tại các tỉnh từ Huế, qua miền Trung (Qui Nhơn, Dalạt, Nha Trang, Phan Thiết, xuống Mỹ Tho, rồi xuống tận Long Xuyên. chúng tôi thuộc từng câu chuyện cha kể khi giảng với những chữ đệm “nói được” trong bài giảng. Nhưng chưa bao giờ chúng tôi nghe cha nói về chuyện học hành, đậu đạt, hay bằng cấp của cha. Cả chuyện dòng họ, gia đình cũng không bao giờ nghe Ngài nói đến, nói chi đến chuyện khoe khoang về học giỏi hay ông bà ông cố đẹp lão, giàu có ra sao. Có lần theo cha ra tận Đà Nẵng ở trong ngôi nhà kiểu tây với mọi thứ tiện nghi của Pháp, lúc ăn cơm mới biết đây là nhà ông anh ruột của cha. Trong bữa ăn cũng chẳng nói gì đến gia đình, hay con cháu, … Tôi chỉ biết về “việc học” của cha khi cầm tập hồ sơ của Cha lên nộp trên Phòng Xuất Cảnh để phái đoàn năm người sang Singapore dự Hội Nghị TSC Á Châu (năm 1967). Lúc đó mới biết là Cha đã học ở Đại Học Sorbone với bằng cấp Cao Học Giáo Dục. Khiêm tốn, nhẹ nhàng và lúc nào cũng cười hay lấy sợi giây lòi tói của bộ y phục Dòng Phanxicô mà quất lũ nhỏ. Không bao giớ nói về mình nhưng nhấn mạnh đến cung cách “ăn ở, nói và làm” theo đúng châm ngôn “Education par l’Action” của Cha.

2.2.3 Hai bài giảng/hai thánh lễ

Cũng trong một dịp chúa nhật Kính Chúa Chiên Lành, hai bài giảng trong hai thánh lễ một ngày, hai nơi, khác nhau hoàn toàn. Một bài giảng được trình chiếu trên TV cuộc đời đi học, đi tu, xuất ngoại, chịu chức và hình ảnh gia đình; một bài giảng về sự hợp tác giữa linh mục, cha sở và giáo dân, với những trách nhiệm và hy sinh được tóm lại bằng câu chuyện kể về việc sẵn sàng “chết cho giáo dân” vì giáo dân có gia đình. Câu chuyện Cha Maximilian Kolbe (người gốc Balan) bên Đức thời Thế Chiến II đã tự nguyện “chết thay cho người giáo dân có gia đình tên là Francis” khỏi bị Quốc Xã Đức xử tử. Bài giảng lưu lại sự hy sinh cao cả bằng chính cái chết của mình cho một người khác. Trong hai trường hợp đó, ai là Mục Tử Nhân Lành.

Ngày nay với những phương tiện kỹ thuật truyền thông (laptop và máy chiếu hình projector, phương tiện trong mơ của nhiều linh mục VN), việc soạn và dùng phương tiện này thật hữu ích. Tuy nhiên cũng như mạng xã hội, phải biết sử dụng, nếu không thì thật phản tác dụng. Cha Đinh Thanh Bình, trong bài giảng Lễ Thánh Tâm Chúa, ngày 8-6-2018 tại Trung Tâm Vinh Sơn Liêm, đã kéo cả cộng đoàn vào bầu không khí sinh động đầy “ấn tượng” không quên. Với màn hình nhỏ của hai tivi hai bên bàn thờ và remote, cha đã bước xuống cộng đoàn, dẫn cả nhà thờ suy tư sinh động, hồi hộp và cười oà về Trái Tim yêu Thương của Chúa (không bao giờ nhắc đến tội bỏ thày với Ô Phêrô) đến Trái Tim Tha Thứ của Mẹ Maria dưới chân Thánh Giá. Bài giảng kết thúc trong sự háo hức, nhưng hững hờ (vì cứ tưởng còn nữa) nhưng đầy “chuẩn bị” và hiện đại của một preacher đúng nghĩa. Nhiều lần nghe Cha Bình giảng, nhưng chưa bao giờ thấy cha nói về sự học, gia đình hay bằng cấp của mình.

Lời mời gọi của ĐHY Mẫn

“Xin các cha giảng Lời Chúa” (đừng giảng về đời mình) thật rõ. Tiện đây, cũng xin nhắc lại một “kỷ niệm” về cách làm việc “cùng và với” của ĐHY Mẫn. Sau Hội Nghị Gia Đình Thế Giới năm 2000 tại Roma. Năm đó, nhân dịp soạn Thư Chung Giáng Sinh, ĐHY đã cho mời đại diện Tu sĩ (Cha Nguyễn Hoàng Đoan, dòng Tên), Trưởng  Ban Mục vụ Tu sĩ, Cha Bosco Nguyễn Văn Đình, OFM, Trưởng Ban Mục Vụ Giáo Dân và ba giáo dân (mà tôi là một trong ba người đó) đến họp với Ngài tại Toà Tổng. Cuộc họp bàn về việc góp ý cho Lá Thư Mục Tử Mùa Giáng Sinh năm 2000. Ngài đã soạn sẵn lá thư với 12 đề mục, nhưng xin giáo dân góp ý theo cái nhìn của mình để Lá Thư là một kết hợp, không phải là một lệnh truyền. Thật khác với quan điểm “các anh chị biết gì mà bàn chuyện Nhà Chúa!” Tiện đây cũng xin đề cập một chút tới quan niệm của Giáo Hội Hàn Quốc, “Mỗi giáo dân có một công việc ở giáo xứ, và mỗi linh mục có một việc làm ngoài nhà xứ, nơi học hành, công tác của giáo dân.” Những toán sinh viên và công nhân sang nước ngoài làm việc (như ở VN) đều có những sinh viên, và công nhân (là linh mục) đi học và đi làm theo người giáo dân. Cuộc sống mật thiết và cùng chia sẻ với nhau những tâm tư, khắc khoải của cuộc sống được đong đầy cho cả tu sĩ, linh mục và người giáo dân.

3. Công việc mục vụ

3.1 Trong hai bộ sách Thần Học Mục Vụ của Cha Tạ Huy Hoàng, Giáo Phận Saigon, người tham khảo có dịp tìm hiểu khá kỹ (nhưng Cha Hoàng luôn luôn ghi “chỉ là một chọn lựa tương đối tiêu biểu” về những gì có trong Thánh Kinh và tài Liệu Giáo Hội liên quan đến Mục Vụ). Hai bộ sách (Tập một dầy 1440 trang, và tập hai 1560 trang) có khá nhiều điều thú vị.

Trong một phần rất nhỏ, tài liệu ghi, “Sắc lệnh Hoạt Động Tông Đồ Giáo Dân là một trong 16 văn kiện của Công Đồng Vaticanô II. Trước khi Sắc Lệnh này được ban hành, Uỷ Ban Giáo Hoàng về Hoạt Động Tông Đồ Giáo dân với

Hai bộ sách Thần Học Mục Vụ của Cha Tạ Huy Hoàng 200 lần hội họp, đã hoàn tất một lược đồ gồm 200 trang (vào năm 1960).  Ban đầu đề cập cách bao quát về vai trò của người giáo dân, về sau đã cố gắng thu hẹp vấn đề vào một khía cạnh: hoạt động tông đồ giáo dân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một công đồng chung đã dành nhiều nỗ lực để giúp xác định cụ thể hơn sứ mệnh của giáo dân. Bởi lẽ trước đấy, địa vị của người giáo dân dường như chỉ được xem như một ngoại lệ” (Sđd, trang 146-147, Tập I).

“Một số người thắc mắc hoạt động tông đồ và linh đạo giáo dân có sự khác biệt rõ rệt nào so với mục vụ và linh đạo giáo sĩ. Đối với những người này, hai từ ‘giáo dân’ hàm một ý nghĩa tiêu cực (negative connotation). Từ ngữ ấy dường như xếp giáo dân vào hạng thụ động, ngồi những hàng ghế dưới.

“Với lối nhìn như thế, linh đạo và hoạt động tông đồ giáo dân xem ra thua kém so với linh đạo và mục vụ của các linh mục và các phần tử thuộc các dòng tu.

Trong sự hợp tác truyền giáo và những công việc mục vụ đa dạng trong Giáo Hội, sự phân biệt như thế là không chuẩn xác vì mọi tín hữu đều được mời gọi nên thánh như nhau và vì Nước Thiên Chúa mà cộng tác với nhau bằng những phương cách thích hợp.” (Sđd bên trên.)

3.2 Hội đoàn

“Những  giáo dân theo ơn gọi của mình đã tham gia vào các hội đoàn hay tu hội được giáo hội nhìn nhận, phải nỗ lực trung thành đón nhận những đặc tính riêng của đời sống linh đạo phù hợp với hội đoàn hay tu hội của mình ( Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Apostolicam Actuositatem, 4). “

Hội đoàn là cần thiết, nhưng vào nhiều hội đoàn để có nhiều người đọc kinh cho mình khi không còn trên cõi thế liệu có đúng với tôn chỉ của hội đoàn hay không. Đúc Cha Hoàng Văn Đạt – Giáo Phận Bắc Ninh – khi còn là cha sở tại Saigon (khoảng năm 1980) đã “rất ngại” việc thành lập các hội đoàn vì (theo kinh nghiệm), nhiều hội đoàn thì chỉ thêm tranh chấp nhau, so bì nhau, thay vì cùng cộng tác với nhau trong công việc chung của giáo xứ. Nhiều hội đoàn tự lý giải Thánh Kinh theo ý mình hoặc theo những trang mạng. Có nơi đã từng lấy các trang “Sứ Điệp Từ Trời” để “học hỏi” trong các buổi tụ họp của hội đoàn mình, đôi khi có cả  những người được mời đến xả tóc rũ rượi rồi “nói tiếng lạ!!!” như một kiểu có Ơn Thánh Linh. Tham gia hội đoàn mà theo đúng và làm đúng theo tôn chỉ thì chỉ một hội đoàn mà thôi là quá đủ. Nhiều hội đoàn chẳng đi theo tôn chỉ và mục đích mà chỉ xoay quanh chuyện đọc kinh, đi lễ, tổ chức bổn mạng, ăn uống, sinh nhật, tiệc tùng, …  mà thôi. Trong khi đó việc học hỏi những văn kiện Công Đồng và Giáo Hội về vai trò, trách vụ và việc làm cụ thể của người “thừc tác viên cộng đồng” thì chẳng buồn bỏ thời giờ đào sâu, suy nghĩ để thực hành.

3.3 Chỉ huy và dùng người trong mục vụ

Trong nghệ thuật dùng người, trước tiên phải lưu ý đến yếu tố “con người”. Con người trong hoạt động mục vụ khác hẳn con người trong kinh doanh, buôn bán. Trong kinh doanh người ta dùng đủ mọi mánh khoé để kiếm lời về cho mình, có nghĩa là người khác hay người tiêu thụ phải chịu thua thiệt hay chấp nhận bị lừa mà không thể kêu ca vào đâu. Trong làm ăn, người ta sử dụng những thành phần biết nịnh hót, biết tâng bốc người chủ bằng mọi thứ (tiền bạc, quà cáp, nói xấu người khác để mình hơn, và cả mọi thứ lọc lừa, hay đổ thừa). Yếu tố thứ hai gắn liền với con người là “động lực” của việc tham gia hội đoàn. Ngày nay, nhiều nơi, nhiều người quan ngại yếu tố này lắm. Đâu là động lực của việc tham gia vào hội đoàn giáo xứ. Nhiều vị thích “có mặt”, thích phô trương hơn là hiểu rõ trách vụ của mình. Cứ nhìn vào số chức vụ, số đoàn, nhóm mà một người tham gia vào thì ắt biết ngay mục tiêu của họ. Đó là chưa kể việc “xung phong” làm này làm nọ để lèo lái tập thể theo ý mình hay theo ý của một ai đó hoặc để có dịp “xin tiền” cứu trợ hay bán vé số. Yếu tố thứ ba là “tiền”. Tổ chức nào cũng phải có tiền. “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật con người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khoẻ ông già, … là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý”  … cơ mà.  Có tiền để làm việc (và, ngược lại,) có tiền như “hơi đồng” lôi cuốn vào vòng tục luỵ. Có nơi, có chỗ, có người còn xung phong nắm giữ “hầu bao” của tập thể. rồi lấy lý do “tiền bạc tế nhị’ nên nhất định giữ kỹ, ôm khư khư “kho báu’, lập rào chắn kỹ lưỡng hoặc báo cáo chung chung, rồi dùng tiền vào những mục tiêu của mình hay của phe nhóm mình hoặc một ngày mát trời nào đó báo cáo “hết quỹ” hay “cháy hồ sơ mất rồi!”để rồi cả tập thể hoặc cười ồ, hoặc ráng chịu (cha chung ai khóc bây giờ!). Những chuyện này xảy ra hà rầm ai cũng biết.  Rồi tiếp tục xin nữa và tha hồ rải nơi này nơi nọ để lấy danh, lấy tiếng. Có nơi lấy tiền quỹ chia nhau đi thăm chỗ này (nghèo đói), chỗ kia (thiếu thốn) mà tiền đi thì có mà chẳng thấy một thư hay một lời cám ơn nào của “nơi nhận”. Tiền, tóm lại, với hoạt động mục vụ là phương tiện làm việc, chứ không phải mục tiêu “ắt có và đủ”.

4. Đâu là mấu chốt của hoạt động mục vụ: Một hàng ngũ giáo dân trưởng thành

“Trong các văn kiện của mình, Giáo Hội tỏ ra rất ý thức về nhu cầu phải có thật nhiều (càng nhiều càng tốt, nếu chưa phải là tất cả) giáo dân trưởng thành. Các văn kiện ấy đã thực sự cố gắng trình bày cho thấy sự cấp thiết của vấn đề phài đào tạo một hàng ngũ giáo dân trưởng thành như là ‘dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người’. Thật vậy, Giáo Hội hết sức chú tâm đến việc đào tạo giáo dân bởi vì đây cũng là một nhiệm vụ của mục vụ giáo xứ (LG 28 & PO 9).

Sắc lệnh truyền Giáo Ad Gentes (số 21) ghi rõ:

“Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.”

(Nguồn: Thần Học Mục Vụ, Quản Trị Giáo Xứ, LM Tạ Huy Hoàng, trang 846-847, tập I.)