Cầu Cho Phụ Nữ Trong Xã Hội

1. Người mẹ và hai người con

Liên tiếp cả hai năm nay (2015-2016) lần nào bước chân đến nhà thở dự lễ, tôi cũng gặp người mẹ ấy và hai người con còn nhỏ. Năm ngoái, em bé, còn ẵm trên tay, là một bé gái mới sanh. Năm nay em khoảng hơn một tuổi. Người anh trai của em bé năm nay khoảng ba tuổi. Tôi không thấy người cha đi theo bao giờ cả. Khi em bé còn bế ngửa, em ngủ gần như suốt buổi lễ, thỉnh thoảng đòi uống sữa, rồi lại ngủ yên lành trong tay bà mẹ trẻ.  Cậu bé là anh quấn bên chân mẹ. Đến năm nay, em bé lớn hơn và không phải lúc nào trong nhà thờ em cũng ngủ. Em đòi bế dựng, đòi chơi với người anh trai.  Năm nay thì cả hai anh em bé nhỏ ăn mặc tươm tất hơn.

Ở xứ Úc này, không có chuyện con cái thiếu ăn thiếu mặc vì trẻ em mới sinh và đang lớn là đối tượng chăm sóc thật kỹ của council. Nhân viên dinh dưỡng đến tận nhà để hướng dẫn cách tắm rửa, cho bú mớm, và xem xét những vật dụng, nhu cầu dành cho trẻ mới sinh cho đúng tiêu chuẩn Úc. Việc chỉ dẫn và chăm sóc ấy thưa dần cho đến khi em bắt đầu chuẩn bị đi học pre-school hai năm trước khi bước vào lớp prep (chuẩn bị năm sau vào lớp một).

Chuyện đáng bàn ở đây là sự bận rộn không ngưng tay của người mẹ với hai con còn nhỏ. Chắc chắn ở nhà, bà mẹ trẻ, nếu không có ông bà nội ngoại trông chừng dùm, thì cũng bận rộn không kém. Chị hết xoay bên này, lật bên kia, lại xốc em bé lên vai trong khi ông anh trai thì mắt không rời em và mẹ.

      2.   Một cuốn sách của một bà mẹ

Jill, tạm gọi tên tác giả, là một bà mẹ có ba người con. Chị viết về những công việc mỗi ngày phải làm cho ba em bé. Chị viết về việc gọi chúng thức dậy, đánh răng rửa mặt, thay quần áo và chuẩn bị bữa ăn cho ba em bé; chị viết về việc tắm rửa, việc trông chừng cho các bé vui chơi, ăn, và ngủ. Con nít thì ở đâu cũng vậy, cho ăn là một cực hình. Nhiều khi không kềm chế nổi sự tức giận. Lúc nào cũng phải có sẵn giấy tissue để lau chùi cho các bé. Rồi phải chạy quanh theo các cô các cậu bé xíu, chẳng bao giờ ngồi ngay thẳng để chờ đút cơm đút cháo. Đó là chưa kể đang ăn thì có bé đòi đi tiểu, đi tiêu. Thật là rách việc. Sự việc trở nên nghiêm trọng hơn khi có một trong các em bé nóng đầu, sổ mũi, biếng ăn, khó ngủ, và khóc nhừa nhựa suốt buổi.  Chuyện đó xảy ra thường xuyên với trẻ nhỏ, nhất là những lúc thời tiết thay đổi, nắng gió thất thường. Chưa kể những lúc chúng nổi hứng rượt nhau chạy lung tung, hò hét om sòm và đánh nhau chí choé, hay tranh giành đồ chơi với nhau cũng như bắt chước các hiệp sĩ trên phim hoạt hình tung chưởng vào mặt, vào bụng nhau.

Đối với con nít, không phải lúc nào cũng sử dụng lý trí để bắt phải thế này, bắt phải thế kia (như người lớn). Ấy vậy mà có nhiều người lớn không nhận ra điều đó.

Jill kết luận cuốn sách của chị: “Tôi phải ăn như chúng, chơi như chúng, nói như chúng, hát như chúng, xem TV như chúng (để có thể nói chuyện với chúng vì nhiều khi không trả lời đúng nhân vật trong phim hoạt hình là chúng nổi giận, không bằng lòng và dĩ nhiên khóc toáng lên); rồi còn phải làm trò như chúng, ngủ như chúng, tắm rửa với chúng, và bất cứ giờ giấc nào cũng phải chuẩn bị cho chúng đi vệ sinh … như con nít, có nghĩa là nhiều khi tùm lum, tà la, không gọn gàng sạch sẽ tí nào cả. Tôi quên tôi là người đã lớn. Tôi trở thành một em bé như các em bé tôi đang chăm sóc. Tôi cũng “nói ngọng” như chúng và ráng mà hiểu những câu nói ngọng của chúng. Nếu không thì thật rách việc, chúng sẽ bù lu bù loa khóc lóc om sòm. Tôi cũng chẳng còn thời gian lo cho bản thân mình. May mắn lắm là lúc chúng ngủ, mình có thể yên tâm dọn dẹp chút đỉnh hoặc là ăn uống chút đỉnh. Nhiều khi chén cơm lấy ra mà chẳng có thời giờ để mà ăn cho hết.”

Ấy vậy mà còn rất nhiều bà mẹ còn phải chuẩn bị đi làm mỗi ngày, do đó phải tất bật với việc sửa soạn cho con lúc chúng còn đang ngái ngủ từ trước sáu giờ sáng để cho uống tí sữa, ăn chút đỉnh gì đó rồi bỏ lên xe, chở đến nhà trẻ hay chở đến nhà người chăm sóc child care, hoặc đến nhà ông bà nội ngoại. Người mẹ phải nuôi con có khác gì “Mẹ Mốc” trong bài thơ của Cụ Nguyễn Khuyến năm nảo năm nào.

      3.   Người phụ nữ trong gia đình

Năm Quốc Tế Gia đình do Liên Hiệp Quốc tổ chức 2014 là một cơ hội thật tốt nhắm vào việc tìm những giải pháp cho vấn đề nhiều nhà xã hội đau đầu đó là làm sao có những cải tiến đáng kể để giúp cho các gia đình được tồn tại và phát triển theo chiều hướng tốt đẹp nhất. Điều rất đặc biệt là làm sao đáp ứng yêu cầu hàng đầu của gia đình. Đó là “sự bình đẳng về giới tính để từ đó có thể tìm ra những giải pháp trong đó người nam và người nữ cùng chia sẻ một cách bình đẳng trách nhiệm và niềm vui của đời sống gia đình”. Đây là vấn đề mà hầu hết các nhà nghiên cứu, các nhà soạn thảo chính sách, các nhà hoạt động cộng đồng và chính những thành viên trong gia đình đều đồng ý với nhau. Làm thế nào mà người nam và người nữ trong gia đình cùng biết chia sẻ và cùng bình đẳng với nhau trong trách nhiệm với gia đình, con cái và sự phát triển của tất cả mọi người.

      4.    Người phụ nữ tại Úc

Mặc dầu có những sự gia tăng đáng kể số lượng phụ nữ có con phải chăm sóc lại là những người đang phải đi làm, những nghiên cứu trong suốt 15 năm vừa qua không thay đổi gì mấy về sự phân chia công việc trong gia đình. Đó là những nghiên cứu của Bittman, 1991; của Demo & Acock, 1993; Meslerer, 1993; Russel, 1983; Russel & Russel, 1987; Wearing, 1994.

Về sự phân chia thời gian, người phụ nữ đảm trách gần như 90 phần trăm công việc chăm sóc con cái cũng như thực hiện đến 70 phần trăm mọi thứ công việc trong gia đình. Chỉ có khoảng 14 phần trăm các ông bố tích cực giành thời gian tham gia vào công việc gia đình với vợ mình (Russel, 1983). Demo & Cock trong một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phụ nữ thực hiện một tỷ lệ không thay đổi về những công tác lao động trong gia đình. Họ thực hiện từ 68 tới 95 phần trăm mọi thứ công việc trong tất cả các hình thức gia đình bao gồm gia đình có hôn nhân, gia đình ly dị, gia đình chắp nối , và cả những gia đình sống chung không cưới xin gì cả.

Việc phân chia công tác trong gia đình thật vô cùng rắc rối khi cả hai vợ chồng cùng đi làm. Tuy nhiên điều rõ ràng là  người mẹ đi làm phải vừa lo lắng sắp xếp công việc ở sở và công việc ở nhà cũng như việc cá nhân làm sao cho chu toàn. Vì thế trách nhiệm của người mẹ khó khăn hơn bất cứ công việc của người cha nào đó trong một gia đình. Phần lớn phụ nữ đi làm không tham gia các công việc overtime (làm thêm ngoài giờ) vì họ phải giành thời giờ cho các nhu cầu của con cái (VandenHouvel, 1993). Người mẹ không có bao nhiêu thời giờ lo cho việc giải trí của riêng mình, khác hẳn với nam giới. Đây cũng chính là nguyên nhân tạo ra những xích mích và giận dữ (Demo & Cock, 1993; Glezer, 1991; Russel, 1983). Chính vai trò làm cha, làm mẹ là trọng tâm của những căng thẳng và đối kháng của những bà mẹ phải đi làm mà khó khăn chính tạo ra căng thẳng là việc họ phải giành thời giờ cho việc chăm sóc con cái nữa mà thời giờ này thường không có giới hạn. Gilbert & Hansen, 1983; Scott & Alwin, 1989; Wolcott, 1986). Bởi vậy những xích mích trong quan hệ vợ chồng cũng thường xảy ra trong giai đoạn nhiều căng thẳng này của quan hệ trong gia đình. Biết bao bà mẹ cam chịu và yên lặng xoay mòng mòng với công việc vì thực sư biết kêu ca vào đâu nếu gặp phải người chồng thờ ơ với công việc chăm sóc con cái để gọi là chung lưng gánh vác sự cực nhọc với vợ mình.

Trong những gia đình cả hai vợ chồng đi làm, người phụ nữ phải gánh vác đến 82 phần trăm công việc chăm sóc con cái. Việc chia sẻ công tác cho con cái mà cả hai người cùng lo chỉ chiếm 18 phần trăm mà thôi (Russel, 1983). Con số này sẽ khác đi nếu gia đình dùng đến dịch vụ childcare, nhờ người chăm sóc con cái cho họ. Trong tất cả những nghiên cứu, giải pháp đưa ra là cả hai vợ chồng đều phải cùng gánh vác chia sẻ công việc chăm sóc con cái như nhau. Edgar và Glezer (1992) trong nghiên cứu về việc hình thành gia đình (Family Formation) cho hay 90 phần trăm cả vợ lẫn chồng đều đồng ý là người đàn ông nên chia sẻ một cách đồng đều việc chăm sóc con cái với vợ mình. Ví dụ chuẩn bị quần áo và thay quần áo cho con trong khi người vợ dọn dẹp chỗ vừa tắm cho con hoặc người chồng cho con cái ăn để người vợ có thể rảnh tay thu dọn bếp núc hay ăn một miếng vội vã.

Những nhà nghiên cứu về gia đình đếu đồng ý là những vấn đề của gia đình trở nên khó khăn và căng thẳng khi người cha thiếu sự tham dự tích cực vào việc giúp đỡ người vợ chăm sóc con cái (Henbeck, Watson & Russel, 1986). Việc cần thiết phải thay đổi quan niệm về chuyện chia sẻ công việc trong gia đình cũng có nhiều ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng và bạo lực trong gia đình.  Điều quan trọng là chia sẻ công việc chứ không phải chỉ là “giúp mẹ nó một tay khi cần!” Hôn nhân sẽ tốt hơn khi người cha tham gia tích cực vào việc trách nhiệm về những nhu cầu của con cái. Một người cha có trách nhiệm chắc chắn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn và vui hơn khi cùng tham gia vào việc chăm sóc con cái (Schecter & Scott, 1983; Bernard, 1972; Grbich, 1987; Patterson, 1982).

      5.    Nền văn hoá cam chịu

Một lần kia khi nói chuyện với khoảng 150 khán thính giả trẻ ngồi thành đôi trong lớp Giáo Lý hôn Nhân tại Dòng Chúa Cứu Thế, Saigòn, vị diễn giả trình bày những khó khăn mà người lập gia đình có thể gặp phải khi hai người nam nữ bắt đầu nắm tay nhau trong “sự nghiệp” thành lập gia đình. Một trong những khó khăn đó là việc chia sẻ những công việc trong gia đình nhất là khi đã bắt đầu có con có cái. Sóng gió bắt đầu từ đây khi hai người nam nữ không cùng chia sẻ trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, không cùng ”nhìn về một hướng” như câu nói bóng bẩy thường nghe khi người ta định nghĩa tình yêu vợ chồng. Nhiều khi lại rơi vào tình trạng sợ trách nhiệm, sợ làm việc, sợ bận rộn, sợ mất những thú vui cá nhân chỉ có khi sống một mình. Nói chung lập gia đình cũng như giương buồm ra khơi mà chưa biết biển cả mênh mông trước mặt có bình yên hay đầy bão tố.

Vị diễn giả đang nói thao thao bất tuyệt những khó khăn của gia đình thì một bà mẹ sồn sồn chạy lên trao một mảnh giấy nhỏ: “Nói chuyện với những người sắp lập gia đình mà ông nêu những khó khăn thì ai mà dám lập gia đình!!!” Vậy đó, con thuyền sắp ra khơi kia chỉ có hai người, nếu không chuẩn bị những tình huống phải đối đầu với những bão tố thì làm sao vững tay chèo khi biển không còn phẳng lặng như nước hồ thu, nếu không chuẩn bị những lúc trái nắng giở giời thì làm sao vững mái chèo trước sóng gió của chuyến hải hành trên con thuyền tình bé bỏng. Đâu phải cuộc sống lúc nào cũng chỉ toàn là hoa là bướm. Cuộc sống không phải lúc nào cũng là ánh trăng thu hay làn gió nhẹ bên hồ sen. Cuộc sống tiềm ẩn vô vàn sóng gió. Họ phải biết chuẩn bị cho những sóng gió đó bởi vì gia đình là vấn đề dính dáng đến con người mà con người thì vô cùng phúc tạp đến nỗi không ai có thể lượng trước được những ưu tư, phiền muộn của cuộc sống gia đình.

Người mẹ có con phải chăm sóc và lo lắng cho con là công việc chẳng thể nào bỏ cho ai. Người mẹ phải làm công việc đó. Nếu may mắn có được người phối ngẫu cùng chung gánh vác việc chăm sóc này thì hạnh phúc biết mấy. Nếu không, thì sao? Cam chịu. Người phụ nữ Á Đông là người cam chịu vai trò cực nhọc ấy của mình.

Tại Ấn Độ cũng như tại Trung Hoa và Việt Nam, nền văn hoá dựa vào Nho Giáo, Khổng Giáo Hồi Giáo, và Ấn Giáo đã trao cho người đàn ông có một thứ uy quyền rất lớn, một thứ độc quyền trong gia đình, và xã hội. Trách nhiệm trong gia đình, trách nhiệm với con cái,  những vai trò do nền văn hoá và cơ cấu xã hội áp đặt đã cản trở người phụ nữ tham gia vào các tổ chức ngoài gia đình. Vì thế họ phải cam chịu số phận lép vế của họ.

Thống kê 2014 cho thấy tại Trung Hoa có hơn 701 triệu nam giới, so với 667 triệu nữ giới. Con số chênh lệch là 34 triệu người, có  nghiã là cứ 120 người nam mới có 100 người nữ.

Tại Việt Nam, thống kê dân số vào lúc 22:25 phút ngày 16/4/2016 cho biết trong tổng số 94.281.412 (94,2 triệu người), thì có 46.620.006 nam (chiếm 49,4 phần trăm) và 47.661.408 nữ (chiếm 50,5 phần trăm). Mỗi ngày có 2670 người sinh ra. Như vậy tại VN có khoảng một triệu phụ nữ dư thừa so với con số nam giới.

6. Kết luận: Tông Huấn Amoris Laetitia (Niềm vui yêu thương)

Ngày 8/4/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng về Gia Đình sau những năm tháng họp hành và tranh luận. Một cái nhìn mới được chiếu rọi vào đời sống con người, công giáo cũng như không công giáo. Tông Huấn đã đặt lại cái nhìn đúng về gia đình cũng như trách nhiệm của mọi người.

Phần tóm lược Tông Huấn có thể thấy rõ trong điểm lưu ý số 1. “Giáo hội cần phải hiểu rõ các gia đình và các cá nhân trong tất cả những phức tạp của họ. Giáo Hội cần phải gặp gỡ họ ở nơi họ đang sống. Thế nên các mục tử phải ‘tránh những xét đoán không lưu tâm đến tính phức tạp của những hoàn cảnh khác nhau’ (296). Không được ‘đóng khung hoặc xếp loại con người một cách quá cứng nhắc mà không dành chỗ cho sự phân định mang tính mục vụ và riêng biệt’ (298). Nói cách khác, không có một tiêu chuẩn chung cho tất cả mọi người. Mọi người đều được khuyến khích sống theo Phúc Âm, nhưng cũng cần được đón nhận vào trong một Giáo Hội biết tôn trọng những phấn đấu của riêng họ và đối xử với họ với lòng thương xót. Cần tránh kiểu suy nghĩ rằng ‘mọi sự không trắng thì đen’ (305). Và Giáo Hội không thể dùng luật lệ luân lý như những ‘tảng đá đè nặng trên cuộc sống con người’ (305)”. Tóm lại Đức Thánh Cha kêu gọi phải có sự cảm thông, thương xót, và đồng hành.

“Không thể đơn giản nói rằng tất cả những người ‘sống trong hoàn cảnh bất thường’  là sống trong tình trạng mắc tội trọng (301). Đức Thánh Cha nói “Tôi là ai mà xét đoán những người đó”, ý ám chỉ những người đồng tính. Những người sống ‘trong hoàn cảnh bất thường’ hoặc các gia đình không-theo-truyềnthống, chẳng hạn các bà mẹ đơn thân, cần được ‘cảm thông, an ủi, và đón nhận’(49).”

Người phụ nữ trong xã hội đã bị thiệt thòi rất nhiều vì họ không thể trốn tránh trách nhiệm nuối nấng con cái. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng cũng có một số rất nhỏ những người cha rơi vào hoàn cảnh “gà trống nuôi con” hay có trách nhiệm chăm sóc con cái hơn cả những người mẹ trong gia đình. Nhưng số này không nhiều. Phần lớn việc chăm sóc con cái nằm trong tay người mẹ.

Các cụ nói “xem quả biết cây, và xem cây biết người chăm sóc cho cây”. Gia đình cũng vậy. Không thể có những người con ngoan hiền, thành đạt tự trên trời rơi xuống. Tất cả những sự thành đạt của người con phải nhờ bàn tay chăm sóc, chỉ dẫn của người cha, người mẹ. Người ta hay nói đến sự chung lưng gánh vác trách nhiệm con cái của cả cha lẫn mẹ. Vậy mà trên thực tế có vô số những cha mẹ vô trách nhiệm, bỏ mặc sự nuối nấng chăm sóc cho người mẹ. Mỗi khi nhìn thấy những người mẹ già trước tuổi, hay phải hy sinh tuổi xuân hoặc thú vui của riêng mình vì phải dành thời giờ chăm lo cho con cái, điều đáng làm là ngả mũ kính trọng những người mẹ hết lòng vì con đó.

Trần Bá Nguyệt

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.