CẦU CHO SỨ VỤ CỦA GIÁO DÂN – TIÊN TRI VÀ VƯƠNG ĐẾ

Trần Bá Nguyệt

Vai trò của người giáo dân trong Giáo Hội, nhất là Giáo Hội Việt Nam, dù là trong hay ngoài nước, nói một cách đáng buồn, chỉ là vai trò thứ yếu. Không chắc có được bao nhiêu phần trăm người giáo dân VN, trong và ngoài nước, hiểu rõ vai trò và thực hiện vai trò ấy của mình theo Huấn Quyền (Magistrate) của Giáo Hội, cụ thể là qua các văn kiện của Cộng Đồng Vaticanô 2. Người ta nghe và nói về trách vụ tiên tri (ngôn sứ), tư tế và vương đế như một cái máy. Việc thực hành ba trách vụ này mấy ai (là người giáo dân) hiểu thấu đáo, nói gì đến việc đem ra thi hành. Bởi vậy  tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” vẫn là cảnh mang tính thời thượng, không phải chuyện quá khứ, mặc dù Công Đồng đã chấm dứt cách đây hơn nửa thế kỷ.

Đó là chưa kể chuyện cứ có việc gì xảy ra là đổ tội cho Giáo Hội chậm đáp ứng. Người giáo dân không được khuyến khích và không được chỉ vẽ cho rõ việc mà họ phải làm với tư cách người Kitô hữu (Bạn của Chúa Kitô) đó là rao truyền Lời Chúa như lời căn dặn (mà ai cũng thuộc nhưng không thi hành) “Hãy đi khắp thế gian, rửa tội và giảng dạy cho muôn dân”. Ngay chính việc làm gương thôi để “người ta thấy dấu này mà biết các ngươi là con Ta” cũng thấy còn mù mờ. Nhiều nơi chuyện “giảng đạo” tức là rao truyền Lời Chúa còn bị ngăn cản hoặc không chu toàn vì việc học hỏi Kinh Thánh còn quá sơ sài nơi phần lớn bộ phận người giáo dân.

Dân Chúa tháng 3 đã bàn về vai trò Tư Tế của người giáo dân theo Công Đồng Vaticanô 2. Dân Chúa tháng 4 này xin bàn cụ thể về hai vai trò Tiên Tri và Vương  Đế của người Giáo Dân. Ba vai trò đó người giáo dân nghe như những làn gió thoảng bởi vì không được chỉ rõ cho biết để mà thực hành ngay trong đời sống của mình.

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo (số 904 đến 916 và 942 đến 944) đã tóm lược vai trò Tiên Tri và Vương Đế bắng những việc làm cụ thể sau.

  1. Giáo dân tham gia vào sứ vụ tiên tri của Đức Kitô như thế nào?
    • Đón nhận Lời của Đức Kitô và loan báo Lời đó
    • bằng chứng từ đời sống của họ,
    • cũng như qua lời nói, hoạt động
    • và huấn giáo
    • trong các hoàn cảnh thông thường nơi trần thế
  2. Giáo dân tham gia vào sứ vụ vương đế của Đức Kitô như thế nào?
    • Qua việc từ bỏ bản thân và sống đời sống thánh thiện
    • Phục vụ cộng đoàn bằng nhiều hành động
    • Ghi dấu ấn trên các hoạt động trần thế của con người
    • Và trên các cơ chế xã hội bằng giá trị luân lý
    • Hướng tới sự hoàn hảo của Đức Ái dưới tác động của Chúa Thánh Thần
    • Thực hành các lời khuyên Phúc Âm

(Trích Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 190, 191, 192 và GLGHCG 904-907. 908-913, 914-916 và 942, 943, 944.)

Tóm lại sách GLCG muốn nói đến điều gì? Sống đạo để qua việc làm, lời nói của mình mà rao truyền Lời Chúa.

  1. Lợi dụng tập thể

Tập thể đây là những nhóm tách ra từ những hội đoàn. Nhờ quen biết nhau, lúc đầu thì rất tốt như giúp nhau đọc kinh, thăm viếng, làm việc bác ái. Sau một thời gian sự việc chuyển biến có lợi cho một vài người. Có những người lợi dụng những người chân ướt chân ráo mới ra nước ngoài để giới thiệu chỗ này chỗ nọ, đóng góp chút đỉnh để kiếm lời hoặc ai có chút tiền thì vay “để làm phúc”.  Mới đến mà có người vui vẻ với mình giúp giới thiệu gia nhập nhóm này nhóm nọ như thế ai chẳng ham. Nhưng rồi tiền nhỏ (vài chục), tiền lớn (vài ngàn) cứ ra đi mà không trở lại, hoặc có trở lại thì nhỏ giọt với câu nói “dễ thương” “để mình thu xếp”.  Chừng tỉnh mắt ra thì tiền hết rồi, hỏi người người tránh, hỏi gió gió trôi qua. Kiểu như “chơi hụi”, mất rồi là xong vì xã hội Úc này không rảnh để xét xử những chuyện không đầu, không đuôi như vậy. Đành phài “ngậm bồ hòn làm ngọt” và lần sau cẩn thận hơn thôi.

Có những vị lúc nào cũng kè kè sổ sách, ghi ghi chép chép để “cứu trợ”, giúp cha này sơ nọ nghèo lắm bên Việt Nam hoặc chia cho những nhóm này nhóm nọ cần tiền (!). Tiền ra đi chẳng thấy ai trả lời. Thôi thì đành “làm phước” cho xong.

Có những nhóm tập họp lại để vui chơi, ăn uống rồi bắt đầu tung những tin vịt động trời về cá nhân người này, cá nhân người nọ. Hỏi nguốn gốc  từ đâu thì được nghe câu trả lời trớt quớt, “Ấy nghe mấy đứa em nó nói, nghe mấy bạn ngoài chợ nói”. Toàn những chuyện làm như người nói ở trong tủ áo nhà người ta nên cái gì cũng biết chắc như đinh đóng cột. Rồi vì chẳng ai buồn cải chính nên câu chuyện “ngàn lẻ một đêm” kiểu Á Rập cứ thế mà thêu dệt như một chuỗi chuyện dài được thêm mắm, thêm muối mỗi lần qua một cửa miệng.

  1. Những cuộc đời lận đận

Chị một mình vượt biên năm 1978, lúc chị mới 18 tuổi. Chị được các Soeur Bác Ái thuộc nhà dòng tại Hospicio de San José (bên Phi Luật Tân) đỡ đầu và chăm lo cho chị. Chị được đi học tiếng Anh và các soeur cũng kiếm việc làm cho chị trong một nhà ăn làm phước của nhà dòng. Chúng tôi gặp chị năm 2003 khi dự Hội Nghị Gia Đình Thế Giới lần thứ 4 tại Manila khi phái đoàn Việt Nam trú ngụ tại nhà dòng Hospicio trong thời gian hội nghị. (Xin xem hình ảnh Phái Đoàn VN có các Cha, Soeur, Đức Cha Hoà , Chủ Tịch HĐGMVN và ĐC Nguyễn Văn Nhơn năm 2003, bên dưới.)

Rồi chị lập gia đình với một người cũng vượt biển như chị. Cuộc sống êm đềm trôi, nhưng gian khổ không ngừng đến với chị. Đứa con đầu lòng ra đời tốt đẹp, con thứ hai không may vừa bị dị tật vừa bị autism. Anh chồng thấy cảnh gia đình khó khăn, nheo nhóc nên giã từ chị theo lời khuyên bạn bè ôm cầm sang thuyền khác. Chị một mình nuôi hai con, với một đứa tật nguyền.  Nhiều lúc chị muốn buông xuôi, nhưng nhờ các soeus và sau này nhờ ba mẹ từ Việt Nam được bảo lãnh sang giúp nên chị cũng nguôi ngoai phần nào. Rồi ba mẹ chị cũng phải già và lần lượt về chầu Chúa. Chưa bao giờ chị cảm thấy cô đơn như vậy. Tuy nhiên nhìn hai đứa con của mình, một tật nguyền, một mạnh khoẻ chị đem hết tình thương đổ vào cho hai con. Rồi con gái chị cũng lớn lên, học xong đại học và đi làm xa nơi Quezon, bắc Manila, trong trường Đại Học Công Giáo. Người con bị bệnh lớn lên và bớt dần di chứng tâm thần, bới cào cấu, và bớt la hét, trừ khi trở chứng. Giờ đây, ở vào tuổi gần 70, chị lo việc với các soeur trong nhà dòng, giúp những người Việt được các soeur cưu mang sau chiến dịch trả về nguyên quán của chính phủ những năm  sau 2000. Chị tìm thấy niềm vui nơi những người cùng Việt cảnh ngộ, xa quê hương, không người thân và cô đơn nơi đất khách.

Các soeur nói, chính đời sống của chị và các người bạn cùng cảnh ngộ là một chứng từ của việc rao giảng tình yêu nơi người anh em đồng loại, một trong những vai trò tiên tri của người giáo dân. Bây giờ thì chị an tâm hơn trong thứ tình yêu mà chị đang thực hiện và đang có. Chị gửi mail và tâm sự, “Anh ạ! Rồi tôi sẽ phải ra đi trước thằng con trai tật nguyền và người con gái một mình còn ở lại. Tôi biết rồi mọi sự cũng sẽ trôi qua như dòng sông xuôi về biển cả. Tôi chỉ còn biết âm thầm cầu nguyện và phó thác.”

Nhiều cuộc đời gian truân đầy nghịch cảnh như câu chuyện người bạn bên trên. Chiến tranh và sự ra đi sau 1975 đã để lại nhiều cuộc đời đầy chứng tích tình yêu của các chứng nhân lịch sử. Một người bạn khác cùng học chung đại học thời 1964-1969, vượt biển sang định cư bên Minnesota, một tiểu bang Bắc nước Mỹ. Chị xoay sở một mình với bốn con, hai trai, hai gái khi người chồng giã từ chị lúc vừa đặt chân đến Mỹ. Chị đi dạy rồi làm nhân viên xã hội. Con gái chị thấy nghịch cảnh và cuộc sống gian khổ của mẹ nhất định không lập gia đình. Cả một cuộc đời gian nan đầy thử thách trong việc nuôi dưỡng con cái cho nên người. Bây giờ ở vào tuổi xế chiều, chị tâm sự, “Em cũng vui nhìn thấy các con, nhưng trong cái lạnh của miền Bắc Hoa Kỳ, em cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Em chỉ còn tình bạn ở những e-mail cho nhau. Anh nhớ đừng cắt đứt giây chuông nhé!” Vâng dù sao , em cũng đã chu toàn chức vụ tiên tri bằng hành động và việc làm đầy tình thương của mình cho con cái và cộng đồng.

Honouring Women! Thật đáng tôn vinh những người phụ nữ can trường.

  1. Tiên tri và vương đế trong gia đình

Có những người gia trưởng thực hiện vai trò ngôn sứ và vương đế theo nghĩa đen hoàn toàn. Trong gia đình họ ra lệnh và bắt vợ con phải nghe theo. Cũng trong gia đình họ sống cuộc sống “vương đế” khi bắt vợ con phục vụ mình như mình là một hoàng đế.

Có vị gia trưởng đã trả lời một linh mục tại Melbourne này rằng vì là người đã từng đi tu, nên anh coi vợ con như những giáo dân chính hiệu phải phục vụ “cha sở”. Dĩ nhiên đây là quan điểm sai lầm và vị linh mục đã trả lời anh ta không do dự, “Tôi không nghĩ như anh, là cha sở, tôi là người phục vụ giáo dân về cả tinh thần lẫn vật chất khi có thể.”  “Tôi tự trồng rau và nấu ăn lấy. Tôi tự lo việc giặt giũ. Tôi đến thăm những gia đình nghèo, neo đơn và giúp họ tinh thần đôi khi một chút vật chất.”  Tôi thấy có vị cha sở sẵn sàng móc túi để cho một giáo dân nào đó một chút tiền hay một pack trứng hoặc một pack phó mát, một hộp sữa ông già. Quan niệm mà anh gia trưởng này (một con người đã từng được đào luyện đàng hoàng nơi chủng viện) đã khiến anh làm sai ngôn từ vương đế và tiên tri theo định nghĩa của giáo hội. Anh đã đem chữ vương đế vào làm vua trong gia đình anh mà quên rằng “Vương đế là hoàn hảo vai trò Đức Ái nơi gia đình của mình”.

“Làm tiên tri bằng ngôn từ và hành động”. Có anh gia trưởng khoán trắng việc chăm sóc con cái, đưa đón con cái, dạy dỗ, tắm rửa, lo vệ sinh, … cho con vào một mình người vợ vừa phải đi làm, đi chợ, nấu nướng và lo phụ đạo bài vở cho các con. Bởi vậy khi các con học tới đâu, bà mẹ “cũng được lên lớp” tới đó để còn kịp làm mentor cho các con. Anh gia trưởng sống y như một vị “vương đế” với nghĩa đen của Hoàng Đế Tần Thuỷ Hoàng hay Sa Hoàng bên Nga trong vương quốc bé nhỏ của mình. Anh tỉnh bơ trước những gian khổ của người vợ mình.

Bên nước Úc dân số bé nhỏ này, không thiếu những giáo dân thực hiện vai trò tiên tri và ngôn sứ tuyệt vời nơi trần gian như trong những chứng từ dưới đây đăng trong Australian Catholics – Edition Autumn 2018.

  1. Caroline Chisholm (30 May 1808 – 25 March 1877) – Người phụ nữ đã sống cuộc sống với chứng từ ngôn sứ tuyệt vời.
Hình Bà Caroline Chisholm

Caroline Chisholm là người phụ nữ đã cống hiến cuộc sống mình một cách vô vị lợi cho những phụ nữ và gia đình di dân. Là một người mẹ và một người vợ, bà đã cầm đầu cuộc chiến đấu để giành lại vị trí đáng tôn vinh của các cộng đồng di dân trong thời gian cực kỳ khó khăn của xã hội thuộc địa Úc vào thế kỷ 19.

Sinh trưởng trong một gia đình khá giả gốc người Anh, bà đã cùng chồng là một người công giáo tiếp tục thực hiện truyền thống từ thiện, thương người theo Kinh Thánh. Sau khi định cư tại Sydney, Caroline và gia đình đã thực hiện những công việc mà chính phủ thời đó bỏ qua. Đó là chăm sóc những di dân và tìm việc làm cho họ. Bà đã đưa các trẻ em nữ về cư ngụ trong nhà mình và đã tìm được nhiều việc làm cho họ. Bà ra tận bến tầu khi các chuyến tầu chở di dân cập bến Sydney và chẳng bao lâu gia đình bà trở thành biểu tượng của hy vọng. Họ gọi bà là “Bạn của những người di dân”. Mặc dầu bị các người theo các phe phái chống Công Giáo chỉ trích, bà và gia đình vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình. Bà xem thường những phần thưởng vật chất và tiếp tục cuộc sống khiêm tốn.

Hơn một thế kỷ sau khi qua đời, Caroline Chisholm vẫn được người đời nhắc đến về vai trò tiên tri của bà qua những việc làm tích cực và gian khổ. Là một người luôn đề cao phẩm giá của người phụ nữ, bà đã được ca tụng trong nhiều bài thơ, bài viết và ảnh hoạt hình. Nhiều ngôi trường trên nước Úc mang tên của bà. Tại Melbourne, trên đường Churchill, Braybrook, cũng có một ngôi trường mang tên Caroline Chisholm.

  1. Irene McCormarck (21 August 1938 – 21 May 1991)

Sinh ra tại Kununoppin, Tây Úc, Irene chơi những môn thể thao golf, tennis và khiêu vũ. Nội trú tại Trường Santa Maria tại Perth, vào lúc 15 tuổi, bà ước mong trở thành một vị nữ tu. Bà không biết rằng quyết định của mình đã đặt bà vào tầm ngắm của nhóm du kích Nam Úc thời gian 50 năm sau đó.

Irene McCormarck tham gia hội dòng Các Chị Em Thánh Joseph năm 1957 và làm cô giáo 30 năm sau đó. Sau đó bà tham gia vào công việc phục vụ người nghèo tại Nam Mỹ (South America). Công việc của một thừa sai Peru đã đưa đẩy bà tới vùng Huasahuasi thuộc vùng núi non dãy Andes, ở đó bà giúp cho các soeur người Peru phân phát thực phẩm cho ngườii nghèo.

Sau khi những tu sĩ công giáo vùng Huasahuasi bỏ chạy vì sự đe đoạ của những nhóm du kích Peru, Irene ở lại tiếp tục nhiệm vụ. Bà ở lại giúp đỡ người nghèo cho đến một ngày không lâu sau đó khi một nhóm du kích mang tên Sendero Luminoso kết án bà là phân phối những hàng hoá của người Mỹ mặc dầu bị ngăn cấm. Bà bị bắt nằm úp mặt xuống đất cách nhà thờ sáu mét. Bà là người đầu tiên trong năm người bị du kích Peru hành quyết hôm đó.

  1. Pope Francis

Đức Thánh Cha  thăm Quốc Hội Hoa Kỳ lần đầu tiên năm 2015. Ngài đã nói với Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về việc buôn bán ma tuý, di dân, và bảo vệ môi trường. Ngài cũng nói chuyện với Quốc Hội Hoa Kỳ tại Washington D.C.  và nhấn mạnh đến sự hoà hợp cũng như sự cần thiết phải cứu giúp những người tị nạn trên thế giới.

Xin trích dẫn lời Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói tại Quốc Hội Hoa Kỳ với thế giới đang xa lìa trách vụ tiên tri, ngôn sứ và vương đế tại thế giới trần tục của mình.

Đức thánh Cha nói,

“Tôi khuyến khích các vị lãnh đạo thế giới bỏ qua những tị hiềm bè phái và những lợi ích mang tính ý thức hệ để cùng nhau đi tìm và thi hành những gì tốt đẹp nhất cho nhân loại.”

Pope Francis.