Cầu Cho Việc Làm Chứng Về Tin Mừng Tại Á Châu

Trần Bá Nguyệt, 10-2017
  1. Á Châu: Vùng đất xuất phát của nhiều tôn giáo

Á Châu thường được gọi là cái nôi của nhiều tôn giáo: Phật Giáo (Buddhism), Thiên Chúa Giáo (Christianity), Khổng Giáo (Confucianism), Ấn Giáo (Hinduism), Islam (Hồi Giáo dòng Islam), Jainism (Ấn Giáo hệ Jainism), Judaism (Do Thái Giáo), Shintoism (Thần Giáo Nhật Bản), Sikhism (Ấn-Hồi Giáo), Taoism (Lão Giáo), Zoroastranism (Quốc Giáo của nhiều quốc gia vùng Ba tư). (Nguồn: Asian Religions.)

Đạo Islam là tôn giáo lớn nhất Á Châu với tổng số tín đồ hơn 1,1 tỷ người.

  1. Á Châu: cái nôi của nhiều tôn giáo lớn với những đặc thù riêng

Religions in Asia hay Asian Religions liệt kê một cái nhìn tổng lược về các Tôn Giáo tại Á châu. Có thể chia ra thành những ngành chính: (1) Các tôn giáo Dharmic, (2) Các tôn giáo vùng Đông Châu Á, (3) Các tôn giáo vùng Iran (Zoroastrianism), (4) Các tôn giáo Shamanism và Animism, (5) Các tôn giáo gốc Abraham (Abrahamic Religions). Ngoài ra còn phải kể đến những nước và nhóm người không theo một tôn giáo nào (Ir-religions).

2.1 Dharmic Religions

– Những tôn giáo theo hệ Ấn Độ Giáo này có mặt tại Đông Nam Á và các quốc gia Á Rập. Hệ phái này tin vào Dharma, Karma, và sự đầu thai hay hoá kiếp (Re-incarnation). Dharma là luật của thượng đế dựa trên những nguyên tắc  cơ bản của vũ trụ hay sự hiện hữu của cá nhân. Dharma tạo nên trách nhiệm của cá nhân được hoàn chỉnh bằng cách tuân theo luật của tạo hoá và phong tục tập quán.  Karma là cái nghiệp theo Ấn Giáo và Phật Giáo. Cái nghiệp này tạo ra bởi chính những hành vi của một con người và nó quyết định đến chuyện đầu thai sang kiếp khác của chính con người đó.

Chính những hành vi này tạo nên số phận và xác định kiếp sau (lành hay dữ) của một con người. Nghiệp là cái trói buộc con người. Thi hào Nguyễn Du nói, “Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Người theo hệ phái này rất sợ “khẩu nghiệp”. Chính vì thế mà một trong những điều cấm kỵ là “không được vọng ngữ” (nói dối, nói láo) vì mỗi lời mình nói ra sẽ tạo nên cái nghiệp chướng cho việc hoá kiếp sau này.

  • Đạo Hinduism hiện nay có mặt trên các vùng Bali, Nepal, Bangladesh, Singapore, Pakistan, và Sri Lanca.
  • Jainism: Tôn giáo có mặt tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Giáo lý Jainism dạy rằng linh hồn sẽ được giải phóng bằng những hiểu biết đúng đắn, một niềm tin đúng đắn, và một sự thực hành đúng đắn. Tín đồ Jainism được gọi là Jain hay Jaina.
  • Buddhism: Phật giáo. Tôn giáo lớn thứ ba tại Á Châu với 12 phần trăm số dân Châu Á. Phật Giáo hiện có mặt nhiều nhất tại Bhutan, Miến Điện, Lào, Mông Cổ, Thái Lan, Cam-bốt, Tây Tạng.

Đạo Phật, chủ trương từ bi hỷ xả. “Như Lai chỉ là người chỉ đường. Mỗi người phải tự tìm con đường để đi đến, không ai có thể đi thế cho ai được”. Đó là lời nói của Đức Phật. Đức Phật không phải là đấng thần linh ban cho ta sự thay đổi hoàn cảnh hay tình trạng khốn đốn của mình. Đức Phật nói rằng đừng chấp nhận bất cứ điều gì trong tín ngưỡng mù quáng. Hãy suy nghĩ, thẩm tra nó và để thấy nếu nó thật sự có ý nghĩa và hợp lý hay không. (Trích bài của TS Huệ Dân trên internet.)

Người tu hành Đạo Phật tuân theo ngũ giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Tuy nhiên không ép buộc mọi người phải giữ đúng như vậy.

Vọng ngữ là nói dối, nói láo. Lời nói không hợp với sự thật là “Vọng”. Lời nói làm cho người lãnh hội là “ngữ”. Vọng ngữ là giả dối, tự mình biết rõ điều ấy là không thật, nhưng vì muốn dối gạt, mê hoặc người  nên nói không chút nể sợ. Tuy thấy là dối gạt người khác, nhưng nhìn sâu vào trong cốt tuỷ là sự dối gạt chính mình. Lời nói không ngăn được khẩu nghiệp, con người mang cái nợ (cái nghiệp) vì chính lời nói của mình.

  • Sikhism: Tôn giáo lớn thứ năm tại Á Châu và lớn thứ ba tại Ấn Độ. Nhiều tín đồ thuộc vùng Punjab (Ấn-Hồi). Tại Trung Hoa có 18,2 %; tại Nhật Bản có 36,2%; Tại Taiwan, 35%; Macao 17%, Bắc Hàn 13,8%; Nepal 10,7%; Việt Nam 10%; Singapore 33%; Hongkong 15%; Nam Hàn 22,9%.

Sikh là tôn giáo độc thần tại Ấn Độ. Được thành lập vào năm 1500 bởi một hệ phái của Ấn Giáo (Hindu) mang ảnh hưởng của Hồi Giáo Islam. Đặc điểm  là không sùng bái thần tượng và đẳng cấp xã hội (Ấn Độ).

2.2 East Asian Religions (Những tôn giáo vùng Đông Á Châu)

  • Khổng giáo Confucianism: Do Khổng Phu Tử (550 – 478 B.C.) và những đồ đệ của Ngài lập nên. Khổng Giáo chủ trương lấy tu thân làm gốc. Mặc dầu chính Khổng Phu Tử không tự nhận mình là người sáng tạo mà chỉ nhận mình là người truyền tải đạo lý mà thôi. Trải qua nhiều thế hệ, tư tưởng Khổng Giáo đã ăn sâu trong nhiều tầng lớp người Trung Hoa với những tư tưởng về thiên văn học, về quản lý chính trị xã hội, về cơ cấu tổ chức xã hội và về việc tu thân của người quân tử (Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
  • Taoism: Triết học thần bí của người Trung Hoa theo truyền thuyết do Lão Tử (Laotzu) sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Lý thuyết này dạy con người tránh xa những bả vinh hoa trần thế và sống cuộc sống đơn giản. Sau này Đạo Phật gắn với Đạo Lão khuyên chúng sinh muốn sống lâu và thoát khỏi số kiếp trầm luân (để có thể sống an nhàn) bằng cách thực hiện một số những pháp thuật (magical means).
  • Chinese Folk Religion: một tôn giáo dân gian hợp nhiều niềm tin với nhau, bắt nguồn từ những hành vi thờ cúng của các bộ tộc xa xưa do các thày cúng shaman thường dùng phép thuật để chữa bệnh, trừ tà, kiểm soát những thần thánh ẩn dấu nơi nào đó. Một loại “tôn giáo” tin vào những thần linh trong thế giới vô hình, thường thấy xuất hiện ở các vùng Bắc Á Châu và Âu Châu xưa kia. Tôn giáo dân gian Trung Hoa này xuất hiện và kết hợp với  Lão Giáo, Phật Giáo và Khổng Giáo, tôn thờ tổ tiên và những thần linh trong thiên nhiên.
  • Shinto: [Kami-no-Michi], Thần đạo Nhật

Bản do hai vị sáng lập là Nihon Shoki và Kojiki vào thế kỷ thứ bảy và tám. Họ tin vào những truyền thuyết dân gian, những chuyện huyền bí, những anh hùng. Ngày nay Shinto thiết lập nhiều đền thờ các vị anh hùng (Shrines) và các đền thờ liệt sĩ chiến tranh trong các War Memorials.

  • Mugyo: Một thứ tôn giáo dân gian tại Korean do các vị thày cúng Shaman thực hiện. Có hai hệ phái: Hệ Muism (Đạo người Mu) và hệ Sinism (Đạo thờ các vị thần thánh). Muism thờ những Mudang (Nữ Thần) được coi như thần (Spirits) của thượng đế.
  • Vietnamese Folk Religion: 45,3 phần trăm người Việt tin theo tôn giáo dân gian này. Tôn giáo này tôn thờ tổ tiên trong các nhà thờ tổ hay dòng họ, tôn thờ những nhân vật lịch sử. Các hệ phụ thuộc gồm Đạo Mẫu, thờ các vị phụ nữ, Đạo Cao Đài một trong những tôn giáo bản địa kết hợp nhiều niềm tin khác nhau, Đạo Bửu Sơn, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

2.3 Iranian Religions: Đạo chính là Zoroastrianism. Đây là quốc giáo của các đế quốc vùng Vịnh Ba Tư. Ngày nay có mặt tại Ấn Độ và Iran. Năm 2004, có khoảng 124.000 cho đến 190.000 tín đồ tại Ấn (đẳng cấp Parsi) và Iran, 14.000 tại Mỹ, 2.577 tại Úc (Theo thống kê năm 2001 của PEW).

2.4 Shamanism & Animism: Nhiều người không coi đây là các tôn giáo. Shamanism tin vào các người làm pháp thuật magic qua các hành vi mê hoặc hay pháp thuật, phù phép để sai khiến các thần linh. Animism tin rằng thế giới vật chất này được điều khiển bởi các vị thần linh. Vì thế họ tin rằng mỗi hòn đá, mỗi gốc cây, mỗi ngọn núi hay dòng sông đều có các vị thần riêng của những nơi đó.

Abrahamic Religions: Tôn giáo dựa vào nguyển tổ là Ông Abraham. Gồm có:

  • Judaism: Đạo thờ độc thần của người Do Thái, dựa vào Cựu Ước và Talmud. Họ tin vào sự thực hành bác ái. Talmud là bộ sách gồm hai phần. Phần một là Mishnah (khoảng năm 200 AD) và theo truyền thống người Do Thái. Phần hai là Gemara.
  • Christianity: Cơ Đốc Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Gồm có khoảng 286 triệu người tại Á châu (theo thống kê PEW năm 2010). Tự Điển Britanica cho rằng có khoảng 364 triệu (thống kê 2014), tức là khoảng12,6 phần trăm toàn thể dân Châu Á.
  • Christianity tại Á Châu bao gồm: (1) Russian Orthodox (Chính Thống Giáo bên Liên Xô), (2) East Timor, (3) Armenia, (4) Nam Hàn (29,2% dân số Nam Hàn trong tổng số 44 triệu dân), (5) Lebanon (40% dân số của 3,4 triệu người), (6) Kazaktan (26% dân số của 17 triệu người), (7) Singapore (18,3 % dân số của 3 triệu người), (8) Kyrzyrstan (17% trong tổng số 4,4 triệu người).
  • Tại Nam Hàn, Đạo Công Giáo đã phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Số tín đồ đã tăng lên 70 phần trăm trong thời gian mười năm vừa qua. Cuối năm 2014, có 5.560.971 người theo Đạo Công Giáo, chiếm 10,6 phần trăm dân số Nam Hàn. Riêng trong năm 2014, Giáo Hội Hàn Quốc tăng 2,2 phần trăm với 98.000 người gia nhập đạo Công Giáo.
  • Các quốc giáo Đông Á theo TCG: (1) Philippines (84 triệu người TCG), (2) China (64 triệu TCG), (3) Ấn Độ (24 triệu TCG), (4) Indonesia (23 triệu TCG), (5) Nam Hàn (15 triệu TCG), (6) Việt Nam (8 triệu TCG), (7) Georgia (4,6 triệu),
  • (8) Armenia (3,2 triệu), (9) Mã Lai (2,6 triệu),
  • (10) Japan (2,5 triệu), (11) Pakistan (2,5 triệu),
  • (12) Syria (1,8 triệu), (13) Sri Lanca (1,5 triệu),
  • (14) Taiwan ( 1 triệu). – Vùng Trung Đông: Theo thống kê 2015, có 7 triệu người Hồi Giáo cải đạo thành người Thiên Chúa Giáo.
  • Baha’i Faith: Khởi phát vào thế kỷ thứ 19 tại Iran. Họ tin vào thuyết duy lành của loài người.
  • Islam: Hồi Giáo dòng Islam, tin và đấng Allah và tiên tri Mohamed.

2.5 Irreligion (Không tôn giáo)

Thống kê PEW năm 2012 cho biết: (1) Vô thần (Atheist): 21,2 % dân Á Châu gồm bắc Hàn, Nhật Bản, Hongkong, Trung Hoa. Tại Trung Hoa có 59% tuyên bố là vô thần.

Thống kê của cơ quan Dentsu cho biết tại (2) Việt Nam, 46 % tuyên bố vô thần; (3) Nhật Bản, 51 %.

Họ giữ đạo theo văn hoá, tại tâm, tự tìm trời của họ. Với chế độ Cộng  Sản, họ tự gọi là vô thần cho dễ sống.

3. Những tôn giáo chính tại Á Châu: Tại Á Châu năm tôn giáo chính là Christianity, Islam, Hinduism, Judaism, và Buddhism.

4. Sống đạo hay truyền bá Tin Mừng giữa những người anh em Á Châu

Tại Việt Nam, bước chân ra khỏi cửa là gặp người anh em vô thần. Tại Úc Châu, bước chân ra khỏi xe là gặp người đồng tính, người Hồi giáo, người Phật Giáo, … Giữ làm sao cho người khác bên cạnh không coi thường mình đã là một điều khó, nói chi đến chuyện Sống Tin Mừng (Mến Chúa, Yêu Người) để truyền giáo! Mở miệng ra là than trách đất trời, than trách mưa nắng, than nóng than lạnh. Ra khỏi nhà, ngay cả khi đến nhà thờ,  là khen là chê người khác ăn mặc không đúng cách, là khen là chê nhà người khác đẹp quá (Tham, sân si) hay xấu quá … Đi làm thì tìm cách hại nhau, nói xấu người cùng ngồi chung văn phòng làm việc với mình, khen chê áo quần, nước hoa, son phấn, … Không biết rằng mỗi lời từ trong con người nói ra là những gì hôi thối (như Kinh Thánh nói) hay mỗi lời nói vọng ngữ, chê bai, là một lần tạo nên nghiệp chướng (chất chứa khẩu nghiệp) và chính mình phải lãnh cái quả của cái nhân mình vừa mới gieo cho người anh em mình, nhưng thực sự là cái quả cho chính mình. Sống đầy đủ và dư dật được chính phủ lo cho mọi thứ (như trên đất Úc này) mà vẫn than nghèo, than khổ. Vậy thì thử so sánh với người anh em bên Việt Nam xem sao? Sao con người tham, sân, si quá đáng như thế.

4.1 Một quan niệm không còn hợp thời:

Từ thế kỷ 18, khi “Đạo Gia Tô” được truyền bá tại Á Châu, người ta hay cho rằng Đạo của ta là chánh, đạo của người là tà. Ta chánh, họ tà. Có nhiều khi còn miệt thị họ là “Đạo thờ bụt thần, ma quỷ!” Rồi nhiều thứ ngăn cấm đi ngược với văn hoá Á Châu (như cúng kiến, thắp nhang, vái trước bàn thờ tổ tiên, ăn đồ cúng, tham dự nghi thức tôn thờ của các tôn giáo khác – như đốt nhang trước Bàn Thờ Phật, Bàn Thờ Đức Khổng, Bàn Thờ Đức Thánh Trần, …) đều bị coi là có tội, là không được. 4.2 Cho mãi đến cuối thế kỷ 20 vừa qua đây, nhiều nhà thờ vẫn còn cấm “con chiên” tham dự những đám cưới của tôn giáo khác, rồi còn đòi “rút phép thông công” và phải đi xưng tội … Nhiều thứ lắm. Biết đến bao giờ những cái đầu cổ hủ đó mới được khai sáng để theo kịp với Công Đồng Vaticanô II, một Công Đồng đã kết thúc huy hoàng từ 1965, tức là  hơn nửa thế kỷ đã trôi qua với vô số thay đổi quan trọng. Quan niệm này cũng gắn liền với tật sùng bái cá nhân, coi các vị chức sắc tôn giáo như thần thánh. Một bà chủ tịch hội đồng giáo xứ còn tuyên bố, “Cha là con ngươi của Thiên Chúa” trong khi cha vẫn ăn uống, (có cả bia), hát Karaokê, chơi đùa, cởi trần chơi thể thao giữa sân với “các chú” như một người dân bình thường! Trông cũng trần tục quá đi chứ. Linh Mục Nguyễn Huy Lịch, OP, khi còn sinh tiền đã từng đề cập đến hiện tượng Krist-ky (sùng bái quá mức các cha) trong giáo hội Việt Nam.

4.3 Hội Nghị tại Fu Jen (Taiwan)

Năm 2006, một Hội Nghị Tôn Giáo được tổ chức tại Đại Học Công Giáo Fu Jen, Taiwan. Chủ đề của Hội Nghị là “Từ Phật Giáo, Khổng Giáo, đến Thiên Chúa Giáo”. Phái đoàn VN cầm đầu là Đức Tổng Kiệt. Trong thời gian ấy, Soeur Mai Thành, một Phật Tử trở thành nữ tu và Bề Trên Dòng Đức Bà đã có một bài tham luận lấy kinh nghiệm từ chính cuộc đời một Phật Tử chân chính của chính mình với những suy tư, cũng của chính mình, để chứng minh chủ đề của hội nghị và chứng minh con đường đi tìm chân lý của Soeur. Nếu bạn là một Phật Tử thuần thành, coi cuộc đời là bể khổ và cố sống theo lời Đức Phật dạy (tránh tham, sân, si và giữ cho tròn ngũ giới, nhất là đừng bao giờ “Vọng ngữ”) thì bạn đã là một người chân chính như Ông Abraham đã đi tìm trong KinhThánh. Chỉ còn một điều là bạn tin vào một đấng từ trời cao nữa mà thôi. Con đường mà Phật dạy là con đường giúp cho con người trở thành chân chính (Just) không khác gì con đường của con chiên chân thành của Chúa.

Cụ Khổng dạy con người lấy tu thân làm gốc, còn chuyện Ông Trời là chuyện nằm ngoài khả năng suy nghĩ của con người. Cụ Khổng nói, “Nếu như trong hiện thực cuộc sống vẫn chưa thực hiện tốt được bổn phận làm người, không nhận thức được mình, sống hồ đồ, sống uổng phí, thế thì khi người đó đến điểm chót của cuộc đời làm sao tỉnh táo được? Làm sao có thể giác ngộ, làm sao có thể nhận thức  được mặt kia của cuộc đời?” Một lần Khổng Tử nói với Tử Lộ, “Hàng ngày ta vẫn cầu khẩn thần linh đấy!” Khi con người sống hoàn chỉnh, sống đầy đủ lời thánh nhân giảng dạy thì đã có thần trong chính mình, trong “lòng thành của mình”.

Linh Mục Charlton, SJ, trong quyển sách Linh Đạo Giáo Dân (The Spirituality of Lay People)  đã chẳng từng gọi các “con chiên đến dự lễ trong nhà thờ là các vị Thánh” đó sao! Ít nhất thì khi ta đến cầu nguyện và sống đạo đúng theo lời Chúa dạy là ta đã là một vị thánh, đã xứng đáng vào nước hằng sống với các thánh rồi.  Nhưng việc gì xảy ra ngoài thánh đường, trong lời nói và việc làm của mình với anh em đồng loại? Liệu ta đã thực hành được bao nhiêu phần trăm lời Chúa dạy. “Chớ giết người, chớ làm sự dâm dục, Chớ lấy của người, Chớ làm chứng dối, Chớ muốn vợ chồng người, Chớ tham của người.” Đọc ra rả mỗi chúa nhật Thương Linh Hồn Bảy Mối (“Lấy lời lành khuyên người; Mở dạy kẻ mê muội; An ủi kẻ âu lo; Răn bảo kẻ có tội; Tha kẻ khinh ghét ta; Nhịn kẻ mất lòng ta; Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.”) Tự xét mình xem đã làm được bao nhiêu phần trăm. Nó chửi ta hả? Mày chết! Tao sẽ lôi cả tông ti họ hàng bảy mươi đời của mày đến tận cùng để mà chửi! Không ưa ai thì thay vì dùng miệng lưỡi để “Rao truyền Lời Chúa”lại dùng miệng lưỡi ấy để nói xấu, mạ lỵ, vu khống, đổi trắng thay đen, thêu dệt chuyện chẳng chứng minh được, … Giữ đúng Mười Điều Răn, Mười Bốn Mối PhúcThật phải chăng đó không phải là những việc làm của các thánh? So với ngũ giới của Đạo Phật và luật tu thân của Đạo Khổng thì có khác nhau là mấy! Từ bỏ “tham lam” (muốn nhiều, không biết chán, ăn một chén chưa đã, còn gói một túi mang về trước đã; thấy người có xe đẹp, nhà đẹp, áo đẹp thì ghen tức, rồi rầy rà con cái không tạo được ngôi nhà to, đẹp như người ta, … chẳng bao giờ vừa ý mình nên “đời luôn luôn là bể khổ”). Từ bỏ “Sân” (hay gây gỗ, giận dữ, sấn sổ, muốn hơn người, …)

Từ bỏ “Si” (Say mê tiền tài, danh vọng, làm giàu, không biết chán, cuồng si, mê mệt bả vinh hoa, phú quý, …) Giã từ tham sân si để cuộc đời bình thản, không tự chuốc lấy bể khổ cho chính mình, tránh vọng ngữ để khỏi tạo nên nghiệp chướng cho chính mình. Có khác gì “Cải Tội Bảy Mối và Tám Mối Phúc Thật” của ta! Hãy thực hành. Đừng đọc ra rả mà không làm được một phần trăm nào! Một vị linh mục tại Úc Châu này có lần đã tâm sự, “Anh ta – một người công giáo – đi tu đấy chứ! Nhưng anh ta chẳng giữ được một chút gì những điều Chúa dạy!” Đã ăn cơm nhà Chúa rồi mà còn sống (đầy tham, sân, si) như vậy đấy!

4.4  Cầu nguyện cho việc làm chứng về Tin Mừng thật không phải dễ.

Chúng ta đang sống giữa một xã hội chủ trương tục hoá, chủ trương Euthanasia (chết theo ý muốn), chủ trương hôn nhân đồng tính. Chúng ta đang sống trong một xã hội người bóc lột người bằng trăm phương, nghìn cách. Chúng ta đang sống trong một xã hội mạnh được yếu thua, người ta dành thì giờ không phải để giúp nhau mà tìm cách hãm hại lẫn nhau, ích kỷ tột cùng, bóc lột lẫn nhau. Chúng ta đang sống trong một xã hội mà luật pháp thế gian không được tôn trọng, luật trời bị bỏ qua, gia đình ly tán, không ai muốn chu toàn trách nhiệm với người bên cạnh, một xã hội con người nhìn nhau bằng “con mắt mang hình viên đạn”! Người mang Tin Mừng đi vào xã hội như những con cắc kè, đổi màu theo khung cảnh xã hội nhanh hơn cả xã hội … (theo lý luận) để có thể tồn tại và sống còn như những người khác chung quanh. Làm sao để biến cải được xã hội, làm sao để “là ngọn đèn được thắp trên bục cao cho ánh sáng chan hoà”, làm sao để là “men trong bột”. Không phải dễ, chắc chắn như vậy. Và như vậy thì làm sao đáp ứng lời kêu gọi của Chúa, “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì thiếu!”

Kết luận

Đức Phanxicô, ngày 18-3-2017, đã nói, “Thà làm một tên vô thần còn tốt hơn là một kẻ đã và đang sống như nhiều  tín hữu công giáo đang sống một cuộc sống đầy tai tiếng.” Ngài nói tiếp, “Thật là một gương xấu khi nói một đàng, làm một nẻo. Người công giáo mà như thế thì thà là một tên vô thần còn tốt hơn. Đức Thánh Cha cũng đã than vãn về “các giáo dân đã trở thành những con vẹt khi họ tỏ ra nhuần nhuyễn, tha thiết, khoan nhân trong lời cầu nguyện, nhưng lại không làm việc phục vụ cho tốt”. Đức Phanxicô nói tiếp, “Đến ngày chót – vì tất cả chúng ta sẽ có một ngày đó – Vào ngày đó, Thiên Chúa sẽ hỏi chúng ta điều gì? Có phải Ngài sẽ hỏi, ‘Các ngươi đã nói gì về ta?’ – Không, Ngài không hỏi như thế, nhưng Ngài sẽ hỏi về những việc mà chúng ta đã làm.”

Muốn làm chứng cho Tin Mừng thì trước hết phải sống một cuộc sống không đầy tai tiếng giữa thế gian trần tục này.

Ngày 28-8-2017, Vatican thông báo, ĐTC Francis sẽ thăm viếng mục vụ tại Myanmar (Miến Điện)  từ 27 đến 30-11 và Bangladesh từ 30-11 đến 2- 12- 2017. Miến điện và Bangladesh là hai quốc gia theo Phật Giáo. Nhưng những cuộc bách hại người anh em Hồi Giáo Rohingya đang làm xấu đi vai trò người lãnh giải Nobel Hoà Bình năm 1991 của Miến: Bà Aung San Suu Kyi. Một cuộc diệt chủng đang diễn ra tại Miến, một quốc gia Phật Giáo với đạo lý từ bi hỷ xả. Cuộc thanh trừng này có liên quan đến Bangladesh. Chính phủ Miến từ lâu đã từ chối không chấp nhận hơn một triệu người Rohingya tại vùng Rakhine, sát nách Bangladesh. Rakhine là tiểu bang nghèo nhất Miến Điện và từ lâu người Hồi Giáo này đã bị từ chối quyền bầu cử, cấm không đi lại. Năm 2012, Human Right Watch đã thống kê những vụ bắn giết trẻ em vô tội Hồi Giáo tại Rakhine, ngăn cấm các đoàn cứu trợ và bỏ tù hàng ngàn người. Mục đích để trục xuất người Rohingya ra khỏi đất Miến. Bà Aung San Suu Kyi đã từ bỏ người anh  em Rohingya. Nhưng Giáo Hoàng Pope Francis (theo nhận định của Tạp Chí Tìme (Oct 2, 2017) là người đã thường xuyên đứng lên bảo vệ người Rohingya và người Bangladesh (Pope Francis has regularly defended the Rohingya by name). Điều đáng nói là Vatican chỉ vừa mới thiết lập bang giao với Myanmar cách đây bốn tháng (June 2017). Ngài đến để đem Tin Mừng và an bình đến những người cần an bình nhất tại Á Châu.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.