CẦU CHO VIỆC TRUYỀN ĐẠT ĐỨC TIN

Trần Bá Nguyệt. 12-2019

XIN CHO NHỮNG NGƯỜI DẤN THÂN PHỤC VỤ BIẾT TÌM NGÔN NGỮ THÍCH HỢP THỜI NAY TRONG KHI ĐỐI THOẠI VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HOÁ

1.            Ai là “những người dấn thân phục vụ”?

  • Các missionaries (nhà truyền giáo) là điều dĩ nhiên
  • Và những giáo dân, những người đã chịu phép thanh tầy

Một ngày kia, một thanh niên “tân tòng” đặt câu hỏi với tại hạ: Ông thày dạy giáo lý cho chúng tôi nói rằng thời Ông No-e chuẩn bị đóng tàu chờ nạn Hồng Thuỷ theo lời cảnh báo của Thiên Chúa, Ô No-e mang lên tàu mỗi loài động vật một cặp, một con đực và một con cái, và ông thày giải thích là vì lúc đó người ta chưa biết ăn thịt các loài động vật!!!

Sự thật ra sao?

Dấn thân phục vụ thì tốt, nhưng trước hết phải tìm học những tường thuật trong Kinh Thánh. Trả

lời như trên là “trất wuấck!” không hiểu rõ Kinh Thánh. Đại Hồng Thuỷ sẽ giết hết mọi loài động vật và Thiên Chúa muốn Ông No-e giữ lại mỗi loài một cặp để sinh sản sau khi nước đã rút và cuộc sống trở lại bình thường. Không có chuyện “hồi đó chưa biết ăn thịt!!!”

Có “thày” còn dõng dạc tuyên bố “Công Đồng Vatican II  “giải phóng phụ nữ”, nên phụ nữ được phép làm mọi chuyện phụng tự, kể cả chuyện đi tới đi lui khắp nơi quanh bàn thánh lúc đang lễ, còn Vatican I cấm phụ nữ làm việc phụng tự!!!

Lịch sử “Các Công Đồng Chung và Thượng Hội Đồng trong Lịch Sử Giáo Hội” ghi trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam – Niên Giám 2004, trang 93, ghi rõ: “Công Đồng Vaticano I diễn ra từ năm 1869 đến năm 1870. Giáo Hoàng Pius IX triệu tập. Có 747 giám mục tham dự và nhiều giáo sĩ trong bốn khoá họp từ 08-12-1869 đến 01-07 1870. Công Đồng lên án thuyết duy lý và tuyên bố tính chất khả ngộ của giáo hoàng.”

Vaticano I là công đồng thứ 20 của Giáo Hội. Vaticano II là công đồng thứ 21 của Giáo Hội. Vaticano II diễn ra thời Giáo Hoàng Joan XXIII và Phaolô VI từ năm 1962 đến năm 1965, với sự tham dự của 2.860 nghị phụ. (Nguồn: Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Thánh Pius X, Thánh Công Đồng Vaticano II, Đà lạt, 1972, trang 1-56.)Số nghị phụ ở mỗi khoá họp thay đổi từ 2.150 đến 2.500 vị. Công đồng Vaticano II đã soạn thảo và công bố 4 hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn nhằm đổi mới toàn diện đời sống Giáo Hội Công Giáo và hướng tới sự hợp nhất Kitô Giáo.

Đó là hai câu chuyện trong giới giáo dân, những người tình nguyện “dạy giáo lý tân tòng”. Nhưng có những chuyện không phải xuất phát từ giáo dân (thành phần coi như những người ít học hiểu về Kinh Thánh hay các văn kiện giáo hội). Có một vị được mặc áo chùng đen tuyên bố: “Giáo Hội sai lầm khi tổ chức Vaticano II để giáo dân “chửi linh mục”!  Dĩ nhiên đây là một vị chịu chức ở Việt Nam, trong một nền giáo dục Việt Nam và một giáo hội coi các Ngài như thần thánh. Vị linh mục ấy vẫn còn sống, còn trẻ và không biết Ngài có đọc qua những văn kiện Công Đồng mà các nghị phụ đã tốn công trình bày, thảo luận, gọt dũa hay không. Có văn kiện chỉ được ký ban hành vào đúng này bế mạc Công Đồng – Đó là Văn Kiện mang tên Sắc Lệnh về Hoạt Động Tông Đồ Giáo Dân – Apostolicam Actuositatem ký ngày 18 tháng 11 năm 1965.)

  • Những câu chuyện nho nhỏ trên đây cho biết mọi giáo dân (nhất là những người dạy dỗ người khác và đưa họ vào đạo phải có một kiến thức tối thiểu về đạo để thực hiện việc “truyền giáo” cho có hiệu quả. Y như một người dẫn đường biết mình phải đi đến đâu, phải tìm hiểu hành trình, mục tiêu và mức đến để không dẫn người khác vào con đường hiểu sai về “ĐẠO” bởi vì “đạo” là “Đường” . Dẫn người khác đi sai đường là điều không thể chấp nhận được.
  • Có bao nhiêu người đảm nhận nhiệm vụ “khai phá tấm lòng người khác” mà biết rõ trách nhiệm nặng nề của mình?
  • Đức Bênêdictô XV trong Thông Điệp Maximum Illud (1919) đã nhắn nhủ: “Trước khi bắt đầu nhiệm vụ Tông Đồ của mình, người “thừa sai” đã  phải hết sức chăm lo chuẩn bị cho công việc đó, mặc dù người ta nghe nói rằng không cần có nhiều kiến thức đến thế để đi rao giảng Chúa Kitô cho những dân tộc lạc hậu nhất nhân loại. Quả thế, không có gì tranh cãi rằng việc hoán cải các linh hồn đòi hỏi uy tín của các nhân đức còn nhiều hơn uy tín của con người. Tuy nhiên người thừa sai không được  trang bị một sự tiếp tế tốt về đạo lý, nếu có thể nói, sẽ không thể tham vấn khi người ta hỏi và ngài phải trả lời cho những vấn nạn đôi khi rất khó. Vả chăng, càng có học thức thì uy tín của ngài càng lớn lên, nhất là khi ngài làm việc giữa một dân tộc mà vinh dự và sự kính trọng đến với những ai đưa ra những dấu hiệu có văn hoá.” (Nguồn: Tự Điển Truyền Giáo, Bản dịch LM Ngô Quang Tuyên, ORBIS Books, Maryknoll, New York.)
  • Người giáo dân dạy giáo lý cũng là làm nhiệm vụ thừa sai (Missionaries) vì họ có nhiệm vụ “dạy cho người khác biết” một chân trời mới, một chân lý mới (Chân lý của Chúa Kitô), một nền văn hoá mới.  Thật là thiếu sót khi mình dạy cho người khác chân lý của Chúa “Mến Chúa, yêu người” mà cuộc sống của mình đầy tham-sân-si, ăn gian, nói dối. lấy của công làm của riêng mình hoặc phục vụ cho mục tiêu của riêng mình, cho tiếng tăm của riêng mình. Một cụ bà ăn tiền trợ cấp chính phủ nói: “Ấy cô ấy xin tiền để giúp cho các cha, các thày ở Việt Nam thì tôi cho thôi.” Thế bác có biết cô ấy giúp cho ai không, và có lời cám ơn nào không? “Ấy xin thì tôi cho chứ tôi có  thấy cám ơn, cám huệ gì đâu?”

Không rõ thì phải học hỏi và không biết chắc thì nên im lặng. (Khuyết danh)

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Loan báo tin mừng là nhiệm vụ truyền giáo của Giáo Hội, không phải của một vài người, không phải là nhiệm vụ của một  mình tôi, một mình anh, mà là nhiệm vụ của tất cả chúng ta.”

2. Thế nào là “biết tìm ngôn ngữ thích hợp thời nay”

  • Thời Chúa Giêsu: Parable

Thời Chúa Giêsu ra đời giảng đạo, Người cũng dùng những câu chuyện, những dụ ngôn để minh hoạ cho chân lý đạo. “Có khoảng trên 30 dụ ngôn của Chúa Giêsu được ghi lại trong sách Tin Mừng (Gospel). Từ dụ ngôn cây vả (Barren Fig Tree) đến dụ ngôn “Cỏ lùng” (Weeds). (Nguồn: Tự Điển Tôn Giáo Anh-Việt, Nguyễn Đình Diễn, trang 481.) Mỗi dụ ngôn dạy ta nhiều điều và mổ xẻ góc nào cũng có bài để học sống đạo.

  • Cha Ngô Tôn Huấn: Ngôn ngữ người nông dân Cà mâu.

Cha Ngô Tôn Huấn, làm việc ở Cà Mâu đã dùng dụ ngôn “Người Cha nhân hậu, và người con hoàng đàng” bằng những ngôn từ vùng nông thôn đồng ruộng Miền Nam với “Ông Bảy”, anh hai , anh ba … trong khung cảnh và xưng hô bằng ngôn từ Miền Nam Việt Nam chính hiệu. 

Khi trả lời câu hỏi: “Có cần phải đi bệnh viện hay uống thuốc khi đau bệnh, hay chỉ cần cầu xin Chúa chữa bệnh cho mình?” Cha đã trả lời: “Trông cậy Chúa là đúng nhưng bệnh mà nằm một chỗ rồi xin Chúa chữa bệnh  cho là TIN CẬY MỘT CÁCH MÙ QUÁNG. “Đây chính  là tội mà quỷ đã cám dỗ Chúa khi Người ăn chay cầu nguyện trong rừng vắng”. “Không phải cứ kêu van ‘Lạy Chúa’, ‘Lạy Chúa’ mà được vào nước thiên đàng” (Mt 7,21). 

Ấy vậy mà có nhiều người có đạo, chăm chỉ lần hạt, siêng năng đi lễ, và tham gia cả lố hội đoàn, đếm hàng chục lần tràng hạt một ngày để báo cáo và tường trình để chỉ mong khi chết có nhiều hội đoàn đến phân ưu, cầu kinh, viếng nhà quàn, lạy tới lạy lui xì xụp. Còn cuộc sống và giao lưu với người khác, bạn bè, con cháu … thì là việc thứ yếu.

Trong Hội nghị Gia Đình Thế Giới lần thứ Ba tổ chức tại Manila, một em bé lớp chin đại diện cho con cháu đã kết luận việc truyền giáo của các em còn đi học là “học thật tốt, chơi thật tốt, làm bài thật tốt, giao thiệp với bạn bè thật tốt, làm tròn bổn phận con cái thật tốt, …” với các em, đó là truyền giáo theo tuổi của mình rồi.  

  • Ngôn ngữ bằng hành động: Sống Lời Chúa trong lời nói việc làm

Hồi còn dạy học ở Việt Nam, mỗi lần gần đến Tết là học sinh, sinh viên hay chúc thày cô “Vạn sự như ý”. Anh  em thày giáo chúng tôi thường thêm vào một chữ và câu chúc trở thành “Vạn sự như ý Chúa”. Mọi người cười xoà, riết rồi câu chúc đó trở thành thường xuyên trên cửa miệng mọi người, thày cũng như trò, công giáo cũng như không công giáo..

Ông Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, một lần hỏi thăm các nữ tu làm việc trong các bệnh viện về lương bổng, cuộc sống, “Sao các sơ không hỏi han gì hết về chuyện lương bổng, rồi lấy gì mà sống?” Các Sơ trả lời chúng tôi sống không phải vì lương bổng. Chúng tôi không đòi hỏi lương cao nhưng lương thế này cũng đủ sống. Mục đích của chúng tôi là đem yêu thương đến mọi người. Đó là phần thưởng quý giá nhất của người làm bác ái.” Ngược lại với nhận xét của một nhà báo nước ngoài khi hỏi về công việc của một cán bộ “nhà nước”. Sau khi phỏng vấn, nhà báo nước ngoài nhận xét về ông cán bộ: “Câu hỏi về lương bổng của ông và những ưu đãi của ông là câu hỏi ông giám đốc ‘nhà nước’ trả lời đầy đủ, chi tiết và gẫy gọn nhất. Các câu hỏi khác ông đều phải quay sang hỏi trợ lý!”

  • Không phải ngôn ngữ của các ông bà quản giáo xa xưa

Thế hệ Generation Z ngày nay, nhất là thế hệ các cháu trên đất Úc hoàn toàn khác với thế hệ ông bà ngày xưa. Các cụ than phiền “con cháu chẳng chịu đọc kinh ra rả như các cụ, không chịu đi thưa về trình. Có gia  đình các cháu còn không chịu đến nhà thờ nữa. Một vị hiệu trưởng nói: “Các Ông bà cứ việc đến trườngxem các em học gì, được dạy dỗ ra sao … ắt se thông cảm hơn cho các cháu. Các cháu được dạy phải “có ý kiến” đối vời những gì các cháu không đồng ý. Các cháu được dạy phải lên tiếng khi bị bully trong trường hay tại gia đình. Ngôn ngữ của các cháu bây giờ là I-phone, Ipad, là internet. Các cháu không muốn bị bắt buộc phải “ăn, nói như ông bà”. Không chịu thì các cháu không thèm nói tiếng Việt nữa. Ông bà sẽ “bó tay”. Cái khó của thế hệ ông bà là làm sao “win the heart” (chiếm được cảm tình các cháu) tức là sử dụng ngôn ngữ và văn hoá thời các cháu, trở nên như các cháu để có sự thông cảm. Không thể bắt các cháu ăn, nói như các cụ ông cụ bà của 60 hay 70 năm trước.

Ngay trên những trang Dân Chúa Úc Châu mấy số gần đây, nếu đọc giả chịu khó đọc những bài “tâm sự” cụ thể của Cha Nguyễn Trung Tây thì mới thấy (một phần) chuyện truyền giáo khó khăn và phức tạp dường nào.

Một linh mục tại Úc than phiền: ông bà cứ bắt các cháu đi nhà thờ như ông bà, nhất là bắt các cháu vào các hội đoàn “đọc kinh sáng trưa chiều tối” như ông bà mà cuộc sống ông bà tràn đầy tham lam, chia rẽ, xôi thịt, nịnh hót, nói xấu, ghen tức với nhau, … thì đọc kinh có ích gì và nhất là có “làm gương” cho các cháu hay không. Và cha kết luận: đọc Lời Chúa, nhưng chẳng thi hành Lời Chúa chút nào!

  • “Đối thoại với những vấn đề văn hoá”

Hỏi chuyện một thanh niên mới trở lại đạo Công Giáo trong chuyến xe cùng đi Hội Nghị Gia Đình Thế Giới tại Roma năm 2000, anh cho biết trước khi gia nhập công giáo, anh là một cán bộ cộng sản. Anh nói: điều mà người CS chê ghét người công giáo là tại sao lại tôn thờ một người ngoại quốc. Cái Ông Giêsu đó. tại sao không tôn thờ một người Việt. Anh tìm hiểu và anh thấy cái Ông Giêsu có một cuộc sống nghèo hèn như anh, sinh ra không có nhà, lại đi lang thang mà chữa đủ các thứ bệnh. Sao không giống mấy ông “cán bộ nhà ta” sống một cuộc đời tràn ngập dối trá, gian tham. Rồi anh thấy Ông Giêsu dậy mọi người phải yêu thương nhau. Lại một điều nữa không giống “nhời dạy của Bác và Đảng”. Với Bác và Đảng ăn con gà cũng sợ bị báo cáo. Xem sách tây phương thì bị coi là thành phần tiểu tư sản. Đọc truyện Kiều thì bị gọi là xem dâm thư. Trong một thế giới mà xung quanh ai cũng vỗ ngực xưng mình là “vô tôn giáo” lấy chỗ nào cho tinh thần Kitô chiếm chỗ. Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình sau ngày 30-4-1975 đã nói với các người anh em Đông Âu đã từng thoát cảnh cộng sản là “hãy giúp chúng tôi sử dụng ngôn từ Mác-xít” để truyền đạo tại Việt Nam hậu 75.

Cũng thật khó vì nên văn hoá sau 75 ấy đặt nền tảng trên sự nói dối, hận thù và sống giả tạo. Không ai dám nói lên những điều mình nghĩ. Chẳng lẽ cũng dùng ngôn từ “nói một đàng hiểu một nẻo” hay ngôn từ dối trá của cán bộ mà người dân thường hay mỉa mai “nói dzậy mà không phải dzậy!”

  • Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin “Instructiovicariorum apostolicorumet sinarumTonchini et Cocicinoe proficiscentium” 1659 (Hai ngàn năm phúc âm hoá Lịch sử bành trướng Kitô Giáo), Tournai/Paris, Desclée/Begédis, 1992, trang 168.

Cha Ngô Quang Tuyên dịch.) ghi chú như sau:

“Đừng tốn một nhiệt tình nào, đừng đưa ra một luận cứ nào để thuyết phục những dân tộc ấy (Trung Hoa và Đông Nam Á) thay đổi những lễ nghi, tập quán và phong tục  của họ, trừ phi chúng hiển nhiên nghịch với tôn giáo và luân lý. Có gì phi lý hơn là chuyển tải nước Pháp, nước Tây Ban Nha, nước Ý hay một nước nào khác ở Châu Âu sang nơi những người Trung Hoa? An hem đừng đưa vào nơi họ đất nước của chúng ta, nhưng là niềm tin, cái niềm tin vốn không bác bỏ cũng không làm tổn thương  các lễ nghi cũng như các tục lệ của dân tộc nào, miễn là chúng không rất đáng ghê tởm, nhưng trái lại muốn người ta giữ chúng và bảo vệ chúng. Có thể nói là đã ghi khắc trong bản tính của tất cả mỗi người sự quý trọng, yêu mến, và đặt trên hết mọi sự ở đời này những truyền thống của đất nước họ và chính đất nước đó. Vì vậy phải chăng không có lý do xa cách và hận thù nào mạnh hơn  là đem đến những thay đổi vào các tập quán phù hợp với dân tộc. Anh em đừng bao giờ đối chiếu các tục lệ của những dân tộc này với các tục lệ của Châu Âu; nhưng trái lại, anh  em hãy vồn vã tập làm quen với chúng. Hãy cảm phục những gì đáng ca tụng . Nếu không nên ca ngợi ầm ĩ như những kẻ nịnh hót, thì anh  em hãy thận trọng đừng đưa ra lời phê phán, hoặc trong mọi trường hợp đừng lên án gì cả một cách dại dột hoặc thái quá. Còn những tục lệ hoàn toàn xấu, thì phải lay chuyển chúng bằng những cái lắc đầu và những cái lặng thinh hơn là lời nói …”

  • Cha Alexandre de Rhodes: Sử dụng ngôn ngữ của người VN: Chữ quốc ngữ

Nhà truyền giáo  Alexandre de Rhodes đã đến Việt Nam và để người Việt hiểu được Lời Chúa, Cha Đắc Lộ đã nói chuyện với neuời Việt bằng chính ngôn ngữ của người Việt. Cha đã dạy ngôn ngữ ấy cho chính người Việt và ngôn ngữ ấy đã trở thành tiếng nói của người Việt cho đến ngày nay.

  • Kết luận

“Truyền giáo là một cố gắng có tổ chức và được lên kế hoạch chặt chẽ để Loan Truyền Lời Chúa đến những người sẵn sàng bỏ ý nghĩ cũ, quan điểm cũ, niềm tin cũ và chấp nhận chuyển đổi sang một nhận thức mới về cuộc đời, về suy nghĩ , lối sống, tư duy và giao tế.”

(Nguồn: Mission, Preaching, orPredicant.)

 Một sự hoán đổi hoàn toàn cái cũ bằng cái mới. Chính vì thế, nhiều người không chịu gọi mình là “tân tòng”, nhưng muốn được gọi mình là “cải đạo”, bỏ đạo cũ mà theo đạo mới (converted) bởi vì họ đã từ bỏ niềm tin cũ để chấp nhận một niềm tin mới ngõ hầu có được nhận thức mới dẫn đường cho cuộc sống mới của họ.

Trần Bá Nguyệt, 12-2019