Chúa Đã Sống Lại

Hàng năm, Giáo Hội mừng đại lễ Chúa Phục Sinh để nhắc lại Mầu Nhiệm cứu chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa. Biến cố cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô đã xảy ra trên trần gian gần 2000 năm qua. Hy tế độc nhất của Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc nhân loại thoát khỏi tội lỗi và sự chết, ngày nay hy tế ấy vẫn tiếp diễn và hiện tại hóa trên bàn thờ hy tế khi linh mục cử hành thánh lễ.

Là người kitô hữu, ai cũng biết Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh chủa Chúa mang một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đời chúng ta. Vậy thử hỏi tôi và bạn đã làm gì để chuẩn bị và đón mừng mừng Mầu Nhiệm Phục Sinh? Việc Chúa Giêsu Kitô chết đi và sống lại có ảnh hưởng gì trên cuộc đời chúng ta? Hay là chúng ta chỉ mừng với hình thức bên ngoài cho đủ các nghi lễ mà quên phần chính là chúng ta cùng chết cho tội lỗi của mình và cùng Phục Sinh trong Chúa Kitô? Trong bài viết này, người viết xin chia sẻ hai điều: Nhận biết Đức Kitô Phục Sinh, đón nhận ơn Phục Sinh và làm chứng cho Chúa.

NHẬN BIẾT ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

Trong điểm này, người viết xin chia sẻ về ba nhân vật, trước hết là bà Maria Macđala. “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20,1). Bà Maria Macđala là người được Chúa Giêsu trừ cho khỏi bảy quỷ. Trước kia bà là người tội lỗi và phải sống trong sự khống chế của ma quỷ, nhưng nay bà đã được cải hóa nhờ tình thương và sự tha thứ của Chúa Giêsu. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, (đối với chúng ta hiện nay thì đó là ngày Chúa nhật) bà Maria Macđala đem thuốc thơm đến mồ để ướp xác Chúa lại. Khi đến nơi, bà thấy ngôi mộ trống trơn. Cửa đã được đẩy qua một bên và xác Chúa Giêsu không còn ở trong đó nữa, vì thế bà vội vã chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Đối với  Maria Macđala, khi không thấy xác Chúa bà không nghĩ là Chúa đã Phục Sinh mà là bị ai đó lấy đi, bà vẫn chưa nhận ra Chúa Phục Sinh.

Đối với Phêrô, ông vẫn chưa hoàng hồn sau những lần chối Chúa. Ông chối Chúa vì sợ bị liên lụy đến bản thân. Ông chối Chúa vì tính chủ quan, ông đã thề sống thề chết là sẽ không bỏ Chúa nhưng ông lại chối Chúa trước mặt mọi người. Ông là tông đồ trưởng, nên hành động chối Chúa làm cho ông không dám đối diện với sự thật trong lúc này. Tâm trạng của Phêrô lúc này thật rối bời, vì thế khi chạy đến mồ Chúa và thấy ngôi mộ trống ông cũng chưa nhận ra Chúa Phục Sinh.

Thánh Gioan đã tự xưng mình là môn đệ Chúa yêu, và ông cũng biết rằng Chúa rất thương ông. Tình yêu của Gioan được thể hiện trong suốt cuộc khổ nạn của Chúa, và dưới chân Thánh Giá ông đã nhận Đức Maria làm mẹ theo lời của Chúa Giêsu. Kinh nghiệm cho thấy khi yêu thương ai, chúng ta luôn nghĩ đến người ấy, luôn cảm thấy sự hiện diện của người ấy trong cuộc đời mình, cho dù hoàn cảnh bắt buộc phải xa cách nhau. Với cái nhìn đó, Gioan đã dễ dàng nhận ra sự kiện Chúa đã sống lại: Ông đã thấy và ông đã tin.

Từ đó, chúng ta có thể kết luận:  tình yêu dẫn đến niềm tin. Những lo lắng như lo lắng của Maria Macđala đi tìm xác chết không vượt lên được. Những suy nghĩ bối rối của Phêrô cũng chẳng đưa tới đâu, chỉ có tình yêu của Gioan mới dẫn ông mau chóng tới niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

Trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta chỉ có thể cảm thấy sự hiện diện của Chúa và chỉ có thể hiểu được mọi biến cố trong cuộc đời mình, nếu chúng ta noi gương Gioan, để cho lòng trí mình luôn tiến triển trên con đường tình yêu của Chúa.[1]

ĐÓN NHẬN ƠN PHỤC SINH VÀ LÀM CHỨNG CHO CHÚA

Chúa Kitô Phục Sinh và đã hiện ra nhiều lần với các tông đồ để sai các ông đi loan báo Tin Mừng Ngài để muôn dân được hưởng ơn cứu độ. Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15) Từ ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, các tông đồ đã được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần và bắt đầu đi loan báo Tin Mừng  cách hăng say và nhiệt thành. Tất cả các môn đệ hèn yếu trở nên mạnh mẻ. Tôma cứng lòng tin trở nên tin tưởng, hai môn đệ Emmau buồn sầu trở nên phấn khởi vui tươi, những ích kỷ nhỏ nhen chỉ biết lo cho quyền lợi bản thân trở nên quảng đại hiến thân cho Nước Chúa, từ chia rẽ tranh dành địa vị trở nên đoàn kết yêu thương, từ khép kín thu mình ở một nơi trở nên cởi mở đi đến với mọi người. Từ ngôi mộ trống các môn đệ đã thấy, các ngài đã nhớ lời Chúa dạy và các ngài đã tin. Cũng từ niềm tin ấy các ngài đã dẫn đến hành động.

Khi nhìn vào ngôi mộ, các ngài đã không thấy gì, vì là ngôi mộ trống, nhưng thật ra các ngài đã thấy tất cả. Thiết nghĩ, nếu Chúa Giêsu không sống lại có nghĩa là Ngài vẫn còn ở trong mộ và vẫn còn trong thế giới kẻ chết. Ngôi mộ trống là khơi nguồn của niềm hy vọng, hy vọng vào một tương lai, một thế giới mới, nơi đó chỉ có tình yêu, lòng bác ái và sự hy sinh cho nhau. Các tông đồ đã vượt qua nỗi sợ hãi trong quá khứ đầy đau thương và hèn nhát mà vươn lên gắng bó với Đức Kitô đang sống và hoạt động.

Các ngài đã thấy vì đã có thái độ khiêm nhường. Khi nhìn vào trong mộ, các ngài đã không thấy Chúa, nhưng các ngài đã thấy chính mình, càng cúi sâu xuống thì càng thấy rõ lòng mình. Chìm sâu xuống tới đáy đại dương của lòng mình, các ngài thấy tận đáy lòng minh. Càng khiêm nhường các ngài càng được bình an, mà bình an là quà tặng của Chúa Phục sinh đã ban cho các ngài mỗi lần hiện ra sau khi Người sống lại:“Bình an cho anh em” (Lc 24,36)

Với một lòng yêu mến Chúa nồng nàng như Thánh Gioan, ông đã  nhận ra Chúa Giêsu đang sống. Những trật tự của Thầy mình Gioan hiểu rất rõ. Khi bước vào mộ, Thánh Gioan “thấy những băng vải để ở đó và khăn chi đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn lộn với các băng vải, nhưng cuộn lại, xếp qua một nơi.” Là người gần gũi với Thầy, Gioan nhận ra ngay đây việc làm ngăn nắp này là do chính tay của Thầy mình làm, và ông tin tưởng rằng Chúa Giêsu đang sống. Người đã bỏ tấm khăng liệm có nghĩa là Người không còn trong thế giới của kẻ chết mà là thế giới của kẻ sống.

Đối với chúng ta ngày nay thì sao? Cuộc sống  của chúng ta có phản ảnh là Chúa Kitô đang sống trong cuộc đời chúng ta và trong thế giới này không? Trong khi thế giới ngày nay đang cỗ võ một đời sống quy vật chất, thì chúng ta có dám cỗ võ một đới sống quy Kitô? Trong khi thế giới ngày nay đang cỗ võ sống một nền văn minh sự chết, thì chúng ta có dám cỗ võ sống một nền văn minh tình thương như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã sống? Muốn làm được như vậy, người viết nghĩ rằng chúng ta phải có một cuộc đổi mới trong Đức Kitô Phục Sinh. Giống như bà thánh Maria Macđala, từ một người tội lỗi được Chúa hoán cải và trở nên thánh thiện và sốt sắng đi theo Chúa. Giống như thánh Phêrô, đã chối Chúa ba lần, nhưng ngài đã được Chúa biến đổi và trở nên hăng say rao giảng Tin Mừng Phục Sinh cách nhiệt thành và mạnh mẽ. Giống như thánh Gioan, với một tình yêu tinh tuyền giành cho Chúa, ngài đã sống và làm chứng cho câu nói của ngài“Thiên Chúa là tình yêu”. Với những phấn đấu như thế, ta sẽ đón nhận được ơn Chúa Phục sinh. Chúa sẽ tuôn đổ Ơn Phục Sinh tràn ngập tâm hồn ta, biến đổi ta nên người mới, tràn đầy niềm vui, tràn đầy niềm hi vọng, tràn đầy sự quảng đại, và tràn đầy tình yêu mến.

Fx Nguyễn Phước Sơn

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.