Gia đình Công Giáo

Thuỵ Miên.

Chuyện tình yêu trong gia đình của người Công giáo được phân biệt rõ ràng với những gia đình có khác niềm tin về tín ngưỡng. Tại sao lại có thể khác được nhỉ?

Nhiều người đã thắc mắc giống như tôi, khi vừa đến tuổi biết yêu. Yêu là lẽ sống của mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giàu hay nghèo, giới tính. Nói như thế thì tại sao lại có sự khác biệt về tình yêu.

Nhân dịp mừng ngày mùng 8 tháng 9 Sinh Nhật của Đức Mẹ và ngày Nhớ ơn cha. Bài viết tháng 9 năm nay, xin mạn phép viết lên đôi giòng tư tưởng về  tình yêu của người Ki-Tô hữu trong cuộc sống của xã hội chủ nghĩa cá nhân, vô cảm thời nay.

Người Úc, Anh, Mỹ thường giải thích cho con trẻ hiểu biết về nghĩa của chữ: “Family” như sau:

  • Chữ “F” được  lấy ra từ chữ “father” = cha (Tiếng Việt).
  • Chữ “a” được lấy ra từ chữ “and” = và .
  • Chữ “m” được lấy ra từ chữ “mother” = mẹ.
  • Chữ “i” được lấy ra từ chữ “I” = con.
  • Chữ “l” được lấy ra từ chữ “love” = yêu.
  • Chữ “y” được lấy ra từ chữ “you” = là người, những người mà mình đang trực tiếp muốn nói đến, trong chữ Family này, chữ “y” có nghĩa là cha mẹ.

Như thế, chữ Family được coi như là một thành ngữ: “Ba và mẹ ơi, con yêu cha mẹ”. Trong thành ngữ về gia đình ấy gồm có 3 nhân vật là: người cha, người mẹ và đứa con với động từ yêu.

Những yếu tố quan trọng của gia đình:

Yêu chính là yếu tố quan trọng, để tạo nên một gia đình hạnh phúc, sung sướng, hoà bình, thông cảm nỗi khổ đau của nhau, để sẵng sàng tha thứ, nhịn nhục cho những người chung sống với nhau trong một gia đình.

Yêu cũng chính là động lực thúc đẩy người làm cha không quản ngại nhọc nhằn , gian khổ, hiểm nguy suốt cả đời mình để làm cho vợ và những đứa con được có cuộc sống càng ngày càng tươi đẹp nhiều hơn.

Yêu cũng là sự thúc đẩy mãnh liệt giúp cho người mẹ chịu vất vả , để hy sinh dạy dỗ cho con cái nên

người, giúp cho chồng được thành công trong sự nghiệp, trong danh dự, và giúp cho tương lai của con cái được sáng lạng trong xã hội.

Yêu cũng là nguồn gốc của đạo làm con để đền bù công ơn sinh thành và dưỡng dục của mẹ cha như câu của cổ nhân: “Chim có tổ, nước có nguồn, cây có cội rễ và con người có tổ tiên”.

Chữ yêu của người công giáo đã được Thiên Chúa tỏ rõ cho con dân của Chúa biết: Vì yêu nhân loại mà Chúa Cha đã cho Con một của Người là Đức Chúa Giêsu xuống thế làm người, để cứu chuộc tội cho nhân loại.

Vì yêu nhân loại mà Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha để mặc lấy xác phàm nhân, và nhất là phải chết khổ hình trên cây thập giá, mặc dù Người vô tội.

Vì yêu nhân loại mà Chúa Thánh Thần xuống thế để bảo vệ, thêm sức mạnh cho chúng ta biết cách giữ vững Đức Tin cậy mến vào Thiên Chúa trong cuộc sống ở trần gian, để chúng khỏi bị giam cầm trong đời sống nô lệ của ba kẻ thù: Ma quỷ, thế gian và xác thịt.

Cũng vì yêu mà bố mẹ tôi đã sinh ra tôi, cho tôi thụ hưởng một cuộc sống của gia đình, với nhiều luật lệ của thời phong kiến. Xã hội thời đó chịu ảnh hưởng của Khổng giáo. Bố tôi sinh ra trong gia đình nhà nghèo ở miền quê, bố tôi không được học nhiều chữ nghĩa, vì thế mà bố tôi chỉ quanh quẩn với việc đồng áng mà thôi, mọi việc đều phải làm theo ý của ông bà tôi.

Dù là lời dạy bảo có đúng hay sai thì phận làm con lấy chữ Hiếu làm đầu, bố tôi phải luôn luôn vâng lời mà làm. Tất cả những người làm con thời ấy, đều được dạy những về: Lễ, nghĩa, trí, tín. Đạo Hiếu của dân tộc Việt: Vâng lời cha mẹ, thờ cúng và phụng dưỡng cha mẹ rất được coi trọng trong những năm tháng thủa ấy. Vì mọi người đều như thế cả, cho nên chẳng có ai than trách. Cho đến ngày chữ Nôm được thay thế bằng chữ quốc ngữ, nền học vấn được phổ biến rộng rãi cho thế hệ trẻ, tiếng Pháp đã đẩy lui chữ Hán, chữ nôm và dần dần chữ quốc ngữ được vững mạnh. Sự du nhập nếp sống phương Tây đã làm biến dạng phong tục của người dân Việt Nam, từ đó tín ngưỡng cũng thay đổi được nếp sống của người Ki-tô hữu: Họ không tin dị đoan, thờ đủ loại thần, và chỉ còn kính thờ duy nhất một Thiên Chúa Ba Ngôi.

  Họ tuân giữ 10 điều răn cùng 6 luật của hội thánh, và bỏ ra ngoài cái tục lệ: “Trai năm thê, bảy thiếp”, để một vợ và một chồng sống trung thành với nhau, và yêu nhau suốt đời. Họ đồng cam chịu khổ, chia sẻ và chung sức với nhau để vượt qua những gian khó trong đời sống hôn nhân.

  Họ bỏ đi cái tục lệ: “Chồng là Chúa, vợ là tôi tớ”, và cả hai trở nên một thân xác trong tình yêu của Chúa Giêsu là hiến mạng sống của chính mình cho người mình yêu. Họ phục vụ và yêu thương nhau suốt đời như chính Chúa Giêsu yêu gia đình của họ.  Gia đình Công Giáo sống gương mẫu là sống như thế đó. Thiên đàng hiện diện ở chính gia đình họ, bình an, hạnh phúc và sự yêu thương tràn trề trong tâm hồn của họ. Bởi vì họ đã chọn Chúa làm chủ gia đình, họ vâng phục và làm theo thánh ý Chúa hoàn toàn. Cuộc sống của họ sớm tối đềucó Chúa ở cùng, họ dâng ngày vào buổi sáng và tạ ơn Chúa vào buổi kinh tối. Mỗi khi có sự bất đồng ý kiến, họ cùng nhau đọc kinh Lạy Cha, để xin ơn được tha thứ như họ đã tha thứ cho nhau. Khổ đau không làm cho họ sao xuyến, vì sự khổ đau đã cho họ cơ hội nhận biết thế nào là sự nhẫn nại, biết được thế nào là sự yếu đuối trong thân xác mỏng dòn của con người. Hạnh phúc và sự sung sướng, giàu có không làm cho họ tự mãn, tự kiêu. Những thứ ấy đã giúp cho họ biết tạ ơn về những hồng ân mà Thiên Chúa ban cho họ chứ không phải do sự yếu hèn, kém cỏi  của trí khôn của họ tạo ra được.

Gương gia đình Thánh Gia về tình yêu

Một tấm gương sáng cho các gia đình công giáo là gương của gia đình Đức Mẹ, Thánh Giuse, và Chúa Giêsu.

Gương Đức Mẹ. Mẹ là người nữ mà Chúa Cha chọn lựa, để sau này làm mẹ của Chúa Giêsu, tuỳ theo sự tự do của Mẹ, và người đã khiêm tốn vâng lời thiên sứ: “Này tôi là tôi tớ của Đức Chúa Trời, tôi xin vâng như lời thiên sứ loan báo”. Mẹ trọn đời vâng theo thánh ý Chúa. Nhưng dưới con mắt người đời của xã hội Do Thái thời đấy, thì một thiếu nữ 16 tuổi, đã đính hôn với ông Giuse, chưa tới ngày cưới mà lại mang thai, thì quả là một trong tội. Nhờ được nghe lời thiên sứ mách bảo, và cũng vì cả hai: Mẹ Maria và Thánh Giuse, đã tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, cho nên một hài nhi là Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế được sinh ra đời để cứu chuộc chúng ta.

Gương Thánh Giuse. Ngài đã vâng lời và tin thánh ý của Thiên Chúa, không một lời oán trách, nuôi nấng cùng bảo bọc Chúa con thoát nạn sang Ai Cập. Ngài đã hết lòng lo lắng cho Đức Mẹ và Chúa Giêsu.

Gương Chúa Giêsu. Cho dù Người là Con Thiên Chúa, đầu quyền phép, nhưng lúc nào cũng chịu khó nghe theo lời cha mẹ dạy bảo.

Ngày nay, nhờ vào những lời khuyên bảo của các vị chủ chăn, của các bậc tu sĩ, và những anh chị em hội viên Legio Maria, mà biết bao gia đình “Bất hoà” đã tìm lại được niềm vui, hạnh phúc của gia đình họ. Kết quả là những đứa con được sinh ra đời để phụng sự Thiên Chúa và để phục vụ tha nhân và xã hội trong đó có người làm tu sĩ, thày giáo, thương gia, bác sĩ, luật sư, kỹ sư và những giáo dân đang làm việc tông đồ ở nơi các quốc gia nghèo đói, chậm tiến.

Xin gởi lời chào đến tất cả anh chị em hội viên Legio Maria đang âm thầm kết hợp với Đức Mẹ, cùng với Chúa Thánh Thần để mang Lời Chúa, và chính Chúa Giêsu đến với tha nhân, chia sẻ, ủi an và giúp cho tất cả những ai đang cần thiết. Cầu mong các anh chị tuyển mộ thêm được nhiều hội viên mới để làm sáng danh Cha trên trờ và nước Chúa được rộng lan khắp nơi trê n toàn cõi địa cầu.

 Đối tượng của người hội viên Legio là những ai?  Xin thưa là tất cả mọi người, không trừ một ai, không kể hạng tuổi, học thức, hay phái tính, giầu hay nghèo, giáo dân hay bậc tu trì.  Vì sống ở đời này, Hội thánh cần có những giáo dân trở thành chiến sĩ dũng cảm, biết dấn thân vì nước trời, để cùng với Mẹ Maria đi cứu thoát những linh hồn đang bị cầm giữ bởi ma quỷ cám dỗ thờ ơ trong việc giữ giới răn, phụng thờ Thiên Chúa mà theo đàng tội lỗi, theo danh vọng thế gian, và chìm đắm trong đam mê xác thịt.

Mục đích chính của Legio là thánh hoá chính mình, để rồi trở nên lớp men trong xã hội. Người Legio chính là đốm lửa lòng mến yêu Thiên Chúa, để rồi từ đó họ lan toả lửa tông đồ ấy và làm nóng lửa mến yêu Thiên Chúa trong linh hồn của mọi người. Với mục đích đoàn kết toàn thể nhân loại nên một trong tình yêu của Thiên Chúa như Lời Chúa: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thày yêu anh em” và “ Cứ dầu này người ta sẽ nhận biết anh em là con cùng một Cha”.

Trong đời sống tông đồ hàng ngày, chắc hẳn nhiều anh em đã vui sướng khi nhớ đến những kết quả của lời mình khuyên nhủ kẻ sa ngã, người định phạm tội. Thí dụ như câu chuyện trong cuốn tập ‘Nhật ký đời Tông đồ Legio’ của tôi như sau:

“Khi gặp gỡ lại người thanh niên cách đây hơn 20 năm về trước, tôi vui mừng đến ngỡ ngàng vì sự thay đổi con người và sự thành công của anh ta. Hồi ấy anh ta chỉ là cậu bé mới tập tễnh trong bước đường tình yêu. Với cái tuổi 18 ấy, anh ta đã yêu say đắm một cô nàng cùng lớp, thế rồi một ngày anh ta đã vô tình bị cô ta bỏ rơi. Theo lời than của anh thì có lẽ gia đình cô không bằng lòng, vì anh ta chưa có nghề nghiệp, và gia đình anh nghèo… Anh ta đã bỏ ăn, bỏ học, bỏ nhà và muốn đi thật xa. Ôi trời ơi! Tình là cái chi chi, mà khiến người thanh niên này đau khổ đến thế. Cũng may là tôi được anh kể cho nghe tâm sự cũng như ý định của mình. Tôi nhận thức được cuộc sống của con người là do Chúa ban và linh hồn rất quý. Tôi im lặng ngồi nhìn anh, thầm thĩ cầu xin với Đức Mẹ và xin ơn Chúa Thánh Thần. Xin Người dùng miệng lưỡi của tôi, để an ủi anh ta bằng những kinh nghiệm sống của chính mình.  Thời gian thấm thoát trôi qua hơn 20 năm. Tôi chẳng còn nhớ rõ là mình đã khuyên anh ta những gì vào lúc ấy. Bây giờ anh ta nhắc lại những lời tôi đã khuyên nhủ anh, và anh đã cảm ơn tôi. Anh ta nói rằng: “Nhờ những câu nói ấy của chú mà cháu đã tạo được một tương lai hạnh phúc cho đời mình”. Tạ ơn Chúa.

Thế giới này sẽ thuộc về chúng ta, nếu chúng ta yêu mến họ, và chứng tỏ được là chúng ta yêu họ thật. Quý anh chị hội viên Legio thân mến. Tiếp xúc cá nhân là công tác quan trọng mà Legio mong muốn tất cả chúng ta dám hy sinh bước vào đời theo lối quân binh của Mẹ Maria. Dấn thân, hy sinh và mang Chúa Ki-Tô đến với từng người, để yêu và phục vụ họ. Lời Chúa còn vang bên tai của anh chị như nhắc nhở về gương của Người: “Ta đến để phục vụ, chứ không phải đến để được người khác phục vụ”.

Thái độ của người hội viên Legio là lễ độ, khiêm nhường và hiền lành. Chính nhờ vậy mà mọi cửa lòng đều vui lòng mở, đón chào họ vào nhà tâm hồn. Hơn thế nữa, chúng ta đến để chia sẻ những nỗi khổ đau với tha nhân, chúng ta cần lắng nghe hơn là chỉ trích, phê phán, chúng ta đến để nhìn thấy Chúa Giêsu đang bị khổ đau trong họ, và nhất là chúng ta phải luôn cầu nguyện cho họ có thêm nhiều nghị lực để vượt qua những nỗi khổ đau. Nếu đơn vị hoạt động nào không chú trọng phát triển tình yêu đối với tha nhân như chính Chúa đã yêu họ, thì thật là điều đáng tiếc. Áp dụng tinh thần Legio trong cuộc sống của gia đình mình là điều giúp chúng ta tập luyện các nhân đức dễ dàng nhất. Phải nói là chúng ta hy sinh và làm tất cả đều vì yêu, như yêu vợ, yêu chồng, yêu con cái. Đến nỗi các chị thường kể chuyện viễn tưởng về tương lai: “Khi chết gặp được Thánh Phê-rô, tôi chỉ cần nói là tôi có chồng và có con, thì Ông thánh Phê rô vui vẻ mở cổng cho tôi vào Thiên Đàng ngay”.

Nhưng cũng có anh chị, lại bỏ các hội đoàn, như Hội “Lê – Giô”, vì chồng, vì con. Khi gặp, họ chỉ cười rồi nói: “Em bây giờ là hội viên của Hội “Lê – Gia” có nghĩa lý do họ không đi họp nữa ra khỏi hội là vì gia đình. Có người xin xuống Bậc Tán Trợ, vì họ chỉ muốn đọc kinh để cầu nguyện cho anh chị em bậc hoạt động mà thôi. Phải cố gắng lắm thì chúng ta mới được nghe tâm sự của họ:

“ Chị nghĩ xem, em còn mặt mũi nào mà đi sinh hoạt với các anh chị em. Khi chồng em lăng nhăng với người này, người nọ; Hoặc con cái của em chúng làm cho em xấu hổ không dám nhìn mặt ai…”

Thế rồi, từ vấn nạn này đến vấn nạn khác, chẳng ai giúp được chị, vì là chuyện kín, và vì danh dự của gia đình, cho nên chị chẳng dám than thở cùng ai. Người làm trưởng đã có mấy ai, quan tâm đến tình cảnh phần hồn của anh chị em trong đơn vị của mình hay chưa? Đã có mấy ai hàng ngày dâng bó hoa thiêng như: cầu nguyện, đọc kinh Mân Côi, dự thánh lễ, chầu thánh thể, để xin Chúa Thánh Thần an ủi người hội viên của đơn vị mình hay không?

Tình đoàn kết của hội viên có được khắn khít như các cụ thường nói: “một con ngựa đau, cả (tàu) bầy không ăn cỏ”. Người làm uỷ viên của các đơn vị, cần phải lưu tâm đến sự vắng mặt của các hội viên trong các phiên họp, đặc biệt là người làm Trưởng và Phó của đơn vị ấy.

Gia đình là đơn vị nhỏ nhất của Xã hội thế nào, thì đối với Legio Praesidium cũng thế, nó là đơn vị nhỏ nhất và căn bản nhất. Chỉ khác là vì chúng ta yêu mến Đức Ki-Tô mà gia nhập đoàn quân dưới sự lãnh đạo của Nữ Tướng là mẹ Maria, để chiến đấu với ba thù: Ma quỷ, thế gian và xác thịt. Người hội viên Legio phải được trang bị đầy đủ: Áo giáp, mũ, binh khí, giầy, và được huấn luyện lòng trung thành, dũng cảm, không sợ hiểm nguy với mục đích là cứu thoát các linh hồn đang bị ba thù cầm giữ.

Đơn vị có được hướng dẫn về phần thiêng liêng hằng tuần, hay sự gắn bó của đơn vị với cha Linh giám có được nối kết chặt chẽ hay không? Có câu chuyện như sau: sự báo cáo hời hợt, không rõ ràng làm thiệt hại cho nhiều linh hồn. Khi một hội viên thăm viếng được một bệnh nhân, vì là công tác ứng trực cho nên chị ta chỉ phúc trình qua loa: “Tuần qua em có đi thăm viếng một bệnh nhân được 1 giờ”. Có lẽ sợ mất nhiều giờ cho nên chẳng có người nào muốn biết thêm chi tiết.

Sau một thời gian dài, người bệnh nhân ấy qua đời, chị ta phúc trình tiếp: “Bà này đã bỏ đạo từ lâu, em có đưa cái máy giảng về Lòng Thương Xót Chúa cho bà ta nghe, nhưng chỉ được một ngày là bà ta trả lại. Từ đó em không còn lui tới nữa”.

Khi nghe xong thì mọi người đều ngỡ ngàng, vì: Chị Trưởng không theo dõi công tác ứng trực của hội viên để phân công tác; Chị hội viên không phúc trình rõ ràng về người bệnh; Cha Linh Giám không được nghe biết gì về công tác và chị trưởng không phúc trình với cha Linh Giám của đơn vị. Thủ bản để ở cạnh đầu giường mà vẫn chưa thông suốt, thì nếu chúng ta không chăm lo đọc và nghiên cứu hàng ngày thì làm sao đi đúng đường cho được.

Khi gia đình thiếu tình yêu

Khi gia đình thiếu tình yêu thì nghi kỵ, ghen ghét, bất hoà, chia rẽ và đau khổ sẽ xảy ra. Nói chung hiện tượng này xẩy ra trong mọi gia đình và ngay cả trong gia đình Công giáo cũng thế.

 Nhiều sự việc xảy ra trong gia đình, mà các bậc cha me không dám nói thẳng với nhau, với con cái, đã khiến cho sự hiểu lầm trong gia đình càng ngày to hơn và hậu quả là sự đổ vỡ gia đình. Nhiều gia đình mà người cha lấn áp quyền của người mẹ, hoặc đàn áp con cái bằng sức mạnh, đã khiến con cái biến chữ Family thành chữ: “Famihy”, chữ ‘h’ viết tắt từ chữ “hate”, có nghĩa là ghét. Chúng ta hãy xét mình xem đã có bao giờ lỡ dại để tình trạng này xảy ra chưa.

Thiếu tình yêu thì gia đình sẽ biến dạng, từ hôn nhân trở nên ly thân, sống chung một mái nhà nhưng chuyện của ai người ấy lo, tiền của ai, người ấy tiêu xài, và dần dần đi đến chỗ ly dị. Gia đình bị tan vỡ và hậu quả đau khổ chất lên đầu của  những đứa con trong gia đình.

Đơn vị Legio cũng như một gia đình, nếu tình thương yêu giữa anh chị em bị giảm sút, thì cơ hội làm việc chung sẽ bị trắc trở, sự chống đối và khích bác lẫn nhau sẽ xuất hiện, những phúc trình về người mà ta đi thăm viếng sẽ bị để lộ ra cho người ngoài biết. Cũng chỉ vì thế mà cách phúc trình công tác bị biến dạng, không còn được phúc trình một cách rõ ràng nữa. Căn bệnh ấy như một bệnh dịch lan tràn trong hệ thống Legio, và nó làm biến dạng cả một guồng máy tổ chức mang danh là Đạo Binh của Đức Maria.

Khi gia đình thiếu tổ chức, thiếu kỷ luật và thiếu sự đồng tâm nhất trí

 Sự thăng tiến của gia đình sẽ bị đình trệ, thụt lùi nếu gia đình ấy có nếp sống bừa bãi, vô tổ chức, bạ đâu hay đó và nhất là không đồng tâm, nhất trí để hợp lực cùng lo chung một vấn đề nan giải. Một gia đình, một tổ chức không ai chịu trách nhiệm về việc lo lắng cho các thành viên trong gia đình, hay các thành viên trong gia đình không vâng phục người chỉ huy, hoặc người chỉ huy thiếu tài đức, nhân đức thì làm sao gia đình ấy, tổ chức ấy có thể tranh đua với các gia đình khác, đoàn thể khác cho được.

Con không cha như nhà không có nóc là thế đấy. Hiện tượng ngày nay là có nhiều người vợ trở nên làm chỉ huy gia đình, nhưng tiếc thay vì tâm lý, thể xác, và bản tính khác nhau giữa người nam và người nữ cộng với phong tục tập quán của người Á đông, đã tạo nên một tình trạng bất ổn cho gia đình. Trong chủ nghĩa tư bản ngày nay người ta khám phá ra nhiều nữ doanh nhân thành công hơn là nam doanh nhân, thế nhưng trong gia đình lại không có hạnh phúc. Nếu gia đình không lấy: nhân, nghĩa, lễ, trí và tín và tình yêu mà kính trọng lẫn nhau thì cuộc sống của gia đình ấy sẽ là một hoả ngục.

Có một câu chuyện đã kể về một đứa bé duy nhất trong gia đình. Khi còn bé em, em được cha mẹ thương yêu nhiều lắm. Em sống rất hạnh phúc suốt quãng đời ấu thơ, vì nhà nghèo nhưng em có cha mẹ kề bên, những buổi tối gia đình đọc kinh chung thật là an bình. Thế rồi, khi em đến tuổi đi học tiểu học, thì cha mẹ dọn nhà đến một nơi khác để sinh sống, gần phố thị hơn. Cuộc sống gia đình càng thưa dần buổi đọc kinh, và thay vào đó những bàn cãi về buôn bán, tiền bạc thua lỗ. Hàng đêm, em phải nghe những tiếng cãi vả của cha mẹ em. Cho đến một hôm em không còn chịu đựng được nữa, đang khi ba mẹ em còn đang to tiếng với nhau, hầu như sắp đến hồi quyết liệt thượng cẳng tay và hạ cẳng chân. Em bước vào phòng và hét to lên: “Ba! Im đi, Mẹ! Im đi. Gia đình gì mà cứ như hoả ngục vậy. Tại sao ba mẹ cứ tranh cãi, lớn tiếng với nhau hoài vậy. Đã là gia đình, thì ba phải thương mẹ, và mẹ phải yêu ba chứ. Dù làm ăn có thua lỗ, thì ba mẹ vẫn có chung một thứ của cải vô giá là con đây”.  Rồi cô bé khóc oà lên, miệng còn nói thêm câu cuối: “Đã là gia đình thì chúng ta phải biết yêu thương, nhường nhịn nhau, thế mới là một gia đình hạnh phúc”.

Gia đình thiếu tổ chức thì vô quân, vô chủ, hội đoàn thiếu tổ chức thì chỉ có lùi chứ không có tiến. Gia đình không có kỷ luật thì con cái thích gì thì làm nấy. Quân đội không có kỷ luật thì quân đội ấy chưa đánh đã thua. Gia đình không có sự đồng tâm nhất trí thì làm sao trở nên giàu có cho được. Hội đoàn thiếu sự đồng tâm nhất trí thì càng đông người, càng đông ý kiến. Thử hỏi làm sao mà làm việc ích lợi chung được.

Sự học tập về gia đình cùng các vai trò của người làm chồng, làm vợ, và làm con cái cho mọi người rất cần thiết, nhất là trong xã hội hiện nay ở hải ngoại này. Xin các bậc lãnh đạo tinh thần dấn thân, quan tâm về đời sống đạo của giáo dân: thăm viếng, giảng phòng nhiều hơn nữa. Các vị lãnh đạo hội đoàn trong hoạt động tông đồ giáo dân cũng cần nghiên cứu thêm về trách nhiệm và bổn phận của chính mình và thành viên, để xem mình đã đi đúng sự hướng dẫn của Thủ bản, của các cha Linh Giám, của Giáo hội hay chưa.

Ước mong mọi người đi tham dự những buổi học tập về tín lý, giáo lý, về nghệ thuật phục vụ tha nhân do các cha tổ chức ngày càng nhiều hơn, để đời sống gia đình được thăng tiến, và để đoàn thể của chúng ta sinh được nhiều lợi ích phần hồn cho xã hội và Giáo hội  trong tương lai.

Thuỵ Miên