Hãy Bỏ Phiếu “Không” Cho Cuộc Thăm Dò Về Hôn Nhân Đồng Tính Luyến Ái.

Minh Duy

Trong mấy ngày qua, thùng thư nhà chúng ta đã nhận được thông tin của Phòng Thống Kê Úc, trong đó có phiếu thăm dò về việc chúng ta có đồng ý nên đổi luật gia đình hiện hành để cho những người đồng tính luyến ái được lấy nhau một cách hợp pháp hay không?

Đây là phiếu thăm dò tự nguyện (non- compulsory survey), chứ không phải là một cuộc trưng cầu dân ý chính thức (referendum) mà mọi người dân trong tuổi đi bầu bắt buộc phải bỏ phiếu. Kết quả của cuộc thăm dò này sẽ được công bố lúc 11g30 sáng ngày thứ tư 15.11.2017  và không có tính ràng buộc để bắt chính phủ phải tuân theo, nhưng chỉ được dùng như một hướng dẫn cho chính phủ nên làm gì trong tương lai.

Tại sao chính phủ liên bang, đang trong lúc ngân sách chưa cân bằng, có thể dùng hơn 120 triệu Úc kim tiền của người thọ thuế để gửi khoảng 16 triệu phiếu thăm dò ý dân làm gì?

Chính sách của đảng Tự Do cầm quyền từ trước đến nay vẫn là giữ nguyên Luật Gia Đình như hiện hành, nhất là dưới thời cựu thủ tướng Tony Abbott. Do đó, các dân biểu nghĩ sĩ trong đảng dù có ý khác, luôn phải bỏ phiếu theo ý đảng của mình.

Tuy nhiên từ ngày ông Malcolm Turnbull lên thay ngôi, hình như có những vận động ngấm ngầm cho có sự thay đổi và cho phép các dân biểu nghị sĩ của mình bỏ phiếu theo lương tâm (conscience vote) chứ không theo chính sách chung của đảng nữa. Những người này hy vọng với áp lực của những trào lưu xã hội, luật gia đình ở Úc có thể bị thay đổi để hợp thức hoá việc lập gia đình của những người đồng tính, dù theo thống kê dân số (Census) 2011, chỉ có khoảng 1% dân số Úc tự nhận mình là người đồng tính. Tuy nhiên, qua cuộc bỏ phiếu trong nội bộ đảng Tự Do sau hai giờ đồng hồ bàn thảo sổi nổi vào tháng 8 vừa qua, chỉ có 7 dân biểu nghị sĩ thuộc đảng Tự Do là Warren Entsch & Trevor Evans (Qld), Tim Wilson & Jason Wood (Vic), John Alexander & Trent Zimmerman (NSW) và Dean Smith (WA) bỏ phiếu thuận.

Do đó, phải chăng chính phủ liên đảng hiện nay mới dùng cái gọi là  “thủ thuật chính trị” là hỏi ý dân qua cuộc thăm dò này xem mình nên làm gì (và để sau đó có bỏ phiếu ra sao thì cũng dễ đổ thừa cho dân?).

Ngay sau khi quyết định làm việc này, cả hai ông Malcolm Turnbull (Tự Do) và Bill Shorten (Lao Động) xem ra đều hớn hở theo trào lưu áp lực để khuyến khích người dân nên bỏ phiếu “YES”. Ông Turnbull còn không bảo mật phiếu bầu của mình như xác định trong thư gửi đến nhà dân (Your response is confidential, by law), mà lớn tiếng bảo là vợ chồng ông sẽ bỏ phiếu YES.

Giới truyền thông “góp gió” khi cho rằng trong lúc này, khoảng 60%-70% người thăm dò sẽ bỏ phiếu YES. Tuy nhiên đây xem ra ít nhiều là một đòn tâm lý của nhóm vận động YES muốn đánh trên đa số thầm lặng như chúng ta, để chúng ta có thể dễ nản lòng mà nghĩ rằng nếu đây là việc không bắt buộc thì mình cũng chẳng cần quan tâm đến và có thể sẽ không bỏ phiếu để cho họ trở nên thắng thế, dù với đa số không cao.

Do đó trong thời gian qua, chúng ta thấy nhiều giới chức Công Giáo đã lên tiếng yêu cầu giáo dân hãy quan tâm đến việc này và bỏ phiếu KHÔNG (NO). Điển hình là trong cộng đồng công giáo Việt Nam ở Tổng Giáo Phận Melbourne, Cha Hoàng Kim Huy, tuyên úy trưởng, đã kêu gọi giáo dân Việt Nam chúng ta hãy mạnh dạn bỏ phiếu KHÔNG vì “nền tảng, lập trường và giáo huấn” của Giáo Hội Công Giáo là: “Hôn nhân là một sự kết hợp tương trợ giữa một người nam và một người nữ; do chính bản chất tự nhiên của hôn nhân này mà mang lại điều tốt lành cho phối ngẫu / phu thê; cho sự sinh sản và dưỡng dục con cái. Bởi vì có sự khác biệt giới tính trong hôn nhân này, cho nên hai người mới trở nên ‘một xương một thịt’ một cách trọn vẹn, và con cái được sinh ra và nuôi dưỡng trở thành tình yêu cụ thể và đích thực của cả hai người cha và người mẹ”

Chúng ta thấy nhóm vận động bỏ phiếu YES dưới chiêu bài hôn nhân bình đẳng (marriage equality) đã đưa ra lập luận là nếu 1 nam 1 nữ có thể lập gia đình thì 1 nam 1 nam hay 1 nữ 1 nữ cũng được quyền tự do lập gia đình như thế.

Phải chăng đây là một cách áp đặt của những người thuộc cánh tả để họ có thể vận động thêm những người hỗ trợ họ cho những đấu tranh mà họ cho là chống lại những sự bất bình đẳng, bất công khác trong xã hội chúng ta đang sống? Bởi vì cứ thuận lý mà nói, nếu bảo là mình đòi hỏi bình đẳng thì sao không ủng hộ bình đẳng hôn nhân cho người đồng tính luyến ái?

Là người công giáo, chúng ta không nên bị bao vây bởi những hỏa mù như thế vì việc hôn nhân đồng tính không phải là vì bình đẳng. Đây là một số lý do căn bản đã đuợc nhiều người nêu ra:

  1. Quan hệ tình cảm giữa hai người nam hay hai người nữ KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ TƯƠNG TỰ như quan hệ tình cảm của một người nam và một người nữ. Hãy nhìn vào đời sống thực tế. Đối xử của ba nhóm này với chúng ta và ngược lại hoàn toàn khác nhau.
  2. Một người nam và một người nữ có thể CÓ CON, còn người đồng tính thì làm sao có con khi chung sống với nhau? Một yếu tố chính của hôn nhân há chẳng phải là sinh sản ra con cái là mầm yêu thương của cha mẹ hay sao (núm ruột của mình, như ông bà chúng ta thường nói)? Thế giới này nếu chỉ có những người đồng tính luyến ái thì làm sao phát triển với dân số khi không có các thế hệ theo sau? Như vậy phải chăng những người đồng tính đòi hỏi quyền lập gia đình với nhau chỉ là vì nhu cầu riêng tư của họ mà hoàn toàn không nghĩ gì đến thế hệ con cái sau mình?
  3. Con cái cần cả cha lẫn mẹ. Đó là một môi trường gia đình bình thường để chúng trưởng thành, trong đó có hai người nuôi nấng chúng, dậy dỗ chúng, yêu thương chúng chính là hai người đã có công sinh thành dưỡng dục ra chúng. Trong khi đó, trong môi trường của hai người đồng tính chung sống với nhau, một đứa con có hai cha mà không có mẹ, hay có hai mẹ mà không có cha, sẽ nghĩ sao khi chúng lớn lên? Chúng có nghĩ rằng đó là một gia đình bình thường hay sẽ phải luôn khắc khoải và tự hỏi ai là cha thực, mẹ thực của mình ? và lẽ tất nhiên như thế, chúng sẽ có khuynh hướng đi tìm cha mẹ tự nhiên của mình xem họ là ai và tại sao họ lại bỏ rơi mình cho hai kẻ không có công SINH THÀNH, chỉ có công DƯỠNG DỤC mình mà thôi.
  4. Việc đòi hỏi cho người đồng tính lấy nhau phải chăng là cách che đậy dưới chiêu bài ‘’bình đẳng’’ mà tìm cách thay đổi định nghĩa HÔN NHÂN truyền thống là “một kết hợp tâm sinh lý của một nam và một nữ” (Marriage brings a man and a woman together as husband and wife to be father and mother to any children their union produces) để trở thành “một kết hợp hợp pháp giữa hai người là bạn đường của nhau trong 1 quan hệ riêng tư” (the legally or formally recognized union of two people as partners in a personal relationship historically and in some jurisdictions specifically a union between a man and a woman).

Mục đích của họ phải chăng là tìm cách làm suy yếu đi sự quan trọng của gia đình, những quan hệ mật thiết trong gia đình, vai trò tình dục trong việc làm cha mẹ và sự ảnh hưởng của Giáo Hội trong xã hội của chúng ta đang sống?

Đức TGM Melbourne Denis Hart, trong cuộc phỏng vấn trên đài 3AW ngày 29/8 cho rằng việc hôn nhân đồng tính có thể làm suy yếu xã hội chúng ta đang sống. Ngài nói rằng nếu việc hôn nhân đồng tính được chính phủ phê chuẩn thì xã hội chúng ta đang sống sẽ trở thành một xã hội khác nhưng hôn nhân truyền thống sẽ vẫn luôn tồn tại. Ngài khẳng định: “Tôi tin tưởng là hôn nhân giữa người nam và người nữ và gia đình luôn là nền tảng của xã hội”.

Ngài nói thêm về việc trong tương lai nếu việc hôn nhân đồng tính được phê chuẩn thì những người đồng tính làm việc trong các cơ sở của Giáo Hội Công Giáo như nhà trường, nhà thương đều cần tự vấn lương tâm của mình. Các giáo viên ở các trường Công Giáo nếu không dạy trẻ nơi trường học theo niềm tin Công Giáo thì quả là một vấn đề. Ngài xác nhận: “họ không nhất thiết phải làm việc cho Giáo Hội Công Giáo. Họ có chọn lựa riêng tư của họ, nhưng khi làm việc trong môi trường Công Giáo thì phải hướng dẫn những gì mà Giáo Hội mong muốn”

Đức TGM Denis Hart nói Ngài không chống đối việc hôn nhân đồng tính trong khung cảnh của việc đó là một chọn lựa cá nhân dù nó trái ngược với những gì mà Giáo Hội Công Giáo dậy dỗ. Tuy nhiên Ngài nhấn mạnh: “Nhưng tôi sẽ rất tự tin mà nói rằng: “Này anh, tất cả mọi người chúng ta đều có cha sinh mẹ đẻ và tôi

(một thứ ‘thoái hóa nhân học’) và gây thiệt hại nặng nề cho tất cả chúng ta, kể cả người đồng tính, vì sự lành mạnh của ‘sinh thái nhân bản’ phụ thuộc nền văn hóa hôn nhân lành mạnh. Nền văn hóa này lôi cuốn hai phái tính lại với nhau trong cuộc sống hôn nhân và hết sức bảo đảm để con cái nhận được hồng phúc đóng góp của cả hai cha mẹ nam nữ, dấn thân cho nhau và dấn thân cho chúng”. [Trích dẫn từ Thư Mục Vụ của Các Giám Mục Úc “Đừng Xía Vô Hôn Nhân” (Don’t Mess With Marriage)], và biến thành lời của chính ngài trong tông huấn thời danh Niềm Vui Yêu Thương, ĐGH Phanxicô nhấn mạnh rằng mỗi người phối ngẫu “đóng góp theo cách riêng của họ vào việc dưỡng dục đứa con. Tôn trọng phẩm giá của đứa con là khẳng định nhu cầu và quyền tự nhiên của nó được có một người cha và một người mẹ” . ‘Chủ nghĩa thực dân ý thức hệ’ phát sinh từ các trình bầy lẫn lộn về dục tính và hôn nhân đã làm méo mó kế hoạch của Thiên Chúa dành cho sáng thế, bác bỏ các quyền tự nhiên của con cái, gây hại cho các cá nhân và cộng đồng, và phải bị chống đối. Thế nhưng, buồn thay, “nhiều nước đang mục kích việc người ta dùng luật pháp phá hủy gia đình, nghiêng về phía tiếp nhận các mẫu mực gần như độc nhất đặt căn bản trên tính tự trị của ý chí cá nhân” .

Không hề thu hồi việc Giáo Hội Công Giáo, trong hai ngàn năm qua, luôn nhấn mạnh rằng (theo mạc khải Thiên Chúa và luật tự nhiên) hôn nhân chỉ có thể giữa một người đàn ông và một người đàn bà, ĐGH Phanxicô từ trước đến nay vốn mạnh mẽ bênh vực lập trường này. Những ai cho rằng ngài ủng hộ chiến dịch “có” của họ trong cuộc trưng cầu ý dân sắp tới, một là chưa đọc ngài, hai là cố tình trình bầy sai về ngài. Bỏ phiếu với Đức Giáo Hoàng Phanxicô là BỎ PHIẾU KHÔNG.

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.