Không Ai Biết Trước Ngày Mai

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Tiếp theo

Điều mà một bệnh nhân nằm ở nhà thương hằng mong mỏi là mau được khỏi bệnh để trở về nhà. Vì nhà thương không phải là nhà của mình. Tâm lý chung chung của bệnh nhân nằm ở nhà thương đều như thế. Riêng bản thân con, trong thời gian ấy, con cũng luôn mong mỏi mình sớm được khỏi bệnh. Nhưng trường hợp của con khác với các bệnh nhân khác là: con không có nhà để trở về.

Con được Đức Giám mục Jeremiah Coffey, Giám mục Giáo phận Sale viết thư mời qua Úc để học và để trở thành linh mục cho Giáo phận này. Khi con qua Úc, con là một người khỏe mạnh và đầy đủ các yếu tố cần thiết để trở thành một linh mục. Do đó, Giáo phận Sale bảo lãnh và tài trợ tài chính cùng mọi thứ cho con để con học tại Đại chủng viện Corpus Christi, Melbourne, Úc Châu. Con bắt đầu học tại Đại chủng viện Corpus Christi từ ngày 18 tháng 2 năm 2007 với visa sinh viên 8 năm (từ năm 2007 đến năm 2015).

Có thể nói, từ ngày con đặt chân đến nước Úc, Đức cha Jeremiah Coffey, đại diện cho Giáo phận Sale, rất thương con và ngài đã lo cho con rất chu đáo. Đến ngày 2 tháng 1 năm 2008 Đức cha Jeremiah Coffey nghỉ hưu. Một thời gian khá dài Giáo phận Sale trống ngôi. Đến ngày 15 tháng 7 năm 2009, một Giám mục mới (con xin phép không nêu tên ngài trong bài viết này) được Tòa Thánh bổ nhiệm về làm Giám mục chính tòa của Giáo phận Sale. Kể từ ngày Đức cha này nhận Giáo phận, ngài cũng rất thương con và lo cho con đầy đủ mọi sự. Thời gian trước khi bị tai nạn rồi bị bệnh, con được ngài và các cha trong Giáo phận Sale “cưng” vô cùng. Có thể nói, các ngài nâng con như nâng trứng vậy. Vì thời điểm đó, chỉ mình con là Đại chủng sinh của Giáo phận này. Vì thuộc vào loại hàng quý, hiếm nên con được các ngài thương yêu, nuông chiều cũng là chuyện thường thôi. Sau mấy năm theo học tại Đại chủng viện Corpus Christi, chính vị Giám mục này là người đã quyết định truyền chức Phó tế cho con vào ngày 16 tháng 3 năm 2011 – và ngài cho con biết rằng ngài dự tính truyền chức Linh mục cho con trong năm 2011 luôn. Thế nhưng, như quý vị đã biết: Con bị tai nạn, phải nằm nhà thương và việc truyền chức đã bị hoãn lại.

Trong thời gian gần 2 năm ròng rã nằm trong nhà thương St Vincent ở Melbourne, Đức cha và các linh mục cũng như giáo dân thuộc Giáo phận Sale vẫn cầu nguyện cách đặc biệt cho con và họ vẫn thăm viếng con đều đặn. Trong bản tin của các giáo xứ trong Giáo phận Sale vẫn luôn ghi tên con vào trang cầu nguyện để tất cả các giáo dân cầu nguyện cho con mỗi cuối tuần. Nhưng kể từ ngày Đức cha này nhận được bản báo cáo kết quả bệnh tình của con từ các bác sĩ ở nhà thương St Vincent, Melbourne thì mọi chuyện đã trở nên khác.

Con còn nhớ, vào một buổi sáng, ban điều hành nhà thương St Vincent đã mời Đức cha Giáo phận Sale, đại diện cho gia đình con, đến họp để nghe tình hình về sức khỏe của con. Đức cha cùng với ban điều hành, các bác sĩ chuyên khoa, các nhân viên xã hội của nhà thương và luật sư riêng của nhà thương St Vicent cùng họp. Nửa đầu buổi họp con không được phép tham gia, nhưng nửa sau buổi họp thì nhân viên nhà thương đã vào phòng đẩy con vào phòng họp trên chiếc xe lăn điện.

Các bác sĩ chuyên khoa đã cho Đức cha này và mọi người biết một kết quả không mấy sáng sủa về tình trạng của con. Khi con vào phòng họp thì họ cũng đã nhắc lại nội dung cuộc họp từ ban đầu cho con nghe. Các bác sĩ chuyên khoa cho biết rằng: “Con không bao giờ tự ngồi dậy, tự đứng dậy và tự đi lại được nữa. Con sẽ nằm trên giường hoặc may lắm thì sẽ ngồi xe lăn suốt những tháng năm còn lại. Con thuộc vào dạng bệnh nhân phải được chăm sóc đặc biệt (high care), cần y tá trợ giúp 24/24 giờ mỗi ngày”. Nghe xong kết quả đó, Đức cha của Giáo phận Sale đã quyết định luôn trong cuộc họp. Đức cha đã tuyên bố rằng: “Thay mặt cho Giáo phận Sale, tôi, Giám mục (…) quyết định kể từ hôm nay sẽ không nhận thầy Tao Pham là chủng sinh của Giáo phận Sale nữa. Chúng tôi sẽ cắt tất cả mọi nguồn tài trợ mà trước đây chúng tôi đã tài trợ cho ông thầy này. Chúng tôi cũng thông báo luôn với quý vị: Kể từ hôm nay, chúng tôi sẽ không có trách nhiệm gì trên thầy Tao Pham nữa.” Với một quyết định mà theo một số Giám mục và một số linh mục ở Melbourne gọi là “quyết định nóng vội” của Đức cha này đã đẩy con vào thế bế tắc và con đã chính thức trở thành một kẻ không nhà. Một vài vị Giám mục từng nói với con: “Nếu vị Giám mục ấy về lại Giáo phận, họp với ban cố vấn và các linh mục trong Giáo phận rồi hãy quyết định thì tốt hơn mọi đàng.” Nhưng thực tế thì sự việc đã không như vậy!

Sau khi vị Giám mục này tuyên bố một cách quyết liệt và “cạn tàu ráo máng” như vậy thì vị luật sư riêng của nhà thương St Vicent đã lên tiếng. Vị luật sư cho Đức cha này và mọi người biết rằng: Quyết định và tuyên bố của vị Giám mục này không phù hợp với cả luật đời và luật đạo. Về luật đời: Giáo phận Sale bảo lãnh ông thầy này qua Úc học trong vòng 8 năm để trở thành linh mục phục vụ trong Giáo phận. Nhưng hiện giờ (năm 2012) thì visa sinh viên của ông thầy này vẫn còn có giá trị thêm 3 năm nữa (năm 2015). Vì thế, theo luật, từ nay cho đến năm 2015 thì Giáo phận Sale vẫn phải có trách nhiệm đối với ông thầy này. Giáo phận Sale không thể  phủi tay, “đem con bỏ chợ” như vậy được! Trừ khi ông thầy này đồng ý ký hủy visa sinh viên của mình thì mọi chuyện mới có thể khác được. Tiếp theo đó, vị luật sư này và các nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent nói thẳng với Đức cha này rằng: “Hiện nay ông thầy này cần một nơi ở để xuất viện. Xin Giám mục tìm cho ông thầy một chỗ ở trong Giáo phận hoặc bất kỳ ở nơi đâu một thời gian tạm. Nếu vài tuần hay một tháng mà ông thầy cần quay trở lại nhà thương thì nhà thương vẫn sẵn sàng đón nhận thầy. Chúng tôi buộc ông thầy phải xuất viện vì theo quy tắc của nhà thương này thì không cho phép bất kỳ bệnh nhân nào ở liên tục trong nhà thương quá một năm rưỡi. Ông thầy này đã ở trong nhà thương này gần trọn hai năm nên buộc phải xuất viện. Tiếp theo đó, vị luật sư và nhân viên xã hội của nhà thương cho Đức cha này biết rằng, ông thầy này cần một chiếc xe lăn bằng điện để di chuyển. Nên việc tối thiểu trước mắt là Giáo phận Sale phải mua cho ông thầy này một chiếc xe lăn điện.”

Nghe xong những lời giải thích của vị luật sư và các nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent thì Đức cha Giáo phận Sale đã đồng ý mua cho con một chiếc xe lăn bằng điện loại tốt. Còn việc tìm chỗ ở cho con thì Đức cha này không hứa, ngài chỉ nói là chúng tôi sẽ cố gắng thôi.

Sau cuộc họp đó, vị luật sư và nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent đã gặp riêng và tư vấn cho con rằng: “Chúng tôi nghĩ rằng, trước sau gì thì Đức Giám mục của Giáo phận Sale cũng sẽ yêu cầu ông thầy ký tên để hủy visa sinh viên của thầy. Nếu ông thầy đồng ý hủy (cancel) visa sinh viên thì chuyện ông thầy phải trở về Việt Nam chỉ là nay mai thôi. Còn nếu ông thầy không đồng ý ký tên hủy visa sinh viên của thầy thì chúng tôi sẽ tìm cách giúp thầy ra tòa để được ở lại tiếp tục chữa bệnh. Vì visa sinh viên của thầy còn có giá trị đến năm 2015, tức là còn 3 năm nữa mới hết hạn. Còn nếu Giáo phận Sale vẫn tiếp tục thẳng thừng từ chối việc bảo lãnh cho ông thầy thì nhà thương này (St Vicent’s hospital), chúng tôi sẽ đứng ra bảo lãnh cho thầy.” Con đã nghe theo lời tư vấn của vị luật sư và nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent để từ chối việc ký tên hủy visa sinh viên.

Đúng như lời của vị luật sư và các nhân viên xã hội dự đoán: Vị Giám mục này đã về Tòa Giám mục và gọi thư ký chuẩn bị hồ sơ (form) hủy visa sinh viên của con. Sau đúng 3 ngày, chính vị Giám mục này đã đưa các giấy tờ này xuống tận nhà thương, nơi con đang nằm để yêu cầu con ký tên, hủy visa sinh viên. Vì đã được tư vấn từ vị luật sư và nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent nên con đã từ chối, không ký. Cứ tưởng câu chuyện dừng lại ở đó. Nhưng cách đó hơn một tuần thì vị Giám mục này lại mang giấy tờ hủy visa sinh viên của con đến tận nhà thương và lại yêu cầu con ký. Cũng như lần trước, con không ký tên vào các giấy tờ để hủy visa sinh viên của con đã chuẩn bị sẵn. Con nghĩ rằng, chắc mình đã từ chối hai lần rồi thì vị Giám mục này sẽ không ép mình ký tên nữa, Nhưng sau đó vài tuần ngài lại mang số giấy tờ hủy visa sinh viên của con tới nhà thương yêu cầu con ký tên. Lần thứ ba cũng vậy, con dứt khoát không ký.

Thành thật mà nói, trong suốt hành trình học tập và tu luyện thì con là người luôn vâng lời các bề trên. Con vẫn hằng tâm niệm theo lối người xưa rằng: “Ý bề trên là ý Chúa.” Nhưng trong bối cảnh và sự việc nó diễn ra như thế thì con tuyệt đối không vâng lời mà không sợ tội. Vì lúc này, con nhận ra rằng bề trên không đáng để con đặt trọn niềm tin vào đó một cách tuyệt đối. Con không vâng lời “bề trên” trong việc này vì con đã nhận ra ý bề trên hoàn toàn không phải là ý Chúa. Qua sự việc này con có thêm được một bài học chua xót cho mình rằng: “Đạo cũng như đời thôi, người ta sẽ sẵn sàng vứt bỏ mình vào sọt rác khi mà người ta thấy mình không còn giá trị lợi dụng nữa!”

Sau “ba bận” yêu cầu và thuyết phục không thành công, vị Giám mục ấy đã thay đổi “chiến thuật” với hy vọng rằng, con sẽ đồng ý ký tên, hủy visa sinh viên của con. Với chiến thuật mới, vị Giám mục này đã viện trợ tới một vị Giám mục người Việt (con xin phép không nêu tên vị này trong bài viết), vị này vừa là học trò của ngài ở khi học Melbourne và vừa là bạn học cùng trường khi hai vị ở Roma, đến thuyết phục con. Vị Giám mục người Việt này đã vào trung tâm vật lý trị liệu của nhà thương St Vincent để gặp con. Khi ngài đến phòng con thì con đang đi tập vật lý trị liệu ở phòng tập. Không thấy con ở trong phòng bệnh, nên ngài đã viết vào mảnh giấy để lại trên giường con như sau: “Thầy Tạo, mình là Đức cha (…) đến thăm thầy và muốn bàn với thầy một vấn đề rất quan trọng nhưng thầy không có ở trong phòng. Mình viết lại mấy dòng này và để lại số điện thoại di động của mình đây (….). Khi thầy đọc được những dòng mình gửi đây, xin vui lòng gọi điện cho mình để hẹn lúc nào đó anh em gặp nhau để trao đổi về một vấn đề rất quan trọng nhé!” Vị Giám mục này có ký tên đàng hoàng.

Trong lúc từ phòng con ra về thì ngài đã gặp con gần chiếc cầu thang máy của trung tâm vật lý trị liệu. Lúc đó, con vừa mới tập xong, đang ngồi trên chiếc xe lăn điện và một nhân viên của trung tâm vật lý trị liệu cùng đứng bên. Thấy con, vị Giám mục đó hỏi: “Có phải thầy Tạo đây không?” Con thưa: “Vâng, chính con đây.” Ngài nói:

“Mình đã vào phòng thầy và chờ ở đó khá lâu, không thấy thầy trở về phòng nên mình phải về và mình đã viết mấy dòng để trên giường thầy rồi. Nhưng gặp thầy đây, mình muốn nói chuyện với thầy ít phút được không?” Con trả lời: “Dạ, thưa Đức cha được ạ!” Ngài hỏi: “Mình về phòng thầy nói chuyện hay ở đây?” Con thưa với ngài: “Nếu Đức cha không phiền thì mình vào cái phòng tập này nói chuyện cũng được vì giờ không còn ai đến tập trong phòng này nữa đâu ạ!” Vị Giám mục đó đồng ý. Sau đó, con đã xin phép nhân viên của trung tâm để quay xe lăn lại vào phòng tập và nói chuyện với vị Giám mục ấy.

Mở đầu câu chuyện, vị Giám mục ấy nói rằng: “Mình có nghe về trường hợp bệnh tật của thầy. Qua nhiều người và mình cũng đã được nghe về báo cáo của các bác sĩ chuyên khoa về tình trạng của thầy rồi. Mình nghĩ bây giờ thầy phải đưa ra một quyết định. Theo mình nghĩ, ơn gọi linh mục của thầy coi như đã chấm hết. Thầy nên trở về Việt Nam để dưỡng bệnh. Vì ở Việt Nam ít ra thầy cũng còn anh, chị, em và các cháu. Thầy về Việt Nam trong hoàn cảnh này sẽ tốt hơn. Việc thầy quyết định trở về Việt Nam lúc này sẽ tốt hơn cho bản thân thầy và tốt hơn cho Giáo phận Sale nữa.” Con thưa với ngài: “Con cám ơn Đức cha đã đến thăm con! Việc về hay ở con cũng đã suy nghĩ khá kỹ rồi.” Ngài tiếp lời rằng: “Thầy biết không, một người bệnh ở trên nước Úc này phải chi phí rất tốn kém. Với tình trạng của thầy thì không còn cơ hội làm được linh mục được nữa. Nếu thầy ở lại Úc, bắt người ta phải lo cho thầy nơi ăn nơi ở thì tội người ta lắm. Theo mình thì thầy ký tên, hủy visa sinh viên rồi thu xếp trở về Việt Nam là vừa. Đức Giám mục Giáo phận Sale cũng đã trao đổi với mình về việc kêu gọi người Việt Công giáo ở Melbourne gây quỹ để giúp thầy có một số tiền về Việt Nam sinh sống trong những tháng năm còn lại.”

Sau khi nghe những lời thuyết phục từ vị Giám mục người Việt này, con đã thưa với ngài một cách quả quyết như sau: “Thưa Đức cha! Con đã quyết định xin ở lại đây để chữa bệnh. Con đã nhờ luật sư của con soạn thảo văn bản để trình lên Tòa án của Bộ Di trú rồi. Con hoàn toàn không muốn ở lại Úc để trở thành gánh nặng cho ai cả. Khi con qua đây, con là một người hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng số kiếp không may, con bị tai nạn rồi bị bệnh trầm trọng như bây giờ. Con quyết định xin ở lại trước hết là muốn chữa khỏi bệnh: sau nữa, nếu con khỏe lại con sẽ làm linh mục để phục vụ cho người Úc ở đây. Đây là lý tưởng trước khi con đặt chân đến nước Úc theo lời mời của Đức cha Jeremiah Coffey, Giám mục Giáo phận Sale. Cám ơn Đức cha đã cùng với Đức cha Giáo phận Sale hiện tại trao đổi về việc kêu gọi người Việt gây quỹ, quyên góp giúp đỡ con. Nhưng đối với con, nếu Đức cha và Đức cha của Giáo phận Sale kêu gọi giáo dân người Việt ở đây giúp đỡ con thì rất bất công cho họ. Con sẽ không đồng ý vấn đề đó.” Vị Giám mục người Việt hỏi con: “Tại sao thầy không đồng ý?” Con đã trả lời với ngài rằng: “Thưa Đức cha! Con qua đây là do một Giáo phận của Úc mời con qua. Con qua đây học để trở thành linh mục rồi phục vụ giáo dân Úc chứ không phải phục vụ giáo dân người Việt. Như vậy, tại sao các Đức cha lại yêu cầu và kêu gọi người Công giáo Việt Nam ở đây giúp con?” Sau đó, con nói thêm: “Thưa Đức cha! Nếu Đức cha đến thăm con thì con xin hết lòng cám ơn. Còn nếu Đức cha đến đây để khuyên con trở về Việt Nam trong hoàn cảnh này thì câu chuyện giữa Đức cha và con hôm nay đây không còn gì để nói tiếp nữa.”  Sở dĩ con dám nói như vậy bởi vì đây là lần đầu tiên vị Giám mục người Việt này đến thăm con trong nhà thương. Trong thời gian con bị hôn mê bất tỉnh 74 ngày đêm nếu ngài đã thăm con hay không thì con không biết. Nhưng kể từ ngày con mở mắt nhìn thấy cho đến lúc ngài gặp con đây là lần đầu tiên. Sở dĩ con dám nói lên những lời đó bởi vì: Vị Giám mục người Việt này có phải là con đâu mà dám nghĩ giùm cho con?! Vị Giám mục người Việt này có nằm trong hoàn cảnh của con đâu mà dám nghĩ thay cho việc quyết định của con?! Vị Giám mục này có chịu đau, chịu khổ, bị bỏ rơi như con đang chịu lúc ấy đâu mà dám nghĩ thay cho con, dám khuyên con trở về Việt Nam càng sớm càng tốt?! ….???.

Cứ tưởng rằng sau sự kiện gặp vị Giám mục người Việt đó con sẽ được yên thân! Nhưng không, ngoài việc nhờ một Giám mục người Việt vào khuyên con trở về Việt Nam, Đức Giám mục Giáo phận Sale còn nhờ một người bạn linh mục khác người Úc (con xin phép không nêu tên ngài trong bài viết này) cũng vào khuyên con về chuyện quyết định trở về Việt Nam càng sớm càng tốt. Vị linh mục này lúc đó là Phó Giám đốc của một Đại chủng Viện ở Úc.

Sau khi vị Giám mục người Việt vào khuyên con được vài tuần thì vị linh mục bạn của Đức Giám mục Giáo phận Sale vào gặp con trong nhà thương. Vị này vào khuyên con rằng: “Thầy ơi! Lý tưởng trở thành linh mục của thầy coi như đã tận. Đây là một bước ngoặt (turning point) trên hành trình ơn gọi của thầy. Thôi! Thầy hãy thôi chuyện ước mơ làm linh mục đi. Thầy đừng nghĩ đến chuyện làm linh mục làm chi nữa cho mệt óc.” Sau đó, vị linh mục này còn khuyên một cách táo bạo như sau: “Với tình trạng sức khỏe của thầy, với hoàn cảnh của thầy, thôi thì hãy trở về quê, tìm một bà góa (single mum) năn nỉ người ta yêu thương mình rồi cưới người ta làm vợ. Người ta sẽ lo cho cuộc sống của thầy trong đoạn đường còn lại.” Nghe xong những lời khuyên “xóc óc” đó con rất buồn. Con đã nói với vị linh mục ấy rằng: “Thưa cha! Đối với một người đàn ông như con thì còn “làm ăn” được gì nữa mà nghĩ đến chuyện vợ con? Suốt đời con chỉ ước mơ trở thành một linh mục để phục vụ trong Hội Thánh. Nếu ước mơ con không thành thì con cũng sẽ sống một mình cho đến chết. Con sẽ không bao giờ nghe theo lời khuyên của cha để chất gánh nặng, bắt người khác vác đâu. Cám ơn cha, con mệt rồi, con nghỉ chút đây.”

Sau câu chuyện Đức Giám mục giáo phận Sale vào “ép” con ký tên, hủy visa sinh viên của con đến ba lần, rồi đến hai người bạn thân của ngài vào tiếp tục khuyên con trở về Việt Nam càng sớm càng tốt và đừng nghĩ ngợi gì đến chuyện làm linh mục nữa, con đã bắt đầu hoang mang rồi đặt vấn đề về lương tâm và cách ứng xử của một số chức sắc trong Giáo hội Công giáo ở tiểu bang Victoria, Úc Châu. Qua trường hợp của riêng con, đã cho thấy sự đối lập rõ ràng giữa hai cá nhân: một luật sư và một Giám mục Công giáo ở đây. Vị luật sư của nhà thương St Vincent, Melbourne thì tìm mọi cách để giúp đỡ con được ở lại điều trị cho khỏi bệnh, còn vị Giám mục Công giáo kia thì lại tìm mọi cách để ép con phải trở về Việt Nam cho rảnh nợ. Trong khi đó, vị luật sư này không quen biết gì con, cũng chẳng có trách nhiệm gì trên con, còn vị Giám mục Công giáo kia là người đã đại diện cho cả một Giáo phận chịu trách nhiệm, bảo lãnh cho việc học hành và sinh sống của con ở Úc. Rồi qua trường hợp của con cũng đã cho thấy rõ sự đối lập giữa hai tổ chức: Một bên là, nhà thương St Vincent ở Melbourne, không hề quen biết con từ trước, nhưng họ đã dám đứng ra bảo lãnh trước Tòa án của Bộ Di trú để con có cơ hội ở lại chữa bệnh; còn một bên là cả một Giáo phận Công giáo thì lại tìm cách để thối thác, để ép ký tên, hủy “hợp đồng” bảo trợ con trong khi visa con vẫn còn 3 năm mới hết hạn.

Đôi lúc con tự hỏi: “Khi nghe tin con được lãnh nhận thừa tác vụ Linh mục thì hai vị Giám mục kia và vị linh mục đã từng vào nhà thương khuyên con có chút gì áy náy trong lương tâm của các vị ấy không? Khi các vị ấy biết con đang phục vụ ở các giáo xứ: dâng lễ và giảng dạy mỗi ngày, không biết các vị có còn nhớ những lời lẽ mà các vị ấy đã từng khuyên con không? Qua trường hợp của con, không biết hai vị Giám mục và vị linh mục ấy có rút ra được bài học kinh nghiệm gì không?…???”.

Kính thưa quý độc giả! Người ta nói: “không nên vạch áo cho người xem lưng.” Đúng vậy! Nhưng vì qua tựa đề “KHÔNG AI BIẾT TRƯỚC NGÀY MAI” của con là một câu chuyện dài, xuyên suốt trong thời gian con nằm ở nhà thương. Cho nên, khi viết con không có quyền để chỉ viết toàn chuyện hay, chuyện tốt, mà con phải viết lên cả những câu chuyện buồn nữa. Trước khi viết câu chuyện này, con cũng đã đắn đo, cầu nguyện nhiều giờ để tìm ý Chúa. Và cuối cùng, như có một động lực vô hình nào đó, bên ngoài con, thôi thúc con hãy viết lên những câu chuyện thật này đi. Viết lên, kể lại để quý bạn đọc biết được cả mặt trái và mặt phải của vấn đề; để quý bạn đọc biết phân biệt được người tốt và người xấu; để quý bạn đọc rút ra được những điều cần rút kinh nghiệm để rồi đối nhân xử thế sao cho thuận tình đạt ý.

Tháng Hoa, tháng dâng hoa kính Mẹ Maria đã bắt đầu, con chân thành kính chúc tất cả quý ông, bà, anh, chị em đọc Báo Dân Chúa Úc Châu sống một Tháng Hoa thật sốt sắng. Qua việc dâng những bông hoa tươi cùng với những hoa lòng lên Mẹ, nguyện xin Chúa, qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, xin ban cho tất cả quý vị và gia quyến tràn đầy phúc lộc và bình an!

Thật ra, nếu như con có nơi ở để xuất viện thì con sẽ không phải nằm trong nhà thương St. Vincent ở Melbourne đến 688 ngày đêm đâu. Vì vào thời điểm này các bác sĩ và đại diện nhà thương đã rất muốn cho con xuất viện. Hơn nữa, bản báo cáo của các bác sĩ chuyên khoa về tình trạng sức khỏa của con đã được đọc cho vị Giám mục Giáo phận Sale cùng mọi người trong phòng họp nghe vào giữa tháng 8 năm 2012. Trong cuộc họp hôm đó, đại diện nhà thương đã cho biết, ông thầy này có thể xuất viện nay hoặc mai nếu Giáo phận Sale có thể tìm được một nơi để ông thầy ở.

Người xưa vẫn nói: “ăn nhạt mới biết thương mèo” – có sống trong hoàn cảnh của “kẻ không nhà” thì mới hiểu hết nỗi khó khăn, cùng cực và nhục nhã của những người “vô gia cư”! Quả rất đúng khi người Việt Nam mình thường có câu: con người ta có hai thứ cần nhất, đó là “Sống có nhà thác có mồ!” Được sinh ra và sống ở đời thì ai cũng mong lúc sống có căn nhà để tránh nắng, trú mưa; lúc chết thì có mấy thước đất để chôn xác và xây cất một nấm mộ. Nhớ lại thuật ngữ “Sống vô gia cư, thác vô địa táng” là câu nói của các cụ thời xưa, xem ra có vẻ khinh miệt đối với những kẻ lúc sống không nhà cửa, lúc chết không có được một nấm mộ để chôn vùi thân xác. Vì con đang sống, chưa chết hẳn, nên câu chuyện của tháng này con không muốn nói đến “thác vô địa táng” mà chỉ xin kể lại câu chuyện khốn khổ của một kẻ không nhà, “sống vô gia cư” ngay trên nước Úc.

Khoảng hai tuần sau khi cuộc họp diễn ra ở nhà thương, tức là vào cuối tháng 8 năm 2012, vị Giám mục Giáo phận Sale đã tới nhà thương để gặp vị đại diện nhà thương và gặp con. Về phía nhà thương cũng như bản thân con cứ mong rằng ngài tới, sẽ mang đến cho con một tin tốt lành và một niềm hy vọng mới. Nhưng không, ngài đến không phải là đem tin vui hay niềm hy vọng gì cả, nhưng ngài đến chỉ để nói lời thối thác cuối cùng rằng: “Chúng tôi đã cố gắng hết sức, nhưng đến nay vẫn không thể tìm ra được nơi nào cho ông thầy trú ngụ. Vì vậy, chúng tôi sẽ ngưng việc tìm nơi ở cho ông thầy và kể từ hôm nay chúng tôi không có trách nhiệm gì về việc này nữa. Nhà thương có cách nào giúp được ông thầy thì cứ tự do thực hiện.” Sau lời khước từ một cách dứt khoát của vị Giám mục ấy, chuyện “thầy Tạo không nơi trú ngụ” đã lan truyền và đã có khá nhiều người biết. Trong số những người biết rõ câu chuyện này nhất là: Đức Tổng Giám mục Denis Hart, các Giám mục Phụ tá và các Linh mục trong Tổng Giáo phận Melbourne.

Về phía nhà thương, các nhân viên xã hội đã đi gõ cửa rất nhiều nơi để mong có ai đó sẵn sàng mở cửa đón con vào ở. Nhưng công việc của các nhân viên xã hội này đã như “mò kim đáy biển” vậy! Cuối cùng, ban Giám đốc nhà thương, cùng với các ban nghành trong nhà thương đã quyết định gửi người đại diện tới gặp trực tiếp Đức Tổng Giám mục Denis Hart để trình bày sự việc và nhờ ngài can thiệp, giúp đỡ con. Đồng thời, nhà thương tìm luật sư về Di trú để lo chuẩn bị cho con việc gặp Tòa Án tại thành phố Melbourne với mục đích xin cho con ở lại để chữa bệnh. Nhà thương đã tìm được một luật sư rất giỏi. Nhà thương cho con biết lệ phí đóng cho Tòa Án và luật sự là $1,500 (một ngàn năm trăm đô la). Nhưng khi tìm hiểu và biết về hoàn cảnh của con thì luật sư chỉ lấy một nửa số tiền, $750. Số tiền này chính nhà thương St Vincent, Melbourne xuất ra trả thay cho con.

Khi luật sư này nộp đơn và hồ sơ của con lên Sở Di Trú ở thành phố Melbourne thì Tòa án yêu cầu con phải có người bảo lãnh thì họ mới tiến hành giải quyết các bước kế tiếp. Vì thế vị luật sư đó đã phải liên hệ với Tòa Giám mục Giáo phận Sale để hỏi họ về chuyện bảo lãnh. Đại diện Tòa Giám mục Giáo phận Sale đã trả lời: “Chúng tôi không bảo lãnh cho thầy Tao Pham nữa.” Vị ấy còn cho vị luật sư biết: “Chúng tôi đã gửi bằng văn bản để báo cho Bộ Di Trú biết rằng, dù thầy Tạo không chịu ký vào văn bản hủy visa sinh viên thì chúng tôi cũng tuyên bố Tòa Giám mục Giáo phận Sale không tài trợ và không còn trách nhiệm gì trên ông thầy nữa.” Vị luật sư đó của nhà thương đã trình bày lại sự việc cho lãnh đạo nhà thương St Vincent về chuyện Tòa Giám mục Giáo phận Sale đã từ chối việc tiếp tục bảo lãnh cho con. Nhà thương St Vincent sau đó đã tổ chức một cuộc họp và họ quyết định rằng: Nhà thương St Vincent tại Melbourne sẽ là pháp nhân, đứng ra bảo lãnh cho thầy Tao Pham để thầy có cơ hội ở lại chữa bệnh. Theo con biết, đây là một chuyện “vô tiền khoáng hậu” – trước đây chưa hề có chuyện này và sau này cũng sẽ không bao giờ có.  Vì con đã nghe nói rằng, nhà thương St Vincent tại Melbourne chưa bao giờ đứng ra bảo lãnh cho một bệnh nhân người ngoại quốc nào, để được ở lại chữa bệnh như trường hợp của con. Có lẽ đây là lần duy nhất mà nhà thương St Vincent đã mạo hiểm làm việc này.

Về phía Tòa Giám mục, Đức Tổng Giám mục Denis đã nhận lời giúp đỡ con, nhưng theo kiểu “âm thầm” vì có những vấn đề “tế nhị” giữa các giám mục với nhau. Dẫu sao trước đây và cho đến lúc này thì con cũng đã là một Đại chủng sinh của Giáo phận Sale. Cho nên, Đức Tổng Giám mục đã âm thầm cử Đức Ông Anthony Ireland đến nhà thương St Vincent, Melbourne để gặp con và vị đại diện của nhà thương. Đức Ông Anthony Ireland là người chuyên lo về vấn đề chăm sóc sức khỏe và chuyện hưu dưỡng cho các Giám mục, Linh mục và Tu sĩ trong Tổng Giáo phận Melbourne. Rất may mắn cho con, vì trước đây, Đức Ông Anthony Ireland là Giám đốc Đại chủng viện của con tại Melbourne nên ngài rất hiểu, rất thương và rất thông cảm cho hoàn cảnh của con. Đức Ông đã đến ân cần hỏi thăm, hỏi về nguyện vọng của con. Sau khi nghe con trình bày, ngài hứa là ngài sẽ tìm cho con một nơi ở để xuất viện theo yêu cầu của nhà thương.

Sau khi gặp con và gặp vị đại diện của nhà thương St. Vincent xong, Đức Ông Anthony Irland đã trở về trình bày mọi việc với Đức Tổng Giám mục Denis Hart. Đức Tổng Giám mục đã giao cho ngài nhiệm vụ liên lạc với một số cha và một số bề trên các Hội Dòng ở Melbourne để xin cho con tá túc, dưỡng bệnh. Đức Ông Anthony Irland đã tiến hành việc đó, nhưng đã qua một thời gian khá dài, không có linh mục nào trong Tổng Giáo phận Melbourne dám “cưu mang” con cả. Vì thời gian đó sức khỏe của con còn yếu, hơn nữa, không đi lại được, nên có lẽ ai cũng sợ nếu nhận con, lỡ mà con chết đột ngột trong nhà xứ của các ngài thì không ổn. Có lẽ vì sợ không gánh nổi trách nhiệm nên tất cả các vị đều từ chối bằng cách giữ im tiếng, không trả lời. Trong thời gian liên hệ với các hội dòng, các cha xứ để xin chỗ ở cho con, thỉnh thoảng ngài cũng ghé nhà thương thăm con. Con thường hỏi ngài: “Đức Ông đã tìm ra nơi ở cho con chưa?” Ngài nói hiện tại thì chưa có, nhưng thầy cứ yên tâm, trước sau gì thì cũng sẽ có nơi nhận thầy về ở thôi. Tưởng những lời ngài nói chỉ mang tính cách động viên thôi, nhưng rồi “một tia hy vọng đã lóe lên ở cuối đường hầm” – may mắn thay, cuối cùng thì Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew đã lên tiếng, vui nhận con về sống với Cộng đoàn trong Tu viện ở Kew.

Con còn nhớ, vào một buổi sáng, theo yêu cầu của Đức Tổng Giám mục Denis Hart, Đức Tổng Đại diện Greg Bennet, Đức Ông Anthony Irland, cha William Goldman, khi đó ngài là Giám đốc Tu viện và cha Des Fiszgerald là Cố vấn Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew đến nhà thương St. Vincent, Melbourne gặp vị đại diện nhà thương St. Vincent và gặp con. Sau chừng một giờ đồng hồ hỏi han, trao đổi và xem xét tình trạng sức khỏe của con, hai vị linh mục này đã “làm liều” tạm đồng ý cho phép con về Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew để dưỡng bệnh. Hứa vậy, những có lẽ các ngài thấy tình trạng sức khỏe của con không mấy bảo đảm, nên trước khi chia tay ra về, hai vị linh mục này đã nói với vị đại diện nhà thương rằng: nhân viên nhà thương phải đưa ông thầy tới nhà Dòng trước để xem thử chiếc xe lăn điện của ông thầy có đi lọt tất cả các cửa cần ra vào hay không? Nếu xe lăn điện ông thầy sử dụng mà không lọt qua các cửa trong Tu viện được thì nhà Dòng sẽ không nhận cho ông thầy đến ở. Còn nếu việc di chuyển của ông thầy trong nhà Dòng bằng xe lăn không gặp khó khăn hay rắc rối gì thì Tu viện tạm chấp nhận cho ông thầy sống thử trong Tu viện hai hoặc ba tuần. Nếu trong thời gian hai hoặc ba tuần này sức khỏe ông thầy vẫn ổn định, không xảy ra chuyện gì bất trắc, gây ảnh hưởng cho Tu viện thì ông thầy sẽ tiếp tục được phép ở trong Tu viện. Còn nếu trong thời gian trong hai hay ba tuần này mà sức khỏe của ông thầy không ổn định hoặc xảy ra những chuyện bất trắc trong vấn đề ăn, ở nơi Tu viện thì chúng tôi sẽ liên lạc với vị đại diện nhà thương để trả ông thầy lại cho nhà thương St. Vincent, Melbourne.

Trải qua một thời gian khá dài loay hoay, vất vả tìm kiếm và bị khá nhiều nơi khước từ chuyện cho con tá túc, nay đã được một Tu viện mở lời và hứa “cưu mang” con trong giai đoạn hết sức khó khăn này. Chính vì thế, con cũng như các nhân viên trong nhà thương St. Vincent mừng lắm. Tuy chuyện tương lai vẫn còn rất mù mịt, chưa có gì sáng sủa và việc được tạm trú lâu dài trong Tu viện hay không vẫn là điều chưa chắc chắn lắm, nhưng dẫu sao thì con cũng đã có thể có một nơi ở để xuất viện.

Sáng ngày hôm sau, nhân viên của nhà thương đã gọi một chiếc (Maxi Taxi) taxi chuyên dụng đến nhà thương để đưa con đến Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew, thuộc thành phố Melbourne để coi tình hình trước. Từ nhà thương St. Vincent, con ngồi trên chiếc xe lăn điện cùng với hai nhân viên của nhà thương. Ngồi trong chiếc taxi đó, ba chúng con đã cùng nhau tha thiết cầu nguyện và ước mong sao cho mọi sự thuận lợi để con có được một nơi ở tạm. Cả ba đều cầu mong sao cho chiếc xe lăn điện con sử dụng sẽ dễ dàng di chuyển qua tất cả các cửa ngõ trong Tu viện của Dòng Chúa Cứu Thế. Và chúng con cũng cầu nguyện và xin Chúa cho sức khỏe của con tiến triển tốt đẹp hơn để con được ở lâu dài trong Tu viện mà an tâm để dưỡng bệnh.

Khi chúng con vừa đến nhà Dòng ở số 10 Majella Court, Kew, thì cha Bề trên Tu viện (cha William Goldman) đã chào đón chúng con. Sau đó ngài gọi một ông thầy (thầy G.B Đặng Nhật Trường, nay là cha G.B Trường) dẫn chúng con đi xem tất cả những nơi cần xem. Con đã điều khiển chiếc xe lăn điện cùng với hai nhân viên nhà thương theo sau ông thầy đi xem: phòng ở, nhà vệ sinh, phòng khách, phòng cơm, nhà bếp, nhà nguyện,… May mắn thay, tất cả các cửa ra vào ở các nơi cần di chuyển bằng xe lăn điện của con đều trót lọt cả. Xem xong những nơi cần xem, thầy G.B Trường đã mời chúng con vào phòng khách uống trà. Sau đó, chúng con đã chào vị Bề trên và thầy Trường, rồi lên taxi trở về nhà thương St. Vincent, Melbourne.

Rồi đến trưa thứ Ba ngày 4 tháng 3 năm 2013, sau khi hoàn tất mọi thủ tục xuất viện, hai nhân viên nhà thương cùng với con đến Dòng Chúa Cứu Thế cũng bằng một chiếc taxi chuyên dụng. Khi chúng con đến thì một ông thầy đã ra đón và phụ giúp với hai nhân viên nhà thương chuyển một số đồ tư nhân ít ỏi của con vào phòng, nơi con sẽ ở. Sắp xếp mọi thứ cho con xong, hai nhân viên đã chia tay con để trở về nhà thương St Vincent. Khi hai nhân viên của nhà thương về rồi thì một ông thầy của Dòng Chúa Cứu Thế đưa cho con một tờ giấy trên đó ghi rõ các giờ sinh hoạt trong nhà Dòng: Giờ Kinh Sáng, giờ Lễ, giờ Ăn Sáng, giờ Ăn Trưa, Giờ Kinh Chiều, Giờ Ăn Tối… Tiếp theo đó, ông thầy hướng dẫn cho con đường đến phòng ăn và đường đến nhà nguyện của Tu viện.

Còn Tiếp