Không Ai Biết Trước Ngày Mai

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Thời gian con đang nằm trong nhà thương thì đã có khá nhiều người hỏi con: “Trong thời gian nằm liệt giường ở nhà thương Thầy có buồn không?” Rồi sau khi xuất viện và cho đến hôm nay cũng vậy, thỉnh thoảng vẫn còn có người lặp lại câu hỏi đó, nhưng họ đã đổi tiếng “thầy” sang tiếng “cha” thôi: “Trong thời gian nằm liệt giường ở nhà thương Cha có buồn không?” Bị người ta đặt cho mình câu hỏi ấy khá nhiều lần. Và mỗi một khi con bị “người ta” hỏi câu hỏi ấy thì thái độ của con thường vừa cười vừa nói: “Dạ, có chứ! Vì con cũng là một con người bằng xương, bằng thịt, mang đầu đen máu đỏ chứ đâu phải gỗ đá đâu mà không đau không buồn!”

Thực ra, trong thời gian nằm liệt giường ở nhà thương St Vincent’s, Melbourne con buồn lắm! Trong những chuỗi buồn miên man của con thì gồm có những nỗi buồn vu vơ, vô lý và cũng có cả những nỗi buồn chính đáng nữa. Những nỗi buồn vu vơ vô lý là những nỗi buồn con tự mình suy nghĩ rồi diễn giải cho chính mình, rồi nằm đó và đau buồn. Còn những nỗi buồn “chính đáng” là những nỗi buồn do những người khác đem đến làm cho con suy nghĩ rồi buồn đau.

Con xin mạn phép kể về những nỗi buồn vu vơ và vô lý trước. Vào năm 2011, nếu tính thứ bậc và tuổi tác thì con là người đã có vai vế và là “đàn anh” trong Đại chủng viện Corpus Christi ở Melbourne. Thời gian mà con đang nằm trong nhà thương thì thứ bậc và vai vế ấy vẫn chưa có gì thay đổi. Nhà thương St Vincent’s rất gần Đại chủng viện Corpus Christi. Do đó, mọi chuyện xảy ra trong Đại chủng viện và trong trường Đại học nơi con đã từng và đang học, thì con đều tỏ tường. Con được biết mọi chuyện bởi vì hầu như hàng ngày, các cha, các thầy trong Đại chủng viện thường ghé thăm và truyền thông tin con. Tin tức được các cha, các thầy cho biết từ chuyện buồn – vui, từ những chuyện “thượng vàng hạ cám” đều có cả. Trong thời gian ấy, những chuyện làm cho con cảm thấy phải buồn vu vơ đó là những lúc con nhận được thiệp mời đi tham dự lễ truyền chức. Đành rằng, Thánh Phao-lô dạy con: dù trong hoàn cảnh nào thì con hãy “vui với người vui và khóc với người khóc…”. Nhưng thú thật trong thực tế lại cho thấy: con dễ dàng “khóc” và “thương hại” đối với những người kém may mắn, những người đang khóc lóc, hay những người đang gặp trắc trở trong đường đời. Lý do dễ hiểu thôi. Sở dĩ con dễ thông cảm, dễ thương hại và có thể rất dễ khóc với người đó vì nếu đem so sánh với bản thân con với người đó thì con đang hơn họ, may mắn hơn họ. Còn việc “vui với người vui” đối với con trong ngày thường đã khó và rồi trong thời gian bệnh tật xem ra chuyện đó lại càng khó thực hiện hơn nhiều. Con tự suy rồi tự than thở một mình: Vui sao dễ khi mà mình đã là nhân vật thua kém tất cả mọi người, kể cả những người trong những lớp đàn em xa lắc xa lơ của mình?! Vui sao nổi khi mà anh em mình đã chuẩn bị lên bàn thánh, còn mình thì đang vẫn nằm liệt giường ở nhà thương?! Vui sao dễ khi tương lai của anh em thì sáng lạn, còn tương lai của mình thì mù mịt, tối tăm?!

Trước đây con nghe nhiều câu chuyện về một số người vì thất tình rất buồn tủi, chán đời rồi tự quyên sinh thì con cũng cảm thấy khó hiểu. Con thấy khó hiểu vì bản thân mình chưa bị thất tình lúc nào cả. Nằm thong thả trong nhà thương, con lần nhớ lại mình đã từng đọc một bài báo đâu đó kể rằng: Có một chàng trai yêu say đắm một cô con gái trong thời gian rất dài. Hai người đã yêu nhau tha thiết và đã thề non hẹn biển là suốt đời sẽ không xa lìa nhau. Nhưng rồi đùng một cái, cha mẹ người con gái biết chuyện, đã cực lực phản đối và ngăn cản không cho hai người tiếp tục yêu nhau và nhất là không cho phép hai người đi đến hôn nhân. Cuối cùng chàng và nàng đã phải ngậm ngùi, đau đớn chia tay. Sau đó, hai người bắt đầu than thở về chuyện “có duyên mà không có phận” để tự an ủi mình. Rồi một ngày kia, bỗng dưng chàng trai ấy nhận được một tấm thiệp hồng từ người người yêu cũ báo tin rằng: “Xin lỗi anh, em sắp đi lấy chồng”. Cầm tấm thiệp hồng trên tay mà chàng trai kia tưởng như mình đang mơ chứ không phải là thật. Nhưng rồi định hồn lại và biết chuyện nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng là thật thì chàng trai ấy đã hết sức đau khổ: anh ta còn sống mà coi như đã chết. Cầm tấm thiệp hồng trên tay nhưng trong lòng anh ta chắc chắn sẽ ngổn ngang những bấn loạn, những tức giận: hận đời, căm thù bố mẹ người yêu, giận luôn người con gái và rồi anh ta giận luôn chính bản thân mình. Anh ta sẽ rất giận mình về chuyện mình bất lực không thể can đảm vượt qua ‘chướng ngại cha mẹ người yêu’ để cùng nắm tay bạn gái mình đi hết cuộc đời.

Thiệp hồng, ý nghĩa muôn đời của nó vẫn là thiệp mừng, là tin vui thật, nhưng lúc này thì làm sao người con trai ấy mừng vui cho nổi?! Người con trai ấy làm sao mà nói lời “chia vui” thật lòng với người yêu cũ của mình khi mà người con gái bấy lâu nay mình đã từng yêu thương, từng “thề non hẹn biển” đó đang cam tâm chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng?! Trong trường hợp này nếu người con trai ấy vẫn vui trong lòng thật khi nhận được tấm thiệp hồng từ bạn gái thì anh ta có thể đã trọn vẹn thuộc vào loại “người điên không biết buồn” rồi chứ một người bình thường thì không thể nào vui lên được. Và con cũng đã được nghe những câu chuyện tương tự: Có một người con gái đang yêu chàng trai kia say đắm, nhưng chỉ vì một lý do nhỏ nào đó hai người không thể tiếp tục nữa, rồi tự nhiên nhận được tấm thiệp hồng từ người yêu mình chuẩn bị cưới vợ. Dẫu hai người đã chia tay khá lâu, nhưng khi nhận được tấm thiệp hồng từ người yêu cũ, cô gái ấy vẫn điếng người và buồn đau vô hạn. Là một con người gồm lý trí và tình cảm, cô ta cũng không thể nào vui, không thể nào mừng và thật sự không thể nói lên lời “chúc mừng” hay “chia vui” tới tai người yêu của mình được. Trong phút chốc bồng bột và tuyệt vọng quá, cô gái ấy đã trở nên điên dại rồi nhảy cầu tự tử.

Đó là chuyện của những người nhận được thiệp hồng từ người yêu cũ. Còn chuyện mà con buồn trong thời gian ấy không phải là chuyện con nhận được thiệp hồng từ người yêu cũ. Xin thú thật, con đã qua tuổi “tứ tuần” rồi nhưng vẫn chưa hề có một mảnh tình rách để “vắt vai”. Những tấm thiệp con nhận được trong thời gian con ở nhà thương là những tấm thiệp mời tham dự lễ truyền chức. Mỗi lần các thầy đưa Thiệp mời vào trao tận tay và mời con tham dự lễ truyền chức Linh mục hay Phó tế là lòng con lại bắt đầu buồn. Con cứ buồn vu vơ như thế mỗi lần nhận được một tấm Thiệp mời từ anh em. Dẫu biết rằng, cũng chỉ vì tình thương, vì tình nghĩa anh em, bạn bè, nên người anh em sắp được truyền chức thánh, trong Đại chủng viện, mới gửi tấm thiệp mời con đi dự lễ. Nhưng không hiểu sao, cứ mỗi lần như thế thay vì hãy mừng vui lên thì lòng con lại chùng xuống rồi có những khoảnh khắc tự nhiên buồn rười rượi. Con phải đấu tranh bản thân nhiều lắm và cố nằm phân tích rõ ràng là mình nên vui, nên mừng cho người anh em mình vì họ đã đạt được lý tưởng theo đuổi ơn gọi làm linh mục. Đấu tranh tư tưởng thì cứ đấu tranh, phân tích cứ nằm đó mà phân tích, nhưng rồi buồn thì vẫn cứ buồn. Con muốn mạn phép mượn câu thơ tình của ai đó để diễn tả lòng mình: “Con buồn mà không hiểu vì sao con buồn.” Thực sự, chuyện buồn vu vơ của con cũng không phải là không có cách giải thích. Vì sau mỗi cơn buồn ấy ập đến thì con lại bắt đầu đặt cho mình những câu hỏi: “Giá mà… thì bây giờ…”. Giá mà mình không bị tai nạn rồi liệt giường thì bây giờ mình cũng đã lãnh chức Phó tế rồi! Giá mà mình không bị nằm liệt ở đây thì … mình cũng đã được chịu chức Linh mục rồi? …. Hàng trăm câu “Giá mà…giá mà… giá mà…! Cứ thế, cứ thế nó làm cho con buồn vu vơ thôi! Xét cho cùng thì những nỗi buồn vu vơ ấy do con nghĩ và rồi tự mình làm khổ mình. Những người anh em gửi thiệp mời mình không hề có lỗi. Mình buồn là do mình muốn được như người ta mà chưa được thôi còn chẳng có ai có lỗi trong chuyện này cả.

Ngoài những nỗi buồn vu vơ ấy thì trong thời gian nằm ở nhà thương con cũng đã có những nỗi buồn thật chính đáng. Trong phạm vi bài viết này con chỉ xin kể lại một câu chuyện – câu chuyện ấy đã làm cho lòng con phải nhận một nỗi buồn tê tái.

Vào một buổi sáng nọ, nằm liệt trên giường con nghe tiếng mở cửa phòng. Con tưởng rằng bác sĩ vào thăm nên đã vội rướn mình, ngước mắt nhìn ra phía cửa. Con nhìn ra phí cửa thì thấy một linh mục người Việt đang từ từ bước vào. Trên tay vị linh mục này đang cầm một cái túi nhỏ màu đen. Con nghĩ trong túi đen ấy đang đựng dây Stola và Dầu Các Phép. Lòng con lúc đó mừng lắm! Con mừng vì được một vị linh mục người Việt vào thăm và có lẽ “ngài” sẽ xức dầu bệnh nhân cho mình?!

Vị linh mục ấy từ từ bước vào gần đến giường con thì tự nhiên khựng lại. Vị đó vội nhìn con một lượt rồi vụt tháo chạy một cách hết sức vội vã. Nếu được phép diễn tả hành động của vị linh mục đó theo ngôn ngữ nhà Đạo thì phải nói rằng: Vị linh mục ấy đã “tháo chạy như quỷ gặp Thánh giá” vậy! Có lẽ hình thù con đang nằm liệt trên giường bệnh giống hình thánh giá quá, cho nên vị linh mục ấy mới sợ và chạy vội vàng ra khỏi phòng con như vậy?! Con không hiểu vì lý do gì, nhưng vị linh mục ấy thấy con rồi vội chạy ra khỏi phòng và đóng cửa rất mạnh. Tiếng đóng cánh sửa của vị ấy đã kêu một tiếng “rầm” rất chua chát.

Khi vị linh mục ấy chạy ra khỏi phòng rồi thì con bắt đầu cảm thấy buồn và rất tủi. Con tự suy nghĩ rằng: Cũng có thể thân xác con lúc đó hôi hám và thối tha quá nên vị linh mục ấy ngửi không nối nên mới vội vàng tháo chạy?! Cũng có thể lúc đó con đang mang trên mình một căn bệnh truyền nhiệm quái ác nên vị linh mục ấy đã tháo chạy cho nhanh kẻo bị lây bệnh?! Hay là vị ấy đang chạy vội để đi xức dầu bệnh nhân cho một bệnh nhân khác đang hấp hổi?! Nếu không phải vì một trong những lý do này thì tại sao vị linh mục ấy lại phải “chạy như quỷ thấy thánh giá” vậy?! Con tủi vì con biết rất rõ vị linh mục ấy. Con rất tủi phận vì chính mới ngày nào đó vị ấy với con đang ngồi cùng bàn trong bữa liên hoan anh em liên tu sĩ – linh mục Việt Nam ở Melbourne. Tối hôm liên hoan ấy hai người đã ngồi nói với nhau khá nhiều chuyện, thế mà giờ này sao vị linh mục ấy lại xa lạ với mình đến thế?! Rồi con bắt đầu miên man nghĩ suy về tình đời, tình người bạc bẽo, tráo trở. Tình đời bạc bẽo và tình người tráo trở đến mức khó lường, khó chấp nhận. Con đã miên man suy nghĩ và buồn vì chính “lý tưởng làm linh mục” trong con đang bị xúc phạm. Lý tưởng bị xúc phạm và bị coi thường vì có lẽ người ngoài đời người ta cũng không nỡ đối xử với nhau cách thô thiển và thậm tệ như thế. Thông thường ai cũng biết: Lý tưởng làm linh mục là để đem yêu thương, đem nguồn vui, đem bình an và niềm hy vọng đến cho tha nhân cơ mà? Sao một vị linh mục có tên, có tuổi đàng hoàng mà lại đối xử với một “đại chủng sinh” đang nằm liệt giường như vậy? Tình nghĩa con người ở đâu? Tình huynh đệ ở đâu? Tình của người mục tử đâu rồi?… Nằm trên giường, đau đớn, con đã mạo muội suy nghĩ rằng: một thái độ, một ánh mắt nhìn và một cú tháo chạy “như quỷ gặp thánh giá” như thế của vị linh mục ấy thì không xứng với tính cách của môn đệ chân chính của Đức Giê-su Ki-tô.

Sau cú đóng cửa chua chát ấy, con nằm suy nghĩ liên tục mấy giờ đồng hồ. Con cứ ban khoăn không biết sự việc vừa xảy ra trong căn phòng mình đang nằm có thật không? Con băn khoăn vì không biết lúc ấy có phải mắt mình đã nhìn thấy vị đó thật hay không? Hay là do mình uống thuốc quá liều nó làm cho mình bị ảo giác…. rồi mơ mơ màng màng nhìn không rõ? Nhưng không, cuối cùng thì thắc mắc trong lòng con cũng đã được giải đáp. Số là, sau đó vài tiếng đồng hồ, một người phụ nữ người Việt vào thăm con đã vô tình kể lại cho con nghe rằng: Chị ấy vừa gặp vị linh mục đó đi từ trên thang máy của nhà thương xuống tầng trệt và trên tay của vị ấy có cầm một cái túi màu đen. Và vị linh mục ấy còn cho người phụ nữ đó biết là vào nhà thương này để thăm và xức dầu cho một bệnh nhân người Việt. Lúc này thì con đã rõ, không nghĩ ngợi gì về đôi mắt của mình nữa. À, thì ra vị linh mục ấy đi vào nhầm phòng, nên vừa nhìn thấy con, không dám nán lại ít giây để hỏi thăm, có thể “ngài” sợ lây bệnh, hoặc có khi là “ngài” vội đi đến bệnh nhân người Việt mà “ngài” cần xức dầu đang hấp hối chẳng? Nếu vì lý do đó thì còn tạm thông cảm được, còn nếu vì sợ lây bệnh, sợ mùi hôi thối, hay vì bất kỳ lý do nào khác mà chạy vội rồi đóng cửa một tiếng “rầm” như vậy thì không ổn. ‘

Thực ra, con kể lại câu chuyện này chỉ với mục đích là trả lời câu hỏi: “Trong thời gian nằm liệt giường 688 ngày đêm trong nhà thương Thầy/Cha có buồn không?” thôi. Chứ thật lòng thì con không có quyền trách móc ai cả. Có chăng, qua câu chuyện con chia sẻ, trước hết là giúp ích cho bản thân con luôn ý thức và rút kinh nghiệm cho mình trong khi làm việc mục vụ. Và biết đâu câu chuyện này cũng có thể là một sứ điệp gửi đến các linh mục nói chung để các ngài luôn ý thức về tư cách người linh mục và sứ vụ mục tử của mình. Qua kinh nghiệm bệnh tật lâu năm, con biết rằng: bệnh nhân người ta nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương. Đôi lúc, chỉ một ánh nhìn thiếu thiện cảm, một lời nói vô ý vô tứ, một cử chỉ không đúng lúc, thiếu tế nhĩ thì cũng rất dễ gây cho người ta sự tổn thương và đau khổ. Đối với con, tất cả những nỗi buồn vu vơ hay nỗi buồn chính đáng đều đã qua. Dù con có buồn mấy, đau mấy thì cũng không thể nào so sánh được với cái buồn, cái khổ, cái đau của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu và cái chết thê thảm của Ngài trên thập giá. Qua suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su trong Tuần Thánh –Tam Nhật Vượt Qua thì những nỗi buồn lẻ tẻ, những nỗi đau của con cũng chỉ như giọt nước giữa đại dương mà thôi. Đối với Chúa Giê-su, Ngài là Chúa cả trời đất, hoàn toàn vô tội, chỉ vì muốn chuộc tội cho thiên hạ mà Ngài  phải chịu khổ, chịu đớn đau như vậy – Con là một kẻ tội lỗi, thì chịu những sự đau đớn hay buồn tủi để đền tội của mình như thế thì có đáng gì để kêu ca than trách đâu?!

Lễ Chúa Ki-tô Phục Sinh sắp đến, Mùa Phục Sinh cũng đã gần kề, con xin kính chúc tất cả quý vị và mọi người trong gia quyến chuẩn bị đón mừng dịp Đại Lễ Phục Sinh vui vẻ, để đón nhận được sự bình an và muôn vàn ân huệ từ Đấng Phục Sinh! Nếu trong ta vẫn còn có những nỗi buồn vu vơ hay cả những nỗi buồn chính đáng, thì chúng ta hãy cố gắng để quên đi mà vui sống trọn đời.

Còn Tiếp