Không Ai Biết Trước Ngày Mai – số tháng 4, 2019

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

tiếp theo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Người xưa thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan” – Công việc gì cũng vậy thôi, dù là những việc được coi là “linh thánh” thì khi mới bắt đầu thường người ta gặp những khó khăn và những trục trặc nhất định. Cứ mỗi lần đến nhà thương St George, sau khi nhận bản danh sách các bệnh nhân Công giáo trong nhà thương này có thể rước Minh Thánh Chúa từ cô y tá trực, con liền bắt tay vào công việc của mình. Cầm bản danh sách, theo lời y tá trực thì sẽ có 18 bệnh nhân Công giáo muốn rước Mình Thánh Chúa trong ngày này. Nhưng khi đến từng phòng gặp gỡ, tự giới thiệu về bản thân mình cho họ nghe, rồi hỏi han và hỏi ý kiến về việc họ có muốn rước Mình Thánh Chúa hay không thì con mới nhận ra sự phức tạp và khó khăn khi giao tiếp với bệnh nhân khó tính trong các nhà thương. Trước đây, con cứ nghĩ rằng bệnh nhân Công giáo nào cũng dễ gần, dễ mến và luôn khao khát, ước ao rước Mình Thánh Chúa Ki-tô như bản thân mình. Nhưng giờ này, khi bắt đầu công việc, con mới “té ngửa ra” là suy nghĩ của mình là hoàn toàn không chính xác. Bởi vì đức tin và lòng yêu mến Thánh Thể của mỗi người Công giáo đều ở những mức độ khác nhau. Bằng chứng là, trong buổi đầu tiên con vào trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân trong nhà thương thì trong số 18 bệnh nhân Công Giáo rốt cuộc chỉ có 6 người ước ao và đã rước Mình Thánh Chúa. Số bệnh nhân người Công giáo còn lại, đã viện ra đủ lý do để khước từ việc rước Mình Thánh Chúa. Mỗi người đều có lý do rất riêng. Người thì nói: “Tôi phải “ăn” cái đó để làm gì? Chúa có thật không? Có thật Chúa Giê-su ngự trong miếng bánh nhỏ xíu đó không?” Người thì nói, “hôm nay lòng tôi còn buồn bực, chưa sẵn sàng để rước Mình Thánh”. Có người thì khi vừa thấy con chạy xe lăn vào, tiến lại gần giường để nói chuyện, thì ngay lập tức họ “ngoảnh mặt làm ngơ”, không thèm tiếp chuyện. Có người thì nói rằng, “tôi mới ăn sáng, còn no, trong bụng tôi không còn chỗ cho Chúa nữa, nên tôi không muốn đón nhận Mình Thánh Chúa”. Cũng có người vặn hỏi con với giọng điệu rất khó chịu rằng: “Tại sao tôi phải rước Mình Thánh Chúa? Chúa có giúp được gì được cho tôi đâu? Nếu Chúa thương tôi thì tại sao tôi phải bệnh, phải đau, phải nằm trong bệnh viện như thế này?..vân vân và vân vân…những lời lẽ “bất hợp tác” đại khái giống như thế.” Nhiều, rất nhiều lý do và nhiều những thắc mắc của họ đã làm cho con hơi có chút nản lòng và thầm thương Chúa. Con có hơi nản lòng vì đây là lần đầu tiên con vào trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho các bệnh nhân Công giáo trong nhà thương này và thấy đa số họ chẳng mặn mà, chẳng thiết tha gì đến việc đón nhận Chúa Ki-tô cả. Con thương Chúa vì Chúa đã hạ mình ngự trong bí tích Thánh Thể để dễ gần, dễ đến với họ mà họ đã cao ngạo, đã không thèm đón nhận Ngài.

Lúc đầu, con bị mặc cảm và nghĩ rằng: Có lẽ vì mình què quặt, ngôi trên chiếc xe lăn, chẳng giống ai, đến trao Mình Thánh, nên các bệnh nhân Công giáo này mới coi thường, mới khinh rẻ và không thèm đón nhận Mình Thánh Chúa. Nhưng qua “sự kiện buồn” này, ngồi trên chiếc xe lăn, con đã suy nghĩ miên man rồi cuối cùng con cũng đã học được vài điều và thầm “tội nghiệp” thay cho Chúa! À thì ra những người sống Đạo với lối “đạo đức bình dân” thì Tây cũng như ta đều là những con người thích “mì ăn liền”. Tất cả đều muốn kiểu “tìm phải được, ước phải thấy, gõ thì cửa phải mở ngay” và con người ta luôn muốn Chúa phải “chiều” theo ý riêng mình. Cái công thức cầu nguyện của họ hơi giống nhau, đó là: “Lạy Chúa, xin hãy thực hiện theo ý muốn của con và đừng bào giờ bắt con làm theo ý Chúa!” Hầu hết người ta đều muốn khi có bất kỳ nhu cầu gì thì Chúa phải đáp ứng ngay lập tức cho họ. Ví dụ: họ cầu nguyện để có cơm ăn, áo mặc thì Chúa phải nghe rồi phải ban cho họ có cơm ăn, áo mặc ngay khi họ đang cần, còn bản thân họ thì không cần làm lụng vất vả gì cả; họ muốn có nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi thì Chúa cũng phải làm cách nào đó để xoay xở cho họ một ngôi nhà sang trọng và đầy đủ tiện nghi ngay lập tức để họ chỉ có việc lê thân vào sử dụng; hay nếu họ bị bệnh tật, đau ốm mà họ cầu xin thì Chúa cũng phải “ra tay” chữa ngay cho họ khỏi bệnh khỏi tật; hoặc khi họ muốn sống mãi đời đời trên trái đất này để hưởng thụ thì Chúa cũng không “được phép” để cho họ phải chết sớm;… Nói chung, theo quan niệm của họ thì: nếu Chúa là Đấng đầy lòng thương xót, là Đấng toàn năng, phép tắc vô cùng,… thì khi họ yêu cầu điều gì thì Chúa phải “thỏa mãn” cho họ ngay điều đó. Nếu Chúa là Đấng yêu thương vô cùng, trọn tốt trọn lành vô cùng thì Chúa không được phép để cho thiên tai như: giông to bão lớn, lũ lụt, động đất, núi lửa,… xảy ra gây thiệt hại cho nhân gian. May mắn thay! Ý Chúa không giống như lòng người. Còn giả như Chúa suốt ngày cứ phải “chiều theo” ý muốn của mỗi một người trên thế gian, làm hài lòng tất cả mọi người, thì chắc Chúa sẽ “mệt” lắm! Và nếu Chúa phải làm theo tất cả những ý muốn riêng của mỗi người trên quả địa cầu này thì thế gian này sẽ không bao giờ còn được gọi là thế gian nữa???!

Có lẽ cũng do ảnh hưởng của một lối sống Đạo mang tính “vũ lợi cá nhân”, một kiểu “sống đạo thực dụng” như thế, cho nên, nhiều người, kể cả nhiều người Công giáo, khi nghe có một nơi nào đó linh thiêng, xin gì được nấy, thì họ đã bất chấp đường sá xa xôi, bất chấp chuyện tốn kém tiền bạc, cố đến cho bằng được nơi đó để mong nhận được “phép lạ”. Hoặc khi nghe có vị nào đó có khả năng đặt tay chữa lành, đặt tay ban ơn, cầu nguyện đắt lời, … thì dù xa xăm ngàn dặm người ta cũng tìm cách đến gặp cho bằng được vị đó để xin cầu nguyện, xin đặt tay chữa lành. Đành rằng, chúng ta đều biết, Thiên Chúa ban cho mỗi người trong thế gian này một đặc sủng, như Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu Cô-rin-tô: “Thiên Chúa đặt người làm Tông Đồ, người làm ngôn sứ, kẻ làm thầy dạy, người được ơn làm phép lạ, người được ơn chữa bệnh để giúp kẻ khác, để quản trị, để nói tiếng lạ… Tất cả đều đến từ một Chúa Thánh Thần. Đó là những đặc sủng khác nhau nhưng đều có một mục đích chung là phục vụ lợi ích của Giáo Hội “(x. 1 Cr 12,12-30). Hiểu như thế, một mặt chúng ta không nên phủ nhận đặc sủng nơi những người khác – chúng ta được mời gọi phải tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng đặc sủng và tài năng của người khác, đồng thời phải biết nhìn nhận rằng sự khác biệt là sự giàu có và mỗi đặc sủng Chúa ban là để phục vụ thiện ích chung. Tuy nhiên, là người có “đức tin trưởng thành”, mặt khác, chúng ta cũng phải biết tất cả những ơn ban, những phép mầu, phép lạ đều do bởi Thiên Chúa mà có. Con người, dù ai đi nữa thì cũng chỉ là thụ tạo thấp hèn, là “công cụ”, là “trung gian” Chúa dùng để qua con người đó, Chúa ban ơn cho chúng ta mà thôi. Còn bản thân con người với bản chất “xác đất vật hèn” thì không có khả năng ban ơn cho chúng ta như Thiên Chúa.

Ngồi trên chiếc xe lăn, trầm tư, miên man suy nghĩ một hồi khá lâu, chợt nhìn vào đồng hồ, con thấy đồng hồ đã điểm 12 giờ 30 phút. Như thế, tổng cộng thời gian trong vòng 2 tiếng đồng hồ, dùng xe lăn chạy từ phòng này qua phòng khác và từ lầu 1 lên lầu 2, rồi lên lầu 3, nhưng ngày hôm đó chỉ có một phần ba số bệnh nhân Công giáo rước Mình Thành Chúa mà thôi. Còn 12 bệnh nhân Công giáo khác đã không ngần ngại, thẳng thừng, khước từ việc rước Mình Thánh Chúa.

Rời phòng bệnh nhân cuối cùng từ lầu 3, con điều khiển xe lăn, trở lại văn phòng, trình bày sự việc với người phụ trách công tác mục vụ của nhà thương về những gì đã xảy ra. Khi con trình bày xong, có lẽ vị đó nghĩ rằng con sẽ nản lòng và không tiếp tục công việc nữa, nên đã ôn tồn khuyên con: “Thầy cứ kiên nhẫn vì bệnh nhân họ khó tính và tính khí họ thay đổi thất thường lắm! Nay họ không muốn nhưng lần sau có thể họ lại ước ao.” Ngay lúc đó, con thưa với vị đó rằng: “Tôi chỉ hơi buồn chút thôi, còn tôi cũng là bệnh nhân nằm liệt giường lâu năm trong nhà thương, nên tôi đã hiểu phần nào tính khí thất thường của một bệnh nhân mà!” Nói chuyện xong, con đã chào vị ấy và chạy xe lăn trở về Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế,

Vì Mình Thánh Chúa Ki-tô các bệnh nhân không đón nhận hết, nên về đến Tu viện, con phải nhờ một ông thầy giúp con kiệu Mình Thánh Chúa còn lại vào nhà tạm trong nhà nguyện của Tu viện. Nỗi buồn xảy ra tại nhà thương con vương vấn, chưa nguôi ngoai trong cõi lòng, thì đột nhiên một câu hỏi từ ông thầy đã làm cho con nhói đau trong lòng: “Thầy Tạo ngồi xe lăn, di chuyển khó khăn như vậy mà cũng dám đi trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân ở nhà thương à?” Một câu hỏi có thể do vô tình thôi, nhưng thực sự vị ấy đã làm con nhói đau, buồn lòng và tủi thân không hề ít.

Buồn lòng một chút rồi con lại suy nghĩ về câu nói của người xưa: “vạn sự khởi đầu nan” thì nhận thấy rằng câu này vẫn còn đúng! Trong suốt 3 tuần đầu tiên làm công việc đến trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho các bệnh nhân Công giáo trong nhà thương St George tại Kew, con đã gặp khá nhiều khó khăn, trắc trở. Vì thực ra, các bệnh nhân Công giáo trong nhà thương này tuy có Đạo nhưng đa số họ đã từ lâu không đến nhà thờ, không chịu các Bí tích, hoặc nói đúng hơn là họ đã thôi việc giữ Đạo rồi. Họ là những người Công giáo ở Úc thuộc vào nhóm 87.5% (dựa theo thống kê mới nhất) không còn tới tham dự thánh lễ vào các ngày Chúa Nhật nữa. Đối với những người này thì trước khi bị bệnh, họ đã có một thời gian dài, rất dài không còn tới nhà thờ, không tham dự thánh lễ, không còn lãnh các bí tích nữa rồi. Họ đích thực là những “ki-tô hữu có danh nhưng không có thực” – họ là những kitô hữu, những người có Đạo thật, nhưng không còn sống Đạo và thực hành đời sống của người có Đạo nữa. Nói chung, những bệnh nhân Công giáo mà không muốn rước Mình Thánh Chúa nữa thì họ đã không còn tin có Chúa trên cao, chứ nói chi đến chuyện yêu mến Chúa hay yêu mến Chúa Giê-su Ki-tô trong Bí tích Thánh Thể?!

Như con đã trình bày, tuy lần đầu tiên đến trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho các bệnh nhân Công giáo trong nhà thương, họ không tiếp nhận và chẳng mặn mà gì với con, nhưng vì công việc và vì mưu ích cho phần rỗi linh hồn của họ, nên con vẫn cứ kiên trì, tiếp tục thực hiện. Như một lập trình định sẵn, mỗi lần đến trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho bệnh nhân trong nhà thương này con đều vào phòng chào hỏi họ và hỏi họ có muốn rước Mình Thánh Chúa Ki-tô không. Khi con tiếp xúc với những người này, con thấy lòng thù hận đối với Thiên Chúa nơi một số người rất lớn. Họ cũng là những con người không còn thiện cảm với Giáo hội Công giáo nữa. Vì thế, họ đã chất vấn con bằng những câu hỏi liên quan đến lòng thương xót của Chúa, đến tình yêu thương của Chúa và đến sự quan phòng của Thiên Chúa…??? Con cũng đã gắng hết sức để trả lời và bình tĩnh giải thích cho họ, nhưng đa số những gì con giải thích cho họ đều không làm cho họ thỏa mãn hay hài lòng. Nhiều lúc, có bệnh nhân còn yêu cầu con dừng lại bên giường họ để trả lời cho họ những câu hỏi như: Con là ai? Vì sao con phải ngồi xe lăn? Nếu Chúa là tình yêu, là thương xót, là toàn năng thì tại sao Chúa không chữa lành cho “ông thầy” đi?… Chúa không làm một phép lạ cho “ông thầy” ngay bây giờ đi để chúng tôi còn thấy mà tin!???” Đối diện và đối thoại với những người cứng lòng như họ, giải thích một hồi và nhận thấy rằng, họ không chịu mở lòng để tin Chúa nữa, nên con đành phải “làm thinh” rồi cố gắng mở miệng nói lời chào họ để ra đi đến phòng bệnh nhân khác.

Thế nhưng, thời gian trôi qua, mỗi tuần hai lần, kiên nhẫn tiếp xúc thường xuyên hơn với những bệnh nhân Công giáo trong nhà thương này, tình hình đã được cải thiện, lòng của các bệnh nhân này đã từ từ mở ra và bắt đầu thay đổi. Từ chỗ họ coi thường, từ thái độ xa lánh, “tra khảo”, dần dà những bệnh nhân Công giáo này đã có thiện cảm với con. Càng về sau, mỗi lần thấy con chạy xe lăn tới thì họ bắt đầu mỉm cười với con và tỏ vẻ trân trọng con hơn trước. Có thể nói, họ bắt đầu đối xử với con như một người khác quý của họ mỗi khi con vào phòng. Rồi những lần vào nhà thương trao Mình Thánh Chúa Ki-tô tiếp theo thì chính họ là những người mở miệng chào, nở nụ cười tươi trên môi, rồi nói chuyện thân thiện với con.

Thời gian cứ trôi, ngày qua ngày, từ từ số người Công giáo trong nhà thương này đã ước ao rước Mình Thánh Chúa Ki-tô nhiều hơn so với những ngày đầu con mới tới. Chính vì thế, từ thái độ và suy nghĩ hơi bi quan trong con đã chuyển sang thái độ lạc quan và hy vọng. Chính sự mở lòng của họ đã giúp con hăng say đi trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho họ và yêu mến đời phục vụ của mình nhiều hơn.

Còn Tiếp