Không Ai Biết Trước Ngày Mai – SỐ THÁNG 8, 2018

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo – Tiếp theo

Như con đã thưa với quý vị ở các câu chuyện trước rằng: con phải nằm trong nhà thương St. Vincent ở Melbourne đến 688 ngày đêm thì buộc phải xuất viện. Con xuất viện trên một chiếc xe lăn với bản kết luận của các bác sĩ chuyên khoa và bác sĩ trưởng khoa là: Con sẽ phải ngồi xe lăn và nằm trên giường suốt đoạn đời còn lại. Con sẽ không tự lo cho bản thân mình được nữa. Con cần y tá chăm sóc 24/24 về tất cả mọi sinh hoạt như: tắm giặt, thay quần áo, việc vệ sinh, việc ăn uống…. Cầm bản báo cáo với những nhận xét về tình trạng sức khỏe của mình như thế con rất buồn và lo lắng cho tương lai mịt mù của mình nhiều lắm. Con không còn cách nào hơn mà chỉ tin cậy và phó thác đoạn đời nhiều đắng cay của mình cho Thiên Chúa mà thôi! Thế nhưng việc chẩn đoán của các bác sĩ chuyên khoa và bác sĩ trưởng khoa vẫn chỉ là CHẨN và ĐOÁN thôi. Vì thực sự, ngoài Thiên Chúa thì vẫn là “không ai biết trước ngày mai”?!

Những tháng năm khi còn nằm liệt trong nhà thương thì mỗi sáng sớm đều có y tá đẹp đến đánh thức con, dọn vệ sinh cho con, rồi giúp con di chuyển từ chiếc giường xuống chiếc xe lăn. Sau đó y tá cầm bình nước tiểu đi đổ, rồi lấy khăn lau, lấy một ly nước sạch, lấy kem đánh răng, lấy bàn chải đánh răng cho con, để con súc miệng, rửa mặt, đánh răng cho thơm tho, sạch sẽ,… Còn sáng nay, sáng đầu tiên trong Tu viện con đã phải tự thức dậy sớm rồi phải “tự lực cánh sinh” mọi chuyện. Vì lời nhận xét của các bác sĩ là như thế, nhưng từ khi con được các cha, các thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế cho về tá túc thì không có một y tá nào đi theo để lo cho con nữa. Do đó, việc xuống gường vào sáng sớm đầu tiên con phải tự mày mò và thực hiện.

Trước hết là việc lấy tấm ván trượt, bắc cầu từ giường xuống xe lăn, rồi con phải tự di chuyển xuống giường bằng chút sức lực yếu ớt của mình.

Sau đó, con phải tự mình dùng tay, cầm bình nước tiểu đi đổ: tay trái vịn bình nước tiểu, tay phải điều khiển chiếc xe lăn chạy chầm chậm vào nhà vệ sinh để đổ vào bồn vệ sinh. Kể từ ngày này thì việc vào nhà vệ sinh và mọi chuyện tắm rửa đều do một mình con “tự biên tự diễn”. Với những thao tác chập chững, với “vạn sự khởi đầu nan” không hề đơn giản này, sáng sớm hôm đó, mọi động tác đều đã tiêu tốn khá nhiều thời gian và sức lực của con.

Khi đang ở trong nhà thương thì việc xuống giường chậm hay nhanh, sớm hay muộn là tùy mình, và có khi cũng còn phải tùy vào lượng công việc nhiều hay ít của y tá trực nữa. Thực sự, khi đang ở trong nhà thương thì con không bị giới hạn về thời gian: muốn tắm trước khi dùng bữa sáng hay sau đó đều được; tắm lâu hay mau cũng ‘không ảnh hưởng gì đến ‘hòa bình thế giới’ cả. Còn khi con đến sống trong Tu viện của Dòng Chúa Cứu Thế thì con tự ra luật cho mình để áp dụng: phải dậy đúng giờ để xoay xở làm sao đó cho kịp tham dự giờ Kinh Sáng lúc 6 giờ 45 phút và Thánh lễ lúc 7 giờ trong nhà nguyện. Sống trong Tu viện này, vì không còn ai đến đánh thức mình nữa, nên con phải tự tính toán về: thời gian xuống giường, thời gian đổ nước tiểu, thời gian dọn giường, thời gian vào nhà vệ sinh, thời gian đánh răng, rửa mặt, thời gian tắm, rồi thời gian thay quần áo,… để lấy đồng hồ báo thức sao cho kịp giờ.

Chính vì thế, đêm đầu tiên trong Tu viện, trước khi ngủ, con đã nhẩm tính thời gian của từng thao tác trong các công việc và rồi quyết định lấy chuông đồng hồ báo thức lúc 5 giờ 45 phút sáng. Vì đối với người bình thường thì chỉ cần 10 phút đồng hồ thôi là hoàn tất mọi sự. Còn con, không là người bình thường nữa, đã bất bình thường rồi, nên con đã phải ước tính một cách chi tiết về thời gian của từng động tác một. Khi nằm tính toán thời gian như thế, con chợt nhớ lại, đã có một sự kiện buộc các chủng sinh phải tính toán thời gian tắm khi con còn ở trong Đại chủng viện Corpus Christi, Melbourne.

Vào một năm nọ, tình trạng thiếu nước sạch để sử dụng ở tiểu bang Victoria cũng như ở một số vùng trong nước Úc rất trầm trọng. Vì thế, một nhà khoa học nào đó đã nghĩ ra cách để giúp người ta ý thức: tắm nhanh hơn, tiêu thụ nước ít hơn. Vị đó đã sáng chế ra một loại đồng hồ cát. Chiếc đồng hồ cát này đơn giản lắm! Đó chính là một ống thủy tinh nhỏ bằng ngón tay út của người lớn thôi. Người ta đúc ống thủy tinh này trống rỗng bên trong và được ngăn làm hai phần bằng nhau. Giữa hai phần của ống thủy tinh có đục một lỗ thông thương rất nhỏ. Lỗ này chỉ lọt một hạt cát mà thôi. Rồi người ta đổ cát màu vào ống thủy tinh này, rồi hàn kín cả hai đầu ống thủy tinh lại. Ở hai đầu ống thủy tinh này đều làm lỗ, để móc sợi dây cước vào đó treo lên chiếc móc được gắn sẵn trên bức tường của nhà tắm. Người ta đã tính toán lượng cát nằm trong ống thủy tinh này chảy từ phần trên xuống phần dưới hết thời gian là 4 phút.

Rồi một ngày kia, nhà khoa học này đã cho công ty sản xuất hàng loạt và rồi bán sản phẩm đơn giản nhưng đặc biệt này cho nhiều tập thể cũng như một số gia đình trong tiểu bang Victoria. Để hưởng ứng phong trào tắm nhanh, tiết kiệm nước, cha Bề trên Đại chủng viện Corpus Christi đã mua ủng hộ sản phẩm này để mở “chiến dịch” tắm nhanh, tắm sạch nhưng tiết kiệm nước. Ngài đã mua cho tất cả mỗi người trong Đại chủng viện một cái đồng hồ cát, với móc treo trong mỗi nhà tắm, để giúp cho các chủng sinh, vừa tắm vừa nhìn đồng hồ cát để tính toán, hầu tắm nhanh, tắm sạch trong vòng chỉ 4 phút là xong.

Thời gian mới áp dụng “chiến dịch tiết kiệm nước” này thì một số người trong Đại chủng viện lấy làm khó chịu. Một số thầy kêu ca rằng, 4 phút thì không đủ để nước ngấm đến tất cả các bộ phận trên thân thể! Tắm mà chỉ 4 phút thôi thì cơ thể không được sạch! Tắm mà chỉ 4 phút thôi thì không có cảm xúc…v.v và v.v. Các thầy phàn nàn và ý kiến ý cò nhiều lắm! Nhưng dần dà mọi người cũng đã quen việc tắm nhanh, tiết kiệm nước này. Có những vị có đời sống tu đức cao còn nói: Khi việc tắm rửa chỉ tiêu tốn thời gian 4 phút thì có ít nhất là 4 cái lợi. Cái lợi thứ nhất là, tiết kiệm được nước. Cái lợi thứ hai, là tiết kiệm được thời gian. Cái lợi thứ ba, là tránh được những động tác sờ mó đến các bộ phận nhạy cảm. Cái lợi thứ tư, là không đủ giờ để kích thích “thằng bé” hay nghĩ ngợi lung tung về chuyện không nên nghĩ… Vì ai cũng biết về câu thành ngữ: “Nhàn cư vi bất thiện” – ‘Doing nothing is doing ill’ – rảnh rỗi quá thì sẽ dễ nảy sinh ra các hành động không tốt, mà! Cho dù đó mới chỉ là những nảy sinh xấu trong tư tưởng.

Nằm nhớ lại sự kiện đó, con chợt buồn và lòng mình buốt đau, tê tái! Trước đây con là một con người nhanh như chú THỎ non, còn giờ đây con lại trở thành một kẻ chậm hơn cả một lão RÙA già! Tất cả mọi hành động của con lúc này đã đạt được một “cái chậm” kỷ lục – không còn chậm bình thường mà là chậm bất thường: chậm hơn 10 lần so với trước. Tuy chậm thật nhưng sau 45 phút phải hì hục trôi qua thì con cũng đã tắm rửa xong, thay quần áo rồi ngồi trên chiếc xe lăn điện, chuẩn bị tiến vào nhà nguyện để đọc Kinh và hiệp dâng Thánh lễ với Cộng đoàn.

Sáng sớm đầu tiên vào nhà nguyện để tham dự giờ Kinh Sáng rồi Thánh lễ chung với quý cha, quý thầy trong Tu viện, vì không muốn làm cho mọi người chia trí, con đã chọn một khoảng không gian rộng nằm ở góc cuối của nhà nguyện để “đậu” chiếc xe lăn điện của mình và ngồi yên ở đó đọc kinh, hiệp dâng thánh lễ. Từ lúc khởi xướng giờ Kinh Sáng cho đến phần Truyền Phép trong Thánh lễ xong thì chẳng có vấn đề gì ảnh hưởng đến con cả. Nhưng từ lúc vị chủ tế xướng câu: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”, thì con đã bối rối và cũng đã làm cho “thiên hạ” bị rối. Vì đến giờ đó, con thấy các cha, các thầy muốn tới bắt tay, chúc bình an cho con cũng khó; rồi đến giờ lên rước lễ lại một lần nữa con làm cho người ta bị rối luôn. Vì việc con di chuyển trên chiếc xe lăn lên gần cung thánh để rước lễ cũng không hề dễ dàng như mình từng nghĩ. Vị chủ tế trao Mình Thánh Chúa phải đứng chờ con khá lâu vì con phải tốn khá nhiều thời gian thì mới di chuyển chiếc xe lăn đến gần cung thánh để rước lễ được.

Sau sáng sớm hôm đó, từ sáng ngày thứ hai trở đi, con đã quyết định di chuyển chiếc xe lăn của mình lên phía trên, ngồi bên góc, gần nơi cung thánh. Tuy chuyển lên phía trên, gần cung thánh hơn, nhưng đến giờ lên rước lễ thì con vẫn gặp khó khăn. Vì góc phía trên có khoảng không gian không được rộng mấy, chỗ đó lại vướng: một bên là cây cột nhà nguyện, một bên là bàn thờ Đức Mẹ. Do đó, con cũng phải loay hoay, chạy đi chạy lại mãi rồi mới di chuyển được chiếc xe lăn ra khỏi đó, đến nơi rước lễ.

Khi thấy con đã hai lần thay đổi, ngồi hai vị trí khác nhau, nhưng cả hai lần, lúc đến giờ rước lễ con đều khá vất vả và lúng túng. Hiểu được nội tình đó, vị Bề trên Tu viện đã khuyên rằng: “Khi đến giờ chúc bình an, Thầy cứ ngồi yên một chỗ, các thầy, các cha sẽ đến chúc bình an cho Thầy. Rồi khi đến giờ rước lễ cũng vậy, Thầy cứ ngồi trên xe lăn, yên một chỗ, vị chủ tế sẽ đến tận nơi để trao Mình Thánh Chúa Ki-tô cho Thầy trước; rồi một vị nữa sẽ đến tận nơi để trao Máu Thánh Chúa Ki-tô cho Thầy. Khi Thầy rước xong Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô rồi thì vị chủ tế và vị phó tế mới quay lại giữa cung thánh để trao Mình Thánh – Máu Thánh Chúa Ki-tô cho Cộng đoàn.”

Con đã vâng lời làm theo lời khuyên ấy của vị Bề trên Tu viện. Vì thế, từ đó việc chúc ban bình an cũng như việc rước lễ đều đã tạm ổn. Con nói chỉ tạm ổn thôi vì trong suốt thời gian con sống trong Tu viện đã hai lần bị vị chủ tế quên trao Mình Thánh, Máu Thánh Chúa Ki-tô cho con. Vì trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế thì cứ mỗi sáng quý cha thay phiên nhau làm chủ tế. Có một vài vị cứ hai tuần mới đến phiên làm chủ tế một lần, nên đến giờ trao Mình, Máu Thánh Chúa Ki-tô thì đã không nhớ là có một “chú” ngồi xe lăn đang hiện diện trong nhà nguyện. Sự quên sót này là điều dễ hiểu và cũng dễ thông cảm. Và mỗi lần như thế, sau Thánh lễ, một ông thầy lại phải lấy chìa khóa lên mở cửa nhà tạm, lấy Mình Thánh trao cho con. Tuy nhiên việc con bị vị chủ tế quên trao Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô không nhiều. Trong suốt thời gian hơn 18 tháng (từ ngày 4 tháng 3 năm 2013 đến ngày 13 tháng 9 năm 2014) sống trong Tu viên, con chỉ bị vị chủ tế quên trao Mình – Máu Thánh cho mình hai lần mà thôi. Tuy chỉ có hai lần thôi, nhưng hai lần đó cũng đã gây tổn thương cho con không nhỏ: lòng con đã buồn man mác và thật sự đã tủi thân.

Sở dĩ con cảm thấy tủi thân, vì con không được tham dự Bữa tiệc Thánh Thể. Tất cả mọi người tham dự Thánh lễ đều được rước lễ, còn con thì không. Con cảm thấy tủi thân vì mỗi lần như thế, trong lòng con đã gợi nhớ lại lúc mình còn trai trẻ, khỏe mạnh, mình đã từng trao Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô cho biết bao nhiêu người trong các Thánh lễ ở rất nhiều nơi khác nhau. Thế mà nay mình đã bị liệt, ngồi xe lăn, không tự mình lên để rước Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô được nữa, phải nhờ đến người khác, mà họ lại vô tình quên mình! Rồi cứ nghĩ vẩn nghĩ vơ: hay là vị linh mục này nghĩ mình tội lỗi, không xứng đáng lãnh nhận Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô?! Cứ suy, cứ nghĩ…. nghĩ suy nhiều lắm!

Nếu ai đã từng là khuyết tật thì rất hiểu: Những người khuyết tật là những con người giàu cảm xúc nhất. Những người khuyết tật thường nhạy cảm hơn những người bình thường. Những người khuyết tật  thường là những người hay mủi lòng, hay tủi thân, tủi phận và hay khóc. Nhiều lúc ngồi trên xe lăn thấy ai đó chạy nhanh qua mặt mình, rồi tự nhiên bật khóc. Bật khóc vì mình cũng còn chân còn tay nhưng không còn đi lại được nữa. Nhiều lúc đang điều khiển xe lăn qua đường mà có ai đó vô ý thức không nhường đường cho mình thì cũng dễ cảm thấy mình đang bị người ta coi thường, bị người ta coi rẻ. Người khuyết tật đôi lúc cũng rất tự trọng. Người khuyết tật thường mong người ta cảm thông hơn là mong người ta bố thí. Người khuyết tật thường thích tự lập hơn là bị phụ thuộc vào ai đó. Nếu thấy người ta bị cụt chân thì khi đi ngang qua người đó xin quý vị đi chậm thôi, chứ đừng chạy, cũng đừng giơ chân cao quá. Nếu thấy ai đó bị cụt tay thì khi đứng trước mặt họ đừng bao giờ giang tay hay vươn vai cao quá. Nhiều khi chỉ do vô tình thôi nhưng chúng ta đã làm cho lòng họ bị tổn thương lắm đó!

Tất cả những sự kiện xảy đến trong đời có thể là những bài học đắt giá cho ta. Đối với con, thật sự cũng nhờ học được bài học tủi thân qua hai lần không được rước lễ đó, nên khi con trở thành linh mục, phục vụ ở các giáo xứ, mỗi lần đến giờ rước lễ, con phải cẩn thận rảo mắt, nhìn một lượt trong nhà thờ. Con đưa mắt nhìn một lượt là để, nếu thấy ai đó ngồi xe lăn, hay đi lại khó khăn, thì con yêu cầu những Thừa tác viên đến trao Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô cho những người đó trước. Sau đó, mới quay lại vị trí đã được quy định để trao Mình – Máu Thánh Chúa Ki-tô cho Cộng đoàn. Vì đã có kinh nghiệm của một kẻ ngồi xe lăn nhiều năm, nên hễ có ai ngồi xe lăn, hay đi bằng xe đẩy, hay phải chống gậy, thì con đều tới hỏi han và rồi mời lên ngồi vào hàng ghế đầu, gần cung thánh nhất. Vì con biết, những người khuyết tật, bệnh hoạn như con lại thường có một cảm xúc rất nhạy cảm. Nếu thấy một linh mục hay những người trong giáo xứ thiếu quan tâm tới mình một chút thôi thì họ đã rất tủi thân, tủi phận và khổ đau nhiều lắm!

Còn Tiếp