LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 4, 2018

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

2. Hành trình thứ hai (50-52) của thánh Phaolô

Sau Công đồng Gierusalem, Phaolô trở về Antiokia, đề nghị với Barnabê một chuyến đi thứ hai, mục đích viếng thăm các giáo đoàn, đồng thời công bố và giải thích Thông diệp của Công đồng, thiết lập thêm giáo đoàn mới. Barnabê muốn đem theo Gioan Marcô nhưng Phaolô nhất định từ chối, một cuộc bàn cãi sôi nổi xảy ra khiến hai tông đồ rời xa nhau: Barnabê đem Gioan Marcô sang đảo Cypro, còn Phaolô chọn Sila. Mùa xuân năm 50, Phaolô và Sila theo đường bộ qua Syria và Cilicia, thăm các giáo đoàn cũ: Tarses, Derba, Lystra, Iconium, Antiokia. Ở Lystra, Phaolô được thêm một bạn đồng hành nữa là Timotheô (Cv XV, 35 XVIII, 22).

Bỏ Antiokia (xứ Pisidia), đoàn truyền giáo tiến lên miền Phrygia và Galatia. Phaolô không ở lại đây lâu vì muốn dành nhiều thời giờ cho những đô thị lớn. Quan niệm rằng một khi Tin Mừng có cơ sở tại những nơi đô hội, sẽ phổ biến đi các vùng chung quanh. Vì thế, thánh nhân định đưa đoàn truyền giáo xuống miền Nam, có nhiều thành phố lớn như Smyrna, Epheso, Mileto… nhưng Chúa không muốn. Tại Troas, thương cảng xứ Mysia, đang lúc Phaolô lúng túng không biết đi đâu thì gặp Luca, một y sĩ danh tiếng và thông thạo đường thủy: Luca đề nghị sang xứ Macedonia. Đêm ấy, Phaolô chiêm bao thấy người xứ Macedonia yêu cầu ngài đem tin lành đến với họ. Ngay hôm sau, Phaolô cùng với Sila, Timotheô và Luca đáp tàu sang Macedonia, cập bến Neapoli.

Từ hải cảng Neapoli, các tông đồ tiến lên Philip. Dân chúng ở đây là những người cần cù tử tế, tôn trọng đạo gia đình, nên sẵn sàng đón nhận Tin Mừng hơn nhiều nơi. Một bà hàng tấm giàu có tên là Lyđia được ơn tin theo, đã rước đoàn truyền giáo đến cư ngụ nhà mình. Công cuộc truyền giáo kết quả, nhưng một phép lạ của Phaolô đã làm cớ đưa ngài vào ngục. Phaolô trừ quỷ cho một thiếu nữ nô lệ làm nghề bói toán. Thấy mất mối lợi, người chủ mưu làm hại thánh tông đồ. Nhân việc hoàng đế Claudius ra lệnh trục xuất các người Do Thái ở Roma vì nghi họ âm mưu phản loạn, ông chủ nói trên cũng tố cáo Phaolô xúi dân làm cách mạng, và cho bộ hạ đến nhà bà Lyđia bắt Phaolô và Lila dẫn đến đại diện chính quyền Roma. Không tra hỏi gì, vị đại diện ra lệnh đánh đòn hai tông đồ rồi tống giam. Ban đêm, một dấu lạ xảy ra: đất động, các cửa mở tung, xiềng xích đứt hết. Thấy thế, lính cai ngục theo đạo. Sáng hôm sau, Luca và Timotheô cũng ngầm báo cho nhà cầm quyền biết Phaolô và Timotheô có quốc tịch Roma, việc đánh đòn trái phép hôm qua có thể là một tử tội. Họ vội vàng đến xin lỗi hai ông và yêu cầu bỏ Philip. Nhưng các ông còn ở lại ít ngày để tổ chức giáo đoàn, đặt Luca ở lại coi sóc.

Bỏ Philip, đoàn truyền giáo ba người còn lại đi về miền Tây, đến Thessalonic, thủ phủ xứ Macedonia, một hải cảng lớn và cũng là trung tâm kỹ nghệ có rất nhiều anh em lao động sống nghèo khổ. Cũng như ở các nơi khác, ba nhà truyền giáo giảng Tin Mừng cho kiều bào Do Thái, nhưng họ cứng lòng nên các ông đi tìm anh em Dân ngoại, và ở đây Phaolô để ý đến giới cần lao. Người Do Thái tố các nhà truyền giáo đến gieo rắc tinh thần chống đối hoàng đế Roma, và cho người đến bắt tại xưởng dệt của ông Jason. May mắn lúc đó ba ông vắng mặt. Thấy tình hình căng thẳng, các tông đồ vội tổ chức giáo đoàn đặt người lãnh đạo, rồi tiếp tục lên đường.

Đến Berea cách Thessalonic 75km, ba nhà truyền giáo được kiều bào Do Thái tiếp rước tử tế hơn. Họ chen nhau đến nghe tin lành và trở lại khá đông. Được tin đó, người Do Thái từ Thessalonic kéo đến quấy phá, Phaolô đành rút lui, để Sila và Timotheô ở lại tiếp tục hoạt động. Mùa đông năm 50, một mình Phaolô lên tàu đi Athêna, thời đó là trung tâm văn hóa của cả thế giới. Roma tuy có uy thế về chính trị, nhưng vẫn phải tôn trọng và kiêng nể Athêna. Tới đây, Phaolô không khỏi đau lòng khi thấy hai bên lộ đầy tượng thần, dân chúng thi đua học hỏi sự khôn ngoan thế gian nhưng tối tăm về chân lý Nước Trời. Lợi dụng đức tính hiền hòa của dân thành, thánh tông đồ giảng một bài tại tối cao pháp viện (Aréopage). Ngài mở đầu: “Thưa quí vị công dân thành Athêna, phàm việc gì tôi cũng thấy quí vị rất say mê. Nhân khi đi qua, nhận xét các thần tượng của quí vị tôi gặp một bàn thờ có đề hàng chữ “Kính Thần Bất Minh”. Vậy đấng quí vị thờ mà không am tường đó, tôi xin trình bày hiến quí vị”. Rồi với một giọng hùng hồn, thánh tông đồ giảng về Đấng Tạo thành trời đất muôn vật, Đấng không ngự trong ngôi nhà do bàn tay loài người tác tạo, Đấng chẳng giống như vàng bạc hay đá gỗ do tài ba của nghệ thuật chạm trổ nên. Ngài không ở xa chúng ta, bởi vì “ta sống, ta động, ta có đều do Ngài”. Sau cùng, thánh tông đồ nói đến sự phán xét và sống lại. Nhưng hai vấn đề này đã làm thính giả không muốn nghe nữa, cử tọa nhôn nhao, tiếng nói xì xào: “Thôi để khi khác sẽ nghe ông ta nói về vần đề đó” (Cv XVII, 22-32). Thánh Phaolô chịu thất bại trước những con người quá thiên về lý trí ấy.