LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP 

Tiếp Theo

Trong suốt hai thế kỷ đầu sau Chúa Giáng sinh, đế quốc Roma tiếp tục sống trong thời kỳ huy hoàng vô cực thịnh. Đế quốc lúc đó chiếm 1/4 thế giới đã được khám phá, diện tích ước chừng ba triệu cây số vuông với một số dân trên 60 triệu, hầu hết ở vừng xung quanh Địa Trung Hải. Nhưng tình trạng xã hội và tôn giáo rất tồi tệ. Nhiều tiền lắm của, người Roma dần sa vào cuộc sống ăn chơi phóng túng. Sự dã man của chế độ nô lệ lên tới tột độ: Scaurus nhạc phụ của Sylla có tới 8.000 nô lệ. Đời sống gia đình trước kia được tôn trọng, giáo dục con cái được bảo đảm, nay bị đe dọa vì ảnh hưởng văn hóa đồi bại của ngoại lai: phóng túng dâm dật. Cùng với các chiến lợi phẩm thu được, đoàn quân viễn chinh đã đưa về Roma những tượng thần với đủ thứ thần thoại, thêm vào đó những lối thờ cúng mê tín dị đoan và dâm dật: thần Isidis với Asiridis của Ai Cập, thần Cybela với Attidis của Phrygia, thần Mithra của Persia, thần Baal của Syria…, khiến OctaviusAugustus lập đền Pantheon để thờ các thần.

Đó là tình trạng đế quốc Roma, khi Pherô tới đế đô.

  1. Thánh Pherô lập Tòa ở Roma và tử đạo ở đây

Đế đô Roma hồi đó dân số có tới một triệu người. Tất cả mọi chủng tộc trong đế quốc đều có mặt ở đây. Nhưng nổi bật hơn cả vẫn là dân Do Thái, vì bất kỳ ở đâu họ sống đóng kín và biệt lập, tuy con số của họ chỉ từ 40 đến 50 ngàn. Họ có chừng 10 giáo đường và nhiều nghĩa trang riêng. Phần lớn sống bên kia sông Tiber, còn thì rải rắc ở các khu Capena, Suburo, Marzo, và phần đông sống về nghề buôn bán, đổi chác. Cũng như hầu hết ở các đô thị khác, giáo đường Do Thái được chọn làm cơ sở đầu tiên để gieo mầm Phúc âm. Trong sách Tông đồ Công vụ (II, 10), khi nói đến các giáo dân tiên khởi ở Gierusalem, đã nhắc đến một số người Do Thái từ Roma tới. Trở về, chắc chắn họ đã truyền giáo cho người đồng hương của mình. Vì thế khi thánh Pherô tới Roma đã có sẵn một số giáo dân, và chiếu chỉ Claudius (46) trục xuất người Do Thái minh chứng lực lượng và con số khá đông của giáo đoàn này.

Lệnh trục xuất sau một thời gian đã được nới rộng và người Do Thái lần lần trở về. Đời sống giáo dân Roma trở lại như xưa. Không có tài liệu nào nói thánh Pherô tới đế đô vào năm nào sau Công đồng Gierusalem (49). Chúng ta chỉ biết chắc rằng sau Công đồng, Pherô có qua Antiokia và tại đây xảy ra truyện Phaolô phản đối Pherô (Gl II, 11-15). Theo như Công đồng Gierusalem dạy và vị tông đồ trưởng công bố, thì con người được công chính hóa nhờ đức tin chứ không do những việc làm theo luật Mai sen, như “cắt bì” hay tuân giữ các nghi lễ. Nhưng hồi đó nhóm Do Thái thủ cựu còn mạnh lắm, khiến thánh Pherô phải có một thái độ dè dặt. Khi mới đến Antiokia, Pherô ngồi ăn cùng bàn với anh em dân ngoại. Nhưng từ khi có một số người thủ cựu ở Gierusalem tới, Pherô đổi thái độ và không ngồi ăn với anh em dân ngoại nữa. Cho rằng làm như thế là “không thẳng thắn” và có thể đưa đến kết quả tai hại, Phaolô “chỉnh Kepha (Pherô) trước mặt mọi người”. Pherô bình tĩnh nhận lỗi và tỏ ra khôn ngoan, nên không có truyện gì đáng tiếc xảy ra [7].

Sau câu truyện ở Antiokia, Pherô đi đâu? Chúng ta không biết rõ; nhưng chắc chắn là khi viết hai Thư gởi các giáo đoàn ở Ponto, Cappadocia, Galatia, Asia, Bithynia, thì Pherô đang ở Roma và Marcô cũng đang sống với ngài. Trong hai Thư, mở đầu tác giả tự xưng là Pherô, tông đồ Chúa Kitô. Ở cuối Thư I (V, 13) ngài cho biết là Thư viết từ Babylon, tức kinh thành giáo dân thời đó quen ám chỉ đế đô Roma tội lỗi. Nhiều nhà chú giải Thánh Kinh căn cứ vào bản văn cho rằng hai bức Thư viết vào năm 64, ngay trước chiếu chỉ cấm đạo của Nero được ban hành. Mục đích Thư thứ nhất là để an ủi các giáo đoàn trong cơn thử thách. Thư thứ hai viết theo sau, để trả lời những thắc mắc về ngày thế mạt và khuyên giáo dân đề phòng những ngôn sứ giả. Chúng ta cũng không quên là Marcô đã cho ra đời cuốn Phúc âm vào thời kỳ này, theo Clementê thành Alexandria (150-215) thì Phúc âm đó là của Pherô đã giảng ở Roma.

Tháng 8 năm 64, cuộc bách hại của Nero bắt đầu. Thánh Pherô không khỏi đau lòng và lo ngại, nhất là tình trạng yếu kém của một số người chối bỏ Chúa. Quan niệm rằng đoàn chiên mất chủ chăn sẽ tan rã, nên cần phải bảo vệ sự sống mình vì đoàn chiên, Pherô quyết định đi khỏi Roma tìm nơi trú ẩn. Nhưng trên đường Appia, gần cửa Capena, thánh nhân gặp Chúa, liền hỏi “Lạy Chúa, Chúa đi đâu?”. Chúa trả lời: “Ta đi đâu ? Ta đến Roma để chịu đóng đinh lần nữa”. Hiểu ý Chúa, Pherô trở lại để tử đạo.[8]

Năm ấy 64, Pherô bị bắt và bị tống giam. Nhà ngục Tullianum ở Roma là một hầm dưới đất chỉ có một lỗ hổng ở trên nóc vòm. Theo lưu truyền, Pherô đã cảm hóa hai người lính canh ngục tên là Processus và Martinianus; cả hai được rửa tội và tử đạo. Cuối cùng, vì không có quốc tịch Roma, thánh tông đồ bị kết án tử hình thập ác. Bị dẫn đến hí trường Caligula trên đồi Vatican, trông thấy thập giá, Pherô cảm thấy mình không xứng đáng được chết như Thày mình, đã yêu cầu cho được đóng đinh ngược. Pherô chết, Linô lên kế vị và ngôi Giáo hoàng tiếp tục cho tới ngày nay. [9] Sau khi chết, thi hài thánh Pherô được chôn táng trong một nghĩa trang gần nơi xử, tức chỗ xây cất Đền Thánh Pherô ngày nay trên đồi Vatican. Năm 258, chiếu chỉ Valerianus đe dọa các nghĩa trang Kitô giáo, người ta đem xác thánh giấu trong hang toại đạo trên đường Appia. Khi cơn bách hại lắng dịu, giáo dân lại đưa hài cốt ngài về nơi cũ [10].1 Sau khi Constantinus Cả ra chiếu chỉ tha đạo (313), đức Thánh Cha Silvestrê được hoàng đế giúp thiết lập một đại thánh đường ngay trên mộ thánh tông đồ (Confessio).

  1. Hoạt động của các tông đồ khác

Giáo hội nguyên thủy ở Gierusalem, trong thời gian bị bách hại, đã bành trướng khắp Palestina và Syria. Trong khi Phaolô đi sâu vào lục địa Tiểu Á, thì thánh Pherô tổ chức giáo đoàn Roma và lập Tòa thánh tại đế đô. Đó là công trình sự nghiệp của hai đại thánh tông đồ, những hoạt động của các tông đồ khác không phải là không kết quả hay không đáng để ý.

Trước hết, phải kể thánh Gioan, vị tông đồ Chúa yêu. Trong những năm đầu, ngài luôn sống bên cạnh Đức Maria. Khi Đức Mẹ về Trời, thánh nhân qua truyền giáo ở miền Asia (Tiểu Á) và đặt trụ sở ở Epheso, huấn luyện được nhiều môn đệ, trong số đó có Papias giám mục thành Smyrna. Dưới triều đại Domitianus (81-96), thánh tông đồ bị bắt đưa sang Roma. Bị kết án tử hình và để giáo dân khiếp sợ người ta ném vị tông đồ vào vạc dầu sôi ở cửa Latina, nhưng Chúa gìn giữ thánh nhân vô sự. Sau đó, ngài bị lưu đày sang đảo Patmo (95). Ở đây, được ơn mạc khải về tương lai, thánh tông đồ viết cuốn Khải huyền. Ngài còn viết nhiều Thư gởi các giáo đoàn Đông phương lúc đó đang bị nhiều tà thuyết phá hoại. Bức Thư thứ nhất quan trọng và dài hơn cả, văn thể giống cuốn Phúc âm thứ bốn, mục đích khuyên giáo dân đề phòng các lạc thuyết và an ủi họ trong cơn bách hại. Năm 96, thánh nhân được trở về Epheso và có lẽ vào thời kỳ này ngài cho ra đời cuốn Phúc âm IV, Phúc âm tình yêu. Thánh nhân qua đời khoảng năm 100.

Sau Gioan, phải kể đến Giacobê Tiền. Trong đời Chúa, thánh nhân đã được cùng với Pherô và Gioan chứng kiến phép lạ làm cho con bà Jaira sống lại, được thấy Chúa hiện ra trên núi Tabor và cơn hấp hối của Chúa trong vườn Gietsimani. Khi Agrippa bách hại đạo, thánh tông đồ bị bắt giam, và chịu trảm quyết vào dịp lễ “Ngũ tuần” năm 42. Còn Giacobê Hậu, ngay từ đầu đã được đặt trông coi giáo đoàn Gierusalem. Theo lưu truyền, ngài sống đời chay lạt hãm mình rất nhiệm nhặt. Năm 62, thánh nhân bị người Do Thái xô đẩy từ trên cao xuống và ném đá chết. Thánh nhân có để lại một Thư viết (50-58) cho người Do Thái trở lại sống trong các khu phân tán. Đó là một bài giảng dạy luân lý, đề cao đức khó nghèo, cảnh báo người giàu có và nhấn mạnh đến việc bố thí, đề phòng một đức tin không việc làm, và gọi nó là đức tin chết.

Còn các tông đồ khác, khi cuộc bách hại bùng nổ năm 42, đã bỏ Gierusalem đi truyền giáo mỗi người mỗi nơi. Theo lưu truyền, Simon và Giuđa cũng gọi là Thađeô, anh em với Giacobê Hậu, cả hai ban đầu truyền giáo tại những vùng khác nhau: Simon ở Ai Cập Giuda ở Mesopotamia; sau đấy gặp nhau ở Persia và tử đạo ở đó. Giuda cũng đề lại một Thư viết vào khoảng năm 70-80, khuyên giáo dân xa tránh những tiên tri và tiến sĩ giả. Thánh Mattheô, sau khi viết Phúc âm I bằng tiếng Aram [11] khoảng năm 50, theo Rufinus, ngài đi truyền giáo trong xứ Ethiopia (châu Phi) và được phúc tử đạo vì bài giảng về đức đồng trinh. Philiphê giảng Tin Mừng cho vùng Phrygia và nhiều nơi ở Tiểu Á, tử đạo tại Hierapoli. Anrê ở Scythia, Ponto và nhất là ở Akaia, bị đóng đinh ở Patras, Bartholomeô xuống miền Nam Ả Rập rồi lên Armenia, tử đạo ở Albanopoli: có người cho rằng bị chém đầu, người khác nói bị lột da và đóng đinh. Matthias truyền giáo cho Persia và Mesopotamia. Còn thánh Thomas đi xa hơn, sau một thời gian ở Partha, Assyria, Mesopotamia, đã sang tận Ấn Độ và bị giết ở Meliapour (Nam Ấn). Barnabê cũng được gọi là tông đồ như đồng bạn Phaolô. Sau khi bỏ Phaolô, thánh nhân nhận việc truyền giáo trên đảo Cypro và tử đạo ở đấy. Trong số các môn đệ phải nói đến Marcô, Luca, Timotheô và Titô. Marcô đã cộng tác với Barnabê và Phaolô trong chuyến đi truyền giáo thứ nhất. Sau đó, người ta thấy Marcô ở Roma với Pherô, viết Phúc âm II và cộng tác với Phaolô trong thời gian bị giam ở đế đô. Bỏ Roma, Marcô đi Ai Cập, lập giáo đoàn Alexandria và chết vì đạo ở đấy. Luca, cộng từ viên của Phaolô trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai và ba, cũng như trong hai lần bị bắt giam. Ngài viết Phúc âm III và cuốn Tông đồ Công vụ. Sau khi Phaolô tử đạo, Luca đi truyền giáo trong xứ Akaia và chết vì đạo ở đấy Timotheô, người con yêu dấu của Phaolô, được trao cho nhiều nhiệm vụ và luôn sống bên cạnh ngài. Được đặt làm giám mục Epheso, theo lưu truyền nhân một ngày lễ tế thần, Timotheô bị người ngoại giáo lôi qua các phố và ném đá chết năm 97. Titô cũng là con yêu dấu của Phaolô và được đặt làm giám mục ở đảo Creta. Người ta không biết Titô chết ở đâu và năm nào.

Các tông đồ và các môn đệ của Chúa hầu hết đã lấy máu đào minh chứng cho đức tin. Những lời giảng dạy của các ông nhiều điều không được ghi lại, nhưng đã được lưu truyền trong Giáo hội, mà chứng nhân trực tiếp là các giáo phụ thời sứ đồ, như thánh Giáo hoàng Clementê (92101), thánh Ignatiô thành Antiokia (110), thánh Polycarpô (155), cùng nhiều tác phẩm và thư từ.[12]

  1. Giáo hội phôi thai tách biệt khỏi hội đường Do Thái

Năm 44, Agrippa người bách hại Giáo hội chết một cách thê thảm, do vi trùng đục khoét loang lở đầy mình. Palestina trở lại chế độ toàn quyền Roma. Cuspius Padua ra lệnh ngưng cuộc bách hại. Hồi đó, đế quốc chưa có thái độ thù nghịch Giáo hội, họ coi Kitô giáo như những tôn giáo khác, cần được bảo vệ và dành quyền tự do. Bởi đấy, mỗi khi người Do Thái muốn bắt bớ và lên án một người Kitô hữu phải qua tay nhà cầm quyền, như trường hợp thánh Phaolô (57-59), hoặc lợi dụng tòa toàn quyền trống ngôi, như vụ giết thánh Giacobê Hậu (62) do thày cả thượng phẩm Anano.

Đã đến lúc Lời Chúa tiên báo về số phận Gierusalem phải thực hiện. Không chịu được lối cai trị quá độc đoán và nghiêm khắc của viên toàn quyền Gesse Flori, năm 66 dân Do Thái nổi loạn. Nhớ lời Chúa, giáo dân Gierusalem trốn sang tỉnh Pelia, bên kia sông Jordan, khu vực kiều dân Hy Lạp, giáo đoàn mới thành lập do Simeon em Giacobê Hậu điều khiển.

Hoàng đế Nero (54-68) sai tướng Vespasianus sang dẹp loạn. Năm 69 Vespasianus lên ngôi hoàng đế (69-79) sai con là Titus tiếp tục công việc, năm 70 Gierusalem bị bổ vây. Trong 7 tháng, theo Flavius Josephus có hơn một triệu người chết đói, chết dịch, chết cháy hoặc bị giết, chỉ còn 97.000 người sống sót bị bán làm nô lệ; Đền thánh bị thiêu hủy. Nhưng mấy chục năm sau, dân Do Thái lấy lại lực lượng và nổi dậy một lần nữa. Năm 112, hoàng đế Trajanus (98-117) sai quân sang dẹp. Nhưng năm 132, Bar Kabeba tự xưng là Đấng Cứu Thế, chiếm lại Gierusalem, tuyên bố Do Thái độc lập. Hoàng đế Hadrianus (117-138) phải xuất đại quân với nhiều tướng tá tài giỏi, dầu vậy mãi 3 năm sau mới hạ được thánh thành. Trên nửa triệu người bị giết, một số lớn bị bán làm nô lệ. Gierusalem biến thành một đô thị ngoại giáo, ngay trên khu Đền thánh xưa, người Roma cho xây cất một ngôi chùa thờ thần Jovis.

Đối với người Do Thái, Đền thánh là trung tâm tôn giáo, nung nấu lòng trông đợi Đấng Cứu Thế mà Thiên Chúa đã hứa với dân tộc họ. Chúa Cứu Thế đã đến, Đền thánh bị phá hủy, như vậy địa vị của dân Do Thái chấm hết, đồng thời cắt đút những liên lạc còn lại giữa Kitô giáo và Do Thái giáo: từ đây Giáo hội phôi thai tách biệt khỏi hội đường Do Thái. Đàng khác, khi Đền thánh bị phá hủy, Pherô đã lập thủ dô Giáo hội ở Roma, và Phaolô đã đem rất nhiều phần tử dân ngoại vào Giáo hội, họ chiếm phần đa số. Xét về con số cũng như lãnh thổ, Giáo hội vượt ra ngoài giới hạn Do Thái giáo để vươn mình đi khắp nơi theo ý muốn của Đấng Sáng lập.

Từ hạ bán thế kỷ I sang thế kỷ II, giáo dân rải rắc khắp đế quốc. Nhất là ở Tiểu Á và Syria, Kitô giáo không những có mặt tại các đô thị lớn như Antiokia, Epheso, Smyrna, Mileto, Troas, mà còn ở cả những vùng quê. Riêng trong xứ Bithynia, Kitô giáo mở rộng khắp nơi, đến độ các chùa chiền không còn ai lui tới, các lễ nghi thần giáo tàn dần, khiến các lái buôn súc vật dùng vào việc tế thần căm giận vì mất thị trường tiêu thụ.[13] Ở Âu châu, ngoài những giáo đoàn nổi tiếng như

Philip, Thessalonic, Corintô, còn có nhiều giáo đoàn trên đất Ý Đại Lợi như Dyrrakio, Brinsidi, Puteolo, Ostia, Pompeia, Syracusa và nhất là Roma. Xa hơn nữa, phải kể đến những giáo đoàn Tarragona, Carthagena xứ Tây Ban Nha; Nar¬bonne, Arles, Marseille, Lyon xứ Gallia.[14] Ở phi châu, giáo đoàn Alexandria, Ai Cập thời danh hơn cả, rồi đến Carthago, Cyrène… Nhưng Giáo hội, ngay từ cuối thế kỷ I, còn vượt ra ngoài ranh giới đế quốc và có mặt, tại các xứ Partha, Armenia, Scythia, Mesopotamia, Assyria, Ả Rập, Persia, Ấn Độ, Ethiopia…

Phần lớn giáo dân thời phôi thai ở Palestina cũng như ở các nơi khác sống cuộc đời khiêm tốn, phải làm mới có ăn, và thường chuyên nghề tay chân như dệt dạ, thuộc da, kéo tơ, nhuộm vải, rèn đúc, trồng trọt… [15] Bấy giờ chế độ nô lệ hãy còn, nhưng sống rải rác nhiều nơi, nhất là ở đô thị, họ được chủ trả tự do dần dần; nhiều người được phóng thích và được những gia đình giầu có thâu dụng vào việc giữ nhà, lau quét hoặc sai khiến lặt vặt.

Tuy nhiên, cũng không thiếu những thành phần quí tộc trong các giáo đoàn. Thánh Luca thuật lại việc: “những bà quí phái” theo đạo ở Berea. Nhiều người giàu sang thuộc giáo đoàn Conrintô, Epheso, Laodicea (Kh XXI, 17). Aquila và Priscilla bấy giờ cũng là dân có nhiều tiền. Kitô giáo còn len lỏi cả vào hàng quí tộc và hoàng tộc nữa. Dưới triều Nero, năm 57 Pomponia Grecina, phu nhân một danh tướng bị tố cáo là “tin theo dị đoan ngoại quốc”. Bị dẫn ra tòa, bà được tuyên bố vô tội, nhưng rồi bà phải sống cô đơn lam lũ vất vả suốt đời. Aciilus Glabrius, chấp chánh quan (consul) năm 91, là một trong những vị ân nhân của giáo đoàn Roma. Nhiều anh em họ của Domitianus, như chấp chánh quan Flavius Clemens và phu nhân Domitilla cùng hai con, năm 95 bị cáo về hai tội “vô thần và theo phong tục Do Thái”. [16] Tư thất của những anh em giầu sang và quyền thế này thường được dành làm nơi cử hành các lễ nghi phụng vụ và tổ chức tiệc huynh đệ. Họ dâng cúng đất đai chắn Giáo hội dùng làm nghĩa trang, như hang Toại đạo Priscilla của gia đình Glabrius, hang Toại đạo Domitilla trên lãnh thổ nhà Flavius, hang Toại đạo Calixtus ở đại lộ Appia thuộc gia tộc Cecilius …

Như vậy, Kitô giáo ngay từ đầu không phải là tôn giáo riêng của một dân tộc hay giai cấp nào. Trong lễ nghi phụng vụ cũng như khi ban phát các bí tích, nó không kỳ thị ai, không biệt đãi người giầu sang, và các giám mục thường xuất thân từ những gia đình bình dân. Trong các bữa ăn chung, nó khuyên những người may mắn hơn hãy sống tiết độ, dành của phân phát cho các anh em, tức những “chi thể Chúa Kitô”, mà hết mọi người, không trừ ai, có nhiệm vụ thương giúp tùy theo khả năng của mỗi người.

IV MỘT ĐỨC TIN, MỘT PHƯỢNG TỰ, MỘT QUYỀN BÍNH

  1. Đức tin, cái hồn của Kitô giáo

Tôn giáo nào cũng có những điều phải tin. Bởi vì tôn giáo là gì ? Nếu không phải là mối tương quan giữa con người với Thượng Đế Đấng Cao cả hay Thần thánh nào đó? Mà đã nói tới Thượng Đế hay Thần thánh là phải chấp nhận những sự xem chẳng thấy, suy không thấu. Bởi thế cần phải tin. Vậy từ thuở ban đầu, người Kitô hữu đã tin gì ? Chắc chắn, họ tin có một Thiên Chúa duy nhất. Nhưng còn tin gì nữa ? Lần giở những tài liệu cổ kính, giá trị nhất như Phúc âm thư, Tông đồ Công vụ…, người ta sẽ thấy đối tượng niềm tin của họ.

Thật vậy, đức tin của họ đặc biệt hướng về Đức Giêsu Kitô, Đấng do Thiên Chúa sai đến để mang Tin Mừng cho muôn dân. Đấng sinh làm người, làm nhiều phép lạ, chịu chết nhục nhã, rồi sống lại vinh quang, lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Thánh Pherô đã công khai tuyên xưng và rao giảng đức tin ấy trước công chúng đông đảo như sau: “Các ông biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Juđea, bắt đầu từ Galilea, sau khi Gioan rao giảng phép Rửa. Đức Giêsu người thành Nazaret, chính là Đấng Thiên Chúa đã xức dầu bằng Thánh Thần và quyền năng. Người đã đi khắp nơi thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỉ áp bức thống trị, vì Thiên Chúa ở cùng Người. Chúng tôi đây đã được chứng kiến hết mọi việc Người đã làm trong xứ sở Do Thái và ở Gierusalem, Đấng mà họ đã giết treo trên thập giá. Chính Người, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ngày thứ ba, và đã hiện ra không phải với toàn dân nhưng với chúng tôi là những người được Thiên Chúa chọn từ trước, để làm chứng nhân; chúng tôi dã được ăn uống với Người sau khi bởi kẻ chết sống lại. Hơn nữa, Người còn truyền chúng tôi phải rao giảng cho dân chúng và chứng thực rằng: Chính Người là Đấng Thiên Chúa đã tôn lên làm quan án xét xử người sống và kẻ chết. Người là Đấng các tiên tri đã tuyên xưng rằng: ai tin Người sẽ được ơn tha tội nhân danh Người” (Cv X, 37-43).

Người Kitô hữu còn tin Chúa Giêsu là Vua và là Đấng Cứu chuộc muôn dân: “Thiên Chúa đã dâng quyền phép mà tôn Người lên làm Vua, làm Đấng Cứu Thế”’ (Cv V, 32). “Người là ánh vinh quang, là hình ảnh Đức Chúa Cha, là Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt XVI, 16). Thánh Phaolô trong Thư gởi giáo đoàn Colosse đã thẳng thắn quả quyết: “Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa các thụ sinh, vì trong Người vạn vật được tạo thành. Ngài có trước mọi sự và mọi sự được tồn tại là nhờ Người” (I, 15-17). Nhưng đối tượng đức tin không phải chỉ có thế, nghĩa là chỉ tin vào Chúa Giêsu Con Thiên Chúa. Người tín hữu còn tin Chúa Thánh Thần là sức mạnh, là linh hồn của Giáo hội: “Chúa Thánh Thần nâng đỡ sự yếu đuối của chúng ta… chuyển cầu cho chúng ta bằng những lời tha thiết khôn tả” (Rm VIII, 26). Ngài là Đấng phải đến để hoàn tất công việc do Chúa Giêsu đã khởi công (Cv VIII, 16 và XIX, 3-6).

Đó là mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, tuy Ba Ngôi nhưng một Thiên Chúa duy nhất. Đó cũng là trung tâm đức tin, linh hồn của Kitô giáo. Các tín hữu đã tin tưởng mãnh liệt: “Tuy không hề được thấy Đấng anh em yêu mến, và hiện nay dầu không thấy nhưng vẫn kính tin, anh em được hân hoan trong niềm vui khôn tả và được phúc vinh quang” (1 Pr I, 8)

Với Chúa Kitô, nơi Thiên Chúa biểu dương sức mạnh oai hùng tạo chiến thắng từ cõi chết, người Kitô hữu luôn phấn khởi mỗi khi liên tưởng tới ngày Chúa trở lại. Và trong khi chờ đợi, sự hiện diện của Người trong phép Thánh Thể là nguồn an vui khích lệ họ. Vì thế tất cả hân hoan say mến đến bàn tiệc thánh để tìm sức mạnh và vinh hiển của Người. Thánh Phaolô đã diễn tả sự vui miệng hãnh diện do niềm tin đó: “Đã vậy thì còn phải nói làm sao nữa ? Nếu Thiên Chúa ủng hộ chúng ta, ai sẽ chống lại chúng ta được ?… Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa đã sống lại và đang ngự bên hữu Thiên Chúa, chính Người đang cầu xin cho chúng ta. Ai sẽ phân cách chúng ta ra khỏi tình yêu mến Đức Kitô được ? Gian truân ư ? Bĩ cực ư ? Bắt bớ, đói khói, trần truồng, gươm đao ư?. … Nhưng trên hết mọi sự, chúng ta toàn thắng rực rỡ nhờ Đấng yêu mến chúng ta!” (Rm VIII 31-37). Thánh Gioan cũng nói: “Ai là kẻ toàn thắng thế Gioan, nếu không phải là kẻ tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa ?” (1 Ga V, 5).

Đức tin Kitô giáo ngay từ đầu đã có những kẻ thù: chia rẽ, hoài nghi, xuyên tạc, phỉ báng; đó là những lạc giáo thường bắt nguồn từ “con cái trong nhà”. Khi Chúa Giêsu còn tại thế, đã có “những kẻ mạo danh Người để trừ quỷ” (Mc IX, 39). Đến thời các tông đổ bắt đầu xuất hiện những ngôn sứ giả, những bè phái mà thánh Gioan kêu là “những kẻ ở giữa chúng ta mà ra, song kỳ thực họ không thuộc về chúng ta” (1 Ga II, 19). Họ là những kẻ nhìn nhận Đấng Kitô và tin xưng Danh Người có sức nhiệm mầu, song không nhận Người là Thiên Chúa, mà chỉ là một ngôn sứ, lớn hơn Gioan Tẩy giả, hơn cả Maisen, nhưng vẫn chỉ là người, con của bà Maria và ông Giuse. Hoặc là những kẻ kính tin Người là một Thiên thần của Đấng Tối cao, là Thủ lãnh của Thiên thần, là Thần linh của Thiên Chúa, song phủ nhận Người có nhân tính. Kẻ khác dạy rằng: từ khi chịu phép Rửa cho tới ngày chịu nạn, Đức Giêsu Nazarét có ngôi vị một Thiên thần, nhưng vào giờ chết Thiên thần ấy đi khỏi, bỏ mặc Người vật lộn với đau thương trên thập ác để rồi trở về trong vinh quang phục sinh. Các Thư chung của thánh Gioan đã ra kịp thời để cảnh cáo những kẻ không tin “Chúa Kitô Nhập thể” họ không tin mầu nhiệm Giáng sinh và ơn Cứu chuộc. Đại diện cho lạc giáo này có Cerinthus.

Trên đây là những lạc thuyết về bản tính Đấng Cứu Thế, kế đến là những kẻ nhầm lạc về luân thường đạo lý. Nhờ Danh Chúa Giêsu, có những người tưởng mình đã nắm chắc hạnh phúc trường sinh, dẫn độ họ tin rằng: nhờ phép Rửa, họ mặc sức phạm tội, vì tội lỗi họ sẽ được tha thứ mãi; họ còn cho việc bãi luật Maisen tức là bãi bỏ mọi lề luật, và quên đi những gì trọn lành của Phúc âm. Đó là đức tin mà thánh Giacobê kêu là “đức tin chết” (Gc, II.17). Hình như lạc giáo Nicolaism bấy giờ chủ trương sống phóng đãng là cái họa, mà thánh Gioan đã khuyến cáo Giáo hội Asia phải coi chừng (Kh II, 6 và 15).

Ngược lại, có những giáo thuyết quá khắt khe của những người bi quan yếm thế, hằng tin ngày thẩm phán gần đến. Họ không chấp nhận số phận hèn yếu và tội lỗi của con người, nên đã coi tởm vật chất, lên án hôn nhân và cấm hôn nhân: “Đừng lấy, đừng nếm, đừng chạm vào!” (Cl II, 21). Người ta phải hiểu đúng ý của thánh Phaolô : nếu thánh tông đồ dạy chúng ta phải kính trọng thân thể đã được thánh hóa, và gọi là “Đền thờ của Chúa Thánh Thần” (I Cr VI, 13-19), nếu thánh nhân ca tụng đức trinh khiết, thì chính ngài cũng đã nêu cao sự thánh thiện và quí trọng của bậc hôn nhân (Ep V, 21- 33). Với một lấm lòng hào hiệp sẵn có, thánh tông đồ đã cứu được nhiều tâm hồn quá nhát sợ ấy, khỏi những luật lệ bị coi là khắt khe.

Chính vì muốn bảo toàn đức tin khỏi “những hư ngôn lố bịch và tất cả những gì gọi là khoa học giả hiệu” mà thánh Phaolô đã có lời với người môn đệ yêu quí nhất: “Hỡi Timotheô, con hãy giữ gìn cái kho báu” (I Tm VI, 20). Và cũng chỉ vì

Còn Tiếp