LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 7, 2018

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

Tất cả những ai không thể tự mình kiếm ăn, đều được hưởng sự trợ cấp của Giáo hội. Tuy nhiên, cũng có những tiêu chuẩn để tránh lạm dụng. Trước hết phải quan tâm đến kẻ thân thuộc. Thánh Phaolô viết: “Ai không chăm lo đến kẻ thân thuộc, đặc biệt những người trong gia đình, thì đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn người “ngoại đạo nữa” (I Tm V, 8). Người ta cũng lưu ý đến những gia đình đông con, những người lâm cảnh đau thương thất nghiệp, với điều kiện là thực sự họ không thể kiếm được việc làm. Giáo hội không bao giờ bênh vực nhưng kẻ ươn lười, ăn bám, vì làm như thế là gián tiếp cổ võ thói xấu. Còn những kẻ làm nghề không tốt đẹp, thánh Cyprian tuyên bố không ủng hộ: “Thứ người này cùng lắm chỉ cho ăn bữa đạm bạc, chứ không thêm khoản trợ cấp nào khác. Làm như chẳng ích lợi gì cho chúng ta; nhưng chính là để họ đừng phạm tội nữa”.[35] Trái lại, với những người chăm lo phượng thờ Thiên Chúa mà phải thiếu thốn, cơ cực, Giáo hội rất rộng rãi, không những cung cấp của ăn áo mặc mà có khi cả tiền bạc, để họ có thể an tâm chu toàn phận sự cao quí.

Ngoài ra, còn phải kể đến những hành vi và thái độ, nói lên tình bác ái Kitô giáo cao đẹp chừng nào. Đó là sự tiếp rước lữ khách một cách nồng hậu ân cần, đặc biệt các giáo sĩ trên đường rao giảng Tin Mừng; rồi sự tận tụy săn sóc bệnh nhân, nhất là trong thời ôn dịch, họ đã không quản ngại nắng mưa, dơ bẩn hăng hái lo chôn táng kẻ chết. Những cử chỉ đó đã làm cho người ngoại đạo cảm động: “Họ có vài dấu hiệu để biết nhau, và có thể nói: họ yêu nhau trước khi biết nhau”.[36] Trên đây là một số hoạt động bác ái có tính cách thường xuyên; thản hoặc tai tương xảy đến, liền có những cuộc lạc quyên bất thường để đối phó: lạc quyên được bao nhiêu, đem phân phát ngay cho mỗi nạn nhân tùy theo sự cần thiết của mỗi người. Đó là đức bác ái không phân biệt ranh giới, nó đi liền với sứ mạng rao giảng Phúc âm, và “cứ dấu này người ta sẽ nhận ra ai là người Kitô hữu, con cái Chúa” (Ga XIII, 35).

[35] Thánh Cyprian : Ep. II.

[36] Minucius Felix : Octavius, VIII.

Chương Hai

 GIÁO HỘI

THỜI TỬ ĐẠO (t.k. I-IV)

Nước Thiên Chúa và nước trần gian mâu thuẫn nhau như ánh sáng với tối tăm, do đó con cái sự sáng và con cái sự tối không thể sống chung với nhau được. Chúa Cứu Thế đã báo trước cho các kẻ theo Người rằng những cuộc bách hại chờ đợi họ.

Thời Giáo hội nguyên thủy, đế quốc Roma nhìn vào Kitô giáo, coi họ như một giáo phái trong Do Thái giáo, hoặc như một tôn giáo mới của Đông phương đang thời phát triển. Họ không ngờ đó là một cuộc cách mạng âm thầm, đang lớn lên để đi đến một xã hội công bình và bác ái. Cả ngay giáo dân, lúc đầu họ cũng không nhận ra sự xung khắc này, họ tin tưởng mình là những công dân trung thành, xứng đáng hơn hết.

Thật vậy, đây là một cuộc cách mạng tinh thần trong đời sống, tuy âm thầm, nhưng khi lớn lên, ảnh hưởng của nó không thể không đe dọa những tổ chức sa đọa của một xã hội đang xuống dốc. Những người chuyên sống bằng nghệ buôn bán súc vật dùng vào việc tế lễ, là những người đầu tiên nhận ra tính cách de dọa này. Mất khách hàng, họ thù ghét và vu cáo, họ là những người bách hại Kitô giáo trước nhất. Trong một xã hội bảo thủ và thối nát, lối sống của người Kitô hữu bị coi là lập dị và không thể tha thứ được. Lúc đầu, bị thúc đẩy bởi một số người, các nhà cầm quyền địa phương can thiệp và cấm cách. Mãi đến đời Nero, triều đình Roma mới nhúng tay vào.

Nhưng bách hại, tra tấn, đầu rơi, máu chảy không ngăn cản được bước tiến cách mạng tinh thần của Kitô giáo. Những chứng nhân của Chúa Kitô đã vui nhận cái chết để cuộc sống mới trở nên vững mạnh, và lướt thắng các kẻ bách hại. Chân lý bao giờ cũng thắng và lịch sử đã minh chứng. [1]

I-ĐẾ QUỐC ROMA CHỐNG LẠI TIN MỪNG

1. Cuộc bách hại dưới thời Nero và Domitianus (hạ bán thế kỷ I)

Từ năm 64, số giáo dân Roma đã tăng nhiều và có mặt trong mọi tầng lớp xã hội. Người ta bắt đầu để ý và nhận ra Kitô giáo khác biệt với Do Thái giáo. Những người Do Thái bảo thủ và những người chuyên nghề buôn bán súc vật và ảnh tượng lợi dụng tình thế, tung ra nhiều vu cáo chống họ. Những cuộc hội họp của giáo dân bị phao đồn và bị tố cáo bằng những tội như loạn luân, giết trẻ con… Bầu khí thiên kiến đã dọn sẵn. Một vụ hỏa hoạn xảy ra vào đêm 17 rạng ngày 18 tháng 7 năm 64, thiêu hủy tất cả những khu phố cổ và đông dân nhất của Roma, cháy suốt 6 ngày liền. Cả một vùng phía nam kéo dài từ đồi Palatina đến Esquilia chỉ còn là một đống tro tàn. Trong khi ngọn lửa còn bừng bừng cháy, đã có tiếng đồn Nero thiêu hủy những khu bình dân để xây cất một Đế đô mới, huy hoàng tráng lệ hơn. Chỉ thế mà khi ấy Nero mặc áo kịch trường, cầm đàn ca lại bài anh hùng ca do ông soạn, về cuộc hỏa hoạn thành Troas. [2]

Nero lo sợ trước dư luận quần chúng, nhất là khi đó ông đã bị lên án về những vụ đổ máu: giết mẹ, giết vợ, giết đại thần Burrhus. Nhưng cố vấn Tigellinus đã giúp ông tìm ra lối thoát bằng cách đổ vạ cho người Kitô hữu. Được dịp trả thù, dân chúng hè nhau đi lùng bắt, hành hạ rồi đem giết cho thỏa giận. Nero cũng trổ tài hung dữ, nghĩ ra nhiều trò chơi ghê rợn. Tra tấn, hỏa thiêu, chém đầu, đóng đinh, ông chưa lấy làm đủ. Trong sân triều đình, ông cho tổ chức những cuộc thú vật giả làm mồi cho chó săn cắn xé, tẩm dầu buộc trên cột cao và thiêu sống làm đuốc cho Nero chạy xe hoặc ăn uống ban đêm. Có người bị bò rừng xé ra từng mảnh, hoặc ném cho hùm beo ăn thịt… Tử đạo vào thời này, ngoài hai thánh tông đồ Pherô và Phaolô, [3] còn có Processô, Martinian, Anastasi, v.v…

Cuộc bách hại khởi sự ở Roma và tràn đi khắp đế quốc. Trong một bức thư, thánh Pherô nói đến mối nguy hiểm đe dọa các giáo đoàn xứ Cappadocia và Bithynia; người ta cũng được biết thánh Phaolô bị bắt tại Troas, khắp nơi đều có những tấm gương tử đạo một cách gan dạ anh hùng: ở Milan có Gervasiô, Protasi, Nagari, và Celsô: ở Brescia có Alexandrô; ở Pisa có Paulin; ở Etruria có Felix, Constancia; ở Aquilea có Hermagoras, Fortunas, Euphemia, Dorothea và Fresma.

Cuộc bách hại của Nero bắt đầu từ năm 64, kéo dài hai thế kỷ rưỡi nghĩa là cho đến năm 314 với chiếu chỉ Milan tha đạo. Nhưng trong 250 năm, bách hại hay không, ác liệt hay lắng dịu, lâu hay chóng là tùy ở tâm trạng mỗi ông vua và các nhà cầm quyền địa phương. Lại cũng tùy ở hoàn cảnh hay nhu cầu, hễ khi nào người ta cần đến một số tội phạm để dùng vào hí trường Coliseum hay đem đến một hầm mỏ, hễ một vụ hỏa hoạn hay thiên tai nào xảy ra, mà người ta cần có những can phạm gây căn cớ, tức khắc chiếu chỉ của Nero (instrumentum neronianum) lại được đem ra thi hành, nghĩa là đổ tội lên đầu người Kitô hữu. Vì lẽ chiếu chỉ cấm đạo của Nero chưa bao giờ được hủy bỏ, nên suốt 250 năm, Giáo hội luôn sống trong đe dọa và sợ hãi, người Kitô hữu có thể bị bắt giam, bị giết bất cứ lúc nào.[4]

Cuộc bách hại của Nero do hoàn cảnh gây ra, tạm ngưng vào năm 68 khi Nero băng hà. Triều đại mang tên Flavius thay thế triều đại Cesar. Dưới đời Vespasianus (69-79) và con ông là Titus (79-81), Giáo hội được sống yên hàn. Cả hai chỉ để tâm vào việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy của người Do Thái ở Palestina, lo tổ chức quân đội và kiện toàn guồng máy hành chánh. Trong khi đó, Giáo hội tạo được nhiều ảnh hưởng khắp kinh thành Roma, ngay trong triều đình nhiều nhân vật có thiện cảm với Kitô giáo, nhiều gia đình quyền quí theo đạo. Nhưng những ngày thanh bình đó không còn, khi Domilianus (81-96) lên nắm quyền.

Domitianus là người đa nghi, ác nghiệt, chuyên chế và tàn nhẫn. Phe quí tộc và giới trí thức không phục ông. Năm 88, một cuộc cách mạng nhằm lật đổ ông bị giập tắt, tất cả những người dính líu vào cuộc chính biến này đều bị trảm quyết. Các triết gia chủ trương tự do tư tưởng cũng chịu chung số phận hoặc lưu đày. Domitianus vẫn để ý đến dân Do Thái; tuy Gierusalem đã bị tàn phá (70), nhưng ảnh hưởng của họ ở các nơi hãy còn. Số người theo Kitô giáo gia tăng và có ảnh hưởng nhiều trong phe quí tộc, cũng làm ông rất lo ngại. Hình như có hai lý do khiến Domitianus rất ác cảm với Kitô giáo: một là sự nghi ngờ của ông đối với phe quí tộc và hoàng thân có cảm tình với đạo này, hai là sự căm giận của ông đối với người Do Thái và với tất cả người nào “sống theo lối Do Thái”, nghĩa là tin thờ một Thiên Chúa duy nhất. Vì sợ ngôi báu sang tay kẻ khác, ông quyết tâm một cuộc thanh trừng ngay trong hàng ngũ thân cận ông. Chấp chánh quan Flavius Clemens bị tố cáo âm mưu chính trị “sống theo lối Do Thái” và bất kính thần minh, ông bị trảm quyết. Trong phe quí tộc, có Acilius Glabrius thượng nghị sĩ và là nguyên chấp chánh quan, cũng bị giết. Nhiều người tên tuổi khác bị án tử hình hoặc tịch biên tài sản và phát lưu, trong đó có bà Domitilia (vợ ông Flavius Clemens) bị đày ra đảo Pandataria. Không rõ giáo dân thường có bị bắt bớ hay không. Nhưng chắc một điều là có những cuộc hành quân qui mô của cảnh binh, tại những vùng bị tình nghi âm mưu chính trị muốn cướp ngai vàng. Ở Palestina, Domitianus cho tìm bắt người có liên hệ đến “người tự xưng là vua Do Thái”, và hai người bà con gần xa của Chúa Giêsu bị điệu sang Roma để tra hỏi. Nhưng khi thấy họ là những người dân hiền lành chất phác, không có tham vọng làm cách mạng chiếm đoạt ngôi báu. Ông mới hết nghi ngờ và cho họ về nhà.[5] Ở tỉnh

Asia, cuộc bách hại diễn ra khá ác liệt: thánh Gioan tông đồ bị bỏ vào vạc dầu sôi, nhưng không chết sau bị đày ra đảo Patmo. Tại đây, thánh tông đồ viết sách Khải huyền. Khi nói về giáo đoàn Smyrna trong thời bách hại này, tác giả viết: “Ma quỷ sắp tống ngục ít người trong các ngươi để thử thách các ngươi” (Kh II, 10).

Năm 96, tức năm cuối cùng của đời ông, Domitianus hạ lệnh ngưng bách hại và cho những người đi đày được về, trong số này có thánh Gioan tông đồ được trở lại Epheso và qua đời ở đó năm 100. Chỉ mấy tháng sau, Domitianus bị đâm chết do âm mưu của Thượng viện.

2. Chiếu chỉ Trajanus năm 112 và cuộc bách hại thế kỷ II

Cụ già Nerva lên kế vị Domitianus, mở đầu triều đại Antoninus kéo dài từ năm 96 đến 193. Nerva trị vì được 16 tháng thì băng hà (96-98).

Những người nối nghiệp: Trajanus (98-117),

Hadrianus (117-138), Antoninus-Pius (138-161),

Marcus-Aurelius (161-180), ngoại trừ Commodus (180-193), đều là những người có tài đức biết bảo vệ luân thường, đạo lý, văn chương, nghệ thuật đem lại thịnh vượng cho đế quốc. Trong việc cai trị, các ông tránh chính sách độc tài đẫm máu của Nero và Domitianus. Về vấn đề tôn giáo, các ông quan niệm mình có nhiệm vụ bảo vệ các thần linh của đế quốc. Riêng đối với Kitô giáo, các ông cho là một tôn giáo xa lạ không thuộc nhóm tôn giáo quốc gia, cần phải ngăn cản như một thứ mê tín có hại.

Cuộc bách hại thời này bước sang giai đoạn có hệ thống, dựa trên pháp luật với đường lối truy tố, xét xử, bắt đầu từ chiếu chỉ Trajanus năm 112, khi ông giải đáp những thắc mắc của Plinius Jumor bấy giờ là đại sứ toàn quyền ở Bithyma, nơi Kitô giáo đang phát triển mạnh mẽ, khiến các sư sãi và các nhà buôn lễ vật rất lo ngại. Theo nguyên tắc của Nero, thì không ai được “làm người Kitô hữu”, và những ai bị tố cáo và tra hỏi mà thú nhận liền bị kết án. Thấy có kết quả, những người ghét đạo cũng đem đến nhiều đơn tố cáo rất nhiều đơn nặc danh. Những người bị tố cáo có người xưng đạo có người chối, có người bỏ. Sau đây là những thắc mắc của Plinius: có phải nguyên việc mang tên Kitô hữu đã đủ để kết án? những người chối bỏ thì sao? những đơn nặc danh có giá trị gì không?[6]

Trajanus trả lời: “Không nên tầm nã người Kitô hữu, nhưng nếu bị tố cáo và xác nhận là Kitô hữu thì phải trừng phạt. Tuy vậy nếu ai chối mình không phải là người Kitô hữu, và minh chứng bằng việc thờ cúng thần minh thì được tha”. Vốn là một chính trị gia lỗi lạc, có óc thực tế lại là con người nhân đạo, Trajanus còn cho hạn định thời gian giam giữ, cấm xét xử những đơn tố cáo nặc danh, và đòi nhà cầm quyền địa phương phải tôn trọng luật lệ tòa án trong việc kết án dân có đạo. Chính ông đã đưa ra nguyên tắc : “Thà tha bổng một phạm nhân còn hơn là kết án người vô tội”.

Qua chiếu chỉ của Trajanus, người ta nhận thấy những điểm sau đây:

  • Duy trì tình trạng cấm đạo của triều đại cũ, nhưng vì người Kitô hữu không làm điều gì trực tiếp phạm pháp nên khỏi cần tầm nã.
  • Người Kitô hữu có tội chỉ vì họ đã theo một đạo bị cấm, vì thế nếu bị tố cáo và xác chứng sẽ bị phạt.
  • Nhưng vì tội đó là tội đặc biệt, nên nếu sám hối nghĩa là chối đạo sẽ được tha, điều đó không thể áp dụng cho những tội trộm cướp hoặc giết người.

Đứng về phương diện chính trị, tôn giáo, với chính sách tha bổng cho những người chối đạo và thờ cúng thần linh, Trajanus đã mở đầu một đường lối bách hại tiêu diệt Kitô giáo rất hiệu nghiệm: Đứng về phương diện pháp lý, mới đọc qua chiếu chỉ của ông, người ta thấy có vẻ nhân đạo, nhưng không thể tránh được những điểm bất công và mâu thuẫn. Tertullianus đã nói một câu khôi hài: “Người Kitô giáo bị trừng phạt không phải vì họ có tội, nhưng chỉ vì họ bị tố cáo là có tội, tuy người ta không được phép tầm nã”. Trong thực tế, chiếu chỉ này đặt giáo dân vào tình trạng tùy thuộc ở cảm tình của chính quyền và dân chúng địa phương đến với Kitô giáo. Xét về lịch sử cuộc bách hại, thì chiếu chỉ này nói lên thái độ của triều đại Antoninus đối với Kitô giáo trong thế kỷ II.

Trajanus trước khi chết đã đặt Hadrianus, con nuôi của ông, lên kế vị. Hadrianus là người có văn hóa cao, thích văn chương, nghệ thuật và rất sùng kính thần linh, ham biết những tôn giáo thần bí đông phương. Ông không ưa Kitô giáo, nhưng cũng không muốn bách hại quá gắt, và còn ngăn ngừa những cuộc bắt bớ bất hợp pháp.

Dưới đời Antomnus-Pius, cuộc bách hại vẫn tiếp tục. Pius rất bảo thủ, ông cho là bất kính thần linh và bất hiếu với tổ tiên nếu làm khác. Tại nhiều nơi, những vụ bắt bớ bất hợp pháp vẫn xảy ra. Ở Smyrna, những người ghét đạo đã bắt thánh Polycarpô và thiêu sinh, không xét xử theo luật. Antoninus-Pius phải can thiệp và trong thư gởi cho dân Hy Lạp, ông cấm không được gây ra những cuộc bách hại làm náo động quần chúng.

Số phận người Kitô giáo cũng không may mắn gì hơn dưới đời Marcus-Aurelius. Riêng ông là người hiền hậu theo chủ nghĩa tu thân khắc kỷ. Do tính tự kiêu của một triết gia, ông khinh chê Kitô giáo và cho đó là một tôn giáo của lũ quê mùa dốt nát. Ông còn chịu ảnh hưởng của những nhà trí thức ghét đạo vây quanh ông. Đàng khác, dưới đời ông xảy ra nhiều tai ương: giặc giã, đói kém, ôn dịch. Dân quê mê tín đổ tội cho người Kitô hữu. Chính ông cũng mê tín, lại thêm nhu nhược, nên dân chúng tha hồ bắt bớ.

Với Commodus, cuộc bách hại có phần lắng dịu. Khác hẳn với vua cha, ông khinh chê triết học, sống bừa bãi, không xét kể đến luật pháp. Đối với tôn giáo ông không quan tâm nhiều; dựa trên chiếu chỉ Trajanus, ở nhiều nơi cuộc bách hại vẫn còn. Nhưng từ khi cưới bà Marcia, một người dự tòng Kitô giáo, ông muốn ủng hộ đạo và cho các kẻ lưu đày được trở về. Commodus bị giết năm 193, chấm dứt triều đại Antoninus.

Những giòng máu đào minh chứng đức tin trong thời bách hại thế kỷ II này, thuộc đủ mọi giai cấp xã hội, từ Giáo hoàng, giám mục đến người nô lệ, giai cấp cuối cùng của xã bội Roma. Những Giáo hoàng như Sixrô I (126), Piô I (155). Những giám mục như Ignatiô thành Antiokia bị ném cho ác thú ăn thịt ở đế đô (110), nhà hộ giáo nổi tiếng Giustinô chịu trảm quyết cũng tại đế đô (165), Trong hàng giáo dân, từ bậc quí phái như Cecilia (179) ở Roma. Đến những thường dân như 12 vị tử đạo, quê thành Scili (trong số có 5 phụ nữ) tại Carthago (180), hay nô lệ như thiếu nữ Blanđina ở Lyon (177). Thuộc đủ mọi tuổi, như Polycarpô giám mục thành Smyma 86 tuổi bị thiêu sống (155), Photin giám mục thành Lyon 90 tuổi chết rũ tù (177), đến những thanh niên hai anh em Valerian và Tiburciô, quân nhân như Maximô (179), hoặc thiếu niên như Ponticô mới 15 tuổi em của Blanđina (177). Khổ hình tra tấn thường là kềm nung đỏ, ghế lửa, bỏ thừng tung lên vật xuống, đánh đập tàn nhẫn, cho đến những cái chết đóng đinh, chém đầu, thiêu sinh, ác thú cắn xé ăn thịt, xác phơi trên hí trường, hoặc bị đốt ra tro ném xuống sông xuống biển.

3. Cuộc bách hại tinh thần của giới trí thức: Celsus (thế kỷ II)

Ngoài những khổ hình chết chóc do các vua gây nên cho Giáo hội, người Kitô hữu còn phải chịu một cuộc bách hại về tinh thần từ giới trí thức tung ra những luận điệu đả kích, vu khống và nhạo báng. Năm 150 Pronton thành Cirta (166), bạn thân của Antoninus-Pius và là thày dạy Marcus-Aurelius, dám bịa ra câu truyện người có đạo đã lấy bột bọc trẻ em và bắt những người tân tòng đâm vào trái tim lấy máu uống, còn họ thì chia nhau ăn thịt. Ông cũng tố cáo những bữa ăn chung, những buổi hội họp của dân Kitô

Còn Tiếp

[1] Sách tham khảo: P.H. Delehaye: Les passions des Martyrs et les genres litéraires, Bruxelles 1921 – Gaston Boissier: La Fin du Paganisme, 1891 – G. de. Plinval “Les offensives antichrétiennes” trong: Histoire illustrée de l’Église (G. de Plinval – R. Pittet Paris 1946-48, Q.I, tr 105-150 – Dom C. Poulet: Histoire de l’Église, Paris 1960.

[2] Tacitus: Analecta XV, 38-42.

[3] Xem chương Một, tr 32 và tiếp.

[4] Về chiếu chỉ của Nero, xem C. Callewaert: Rev. d’Histoiré Ecclésiastique. Louvain 1901-1902 và 1911.

[5] Xem Eusebius: Hist. Eccl. III, 20.

[6] Plinius Junior Lettre à Trajan. X, 96.