LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 12, 2018

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

Cất chức Nestorius tức là đánh đổ luôn lạc thuyết của ông. Với 12 đề án vạ tuyệt thông, thánh Cyrillô nêu rõ mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập thể theo truyền thống của học viện Alexandria. Chính đêm 22 tháng 6 đó, toàn thể giáo dân Epheso chào mừng Công đồng bằng một cuộc rước đèn vĩ đại, tung hô Mẹ Thiên Chúa: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”. Kinh đó đã được soạn ra trong dịp này, và đức Thánh Cha Celestin chấp nhận. Ở Đông phương cũng như Tây phương, lòng đạo của dân chúng trở nên sốt sắng hơn do sự tôn sùng Đức Trinh Nữ rất thánh: văn chương, nghệ thuật và các lễ nghi đều đượm mầu lối tôn sùng này. [1]

Hành động của các nghị phụ bị coi là quá vội vàng, đến độ các đại diện của Roma không kịp tới, tuy các vị này đến sau đã chấp nhận công việc của Công đồng. Riêng các nghị phụ xứ Syria khi tới nơi đã phản đối việc cách chức Nestorius. Không phải vì các ông muốn bênh vực đạo lý của Nestorius, nhưng muốn có một giải pháp ôn hòa và tốt đẹp hơn. Đàng khác, các ông phủ nhận lối trình bày của thánh Cyrillô, cho rằng có những từ ngữ quá đáng hoặc không chỉnh. Công đồng Epheso được triệu tập với mục đích làm dịu lòng người và đem lại sự đoàn kết, thì lại suýt gây ra cuộc đổ vỡ. Phải mất 20 tháng hòa giải mới đạt được sự thỏa thuận giữa các giám mục Syria và các vị ở Ai Cập, giữa Gioan thành Antiokia và Cyrillô thành Alexandria, và một công thức được nhìn nhận như sau: Chúa Kitô đồng bản tính với đức Chúa Cha về thiên tính và đồng bản tính với chúng ta về nhân tính: bởi vì có sự hiệp nhất của hai bản tính”[2] Bản án tuyên phạt Nestorius cũng được các giám mục xứ Syria đồng ý, sau khi nghe đương sự tự bào chữa.[3]

2. Giáo thuyết Eutkykes và đại Công đồng Calcedonia (451)

Đến đây, vấn đề tín lý Ngôi Hai Nhập thể tưởng đã ổn thỏa, chỉ còn đợi tình hình lắng dịu dần. Ai dè, trong thời hậu Công đồng, một số người đã dựa vào nhãn hiệu giáo lý Epheso và lạm dụng những luận đề của thánh Cyrillô (? 444), để chống lại Nestorius, đi đến một sai lầm cực đoan, là chủ trương Ngôi Lời kết hiệp chặt chẽ với nhân tính, đến độ chỉ còn một bản tính duy nhất, tức Thiên tính.

Người chủ xướng giáo thuyết này là Eutykes (378-454), một đan viện phụ ở Constantinopoli, đối thủ của Nestorius; song người lãnh đạo lại là Dioscorus (? 454), giáo chủ Alexadria. Ban đầu chỉ là một cao trào nhằm tiêu diệt mọi vết tích của Nestorius, bằng việc cách chức nhiều giám mục xứ Syria có cảm tình với người đã bị Công đồng Epheso lên án. Nhưng đến khi Eutykes bị thánh Flavian, giám mục Constantinopoli, phạt vạ tuyệt thông, vạ này đến sau được thánh Giáo hoàng Leô (440-461) y nhận, khiến vấn đề trở thành lớn. Hoàng đế Theodosius II và Dioscorus bênh Eutykes ra mặt. Eutykes cũng ngại sang Tòa thánh.

Năm 449, một công đồng họp tại Epheso, Dioscorus ngồi ghế chủ toạ, có nhiều binh sĩ canh gác. Ba đại diện Roma cũng đến, đem theo bức thư của đức Thánh Cha Leô, nhưng Dioscorus không cho đọc bức thư đó. Ông còn yêu cầu giám mục Eusebius thành Dorylea (Phrygia) người đứng đắn tố cáo Eutykes, phải ra khỏi công đồng, viện lẽ nguyên cáo không được ngồi tòa xét xử. Tại công đồng, Eutykes tự do bào chữa và chỉ phải ký nhận bản Tuyên xưng đức tin Nicea; sau đó ông được tha vạ, còn Eusebius bị truất chức và đi đày. Để thi hành những phán quyết của công đồng, Dioscorus dùng binh sĩ đàn áp các giám mục chống đối: “Đánh chết các kẻ phân biệt hai bản tính!” Thánh Flavian bị đánh đập tới chết. Tại Roma liền sau đó một công đồng được đức Thánh Cha triệu tập luận phi công đồng Epheso 449, mà lịch sử gọi là “Mẻ cướp Epheso” (Latrocinium Ephesinum). [4] Dioscorus làm chủ tình thế, lạc thuyết Eutykes được công khai tuyên truyền, và lấy tên là Monophysism (bè Một Bản tính).

Cái chết của Theodosius II vào năm sau đã chấm dứt ảnh hưởng và thế lực của giáo chủ thành Alexandria. Marcianus (450-457), vị hoàng đế thứ nhất được Giáo hội tấn phong, cùng với hoàng hậu Pulkeria, quyết tái lập hòa bình tôn giáo và giao hảo với Roma. Năm 451, một đại Công đồng nữa được họp tại Nicea. Roma cử 5 đại diện: 3 giám mục và 2 linh mục, mang theo thư của thánh Giáo hoàng Leô. Dioscorus cũng đến và tin tưởng sẽ lấy phần thắng một phen nữa. Nhưng hoàn cảnh không còn như ở Epheso năm 449, vì thế khi ông làm một việc “động trời” là đề nghị kết án tuyệt thông đức Thánh Cha Leô, đã chẳng được ai hưởng ứng. Một tháng sau, Công đồng di chuyển sang thành Calcedonia. Một trong những việc thứ nhất của Công đồng là xét lại “Mẻ cướp Epheso”:

Dioscorus bị tố là lộng hành, bị cách chức và đi đày.

Sang phần giáo lý, bản Tuyên xưng đức tin Nicea và bức thư đức Leô được đem ra đọc. Với lối hành văn sáng sủa, khúc chiết, vị Đại diện Chúa Kitô viết: “Chúng tôi tuyên xưng có một Chúa Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa, Đấng chúng tôi nhìn nhận có hai bản tính: Thiên tính và Nhân tính mà giữa hai bản tính này không hề có sự lẫn lộn, biến đổi, phân chia hay lìa nhau (in duabus naturis inconfuse, immutabiliter, indivise, inseparabiliter agnoscendum). Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề một đi bởi sự kết hiệp, trái lại, các đức tính của mỗi bản tính này còn y nguyên trong một Ngôi vị duy nhất”. Hai bản văn vừa đọc xong, toàn thể các nghị phụ đồng thanh hô: “Đó là đức tin của các tông đồ. Chúng tôi đều tin như vậy, Pherô đã nói qua môi miệng Leô” (Petrus locutus est per Leonem). Ở đây cũng được nhắc đến câu nói bất hủ của thánh Âutinh: “Roma một khi đã lên tiếng, vấn đề được coi là đã giải quyết” (Roma locuta est, quaestio soluta est).

Nhưng Giáo hội không bao giờ hết kẻ chống đối. Có những người đứng lên chống Calcedonia cũng như trước kia người ta chống Nicea. Nhiều giám mục Hy Lạp, Syria, Ai Cập không chịu ký nhận công thức do Công đồng Calcedonia đã soạn theo tinh thần thánh Leô: “Chúng tôi đồng thanh dạy rằng: Ngôi Con, tức Đấng Giêsu Kitô Chúa chúng ta, có trọn vẹn Thiên tính và trọn vẹn nhân tính, là Thiên Chúa thật và là người thật, đồng bản tính với Đức Chúa Cha về thiên tính và đồng bản tính với chúng ta về nhân tính; sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước vô cùng về Thiên tính và, về nhân tính đã sinh ra trong thời gian qua vì chúng ta bởi Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, cùng là một Đấng Kitô, Ngôi Con, Chúa chúng ta, được sinh ra với hai bản tính, không lẫn lộn, không biến đổi, không phân chia, không lìa nhau… trong một Ngôi vị duy nhất”. [26] Không phải giáo thuyết của Eutykes đã thắng, nhưng vì các giám mục này cho rằng: nếu chấp nhận công thức của Calcedonia; tức là đi ngược với Công đồng Epheso (431), và nhượng bộ Nestorius; nhất là không thể dung hòa được với giáo lý của thánh Cyrillô.

Giáo hội Alexandria, vì luôn theo sát vị giáo chủ của mình đã vùng dậy công khai chống cả giáo quyền lẫn chính quyền. Đó là bè phái của giáo chủ Timotheus Aelurius (477), người kế vị Dioscorus, nó kéo dài gần nửa thế kỷ với các giáo chủ nối tiếp. Cả ở Syria và Palestina nữa, phần đông các giám mục không còn giấu được sự bất mãn đối với giáo lý Calcedonia. Các đan sĩ, những người có nhiều ảnh hưởng trong quần chúng, kéo nhau từng loạt theo bè Monophysism, làm giám mục Acacius thành Constantinopoli nghiêng theo.

Cũng nên biết rằng những tranh chấp này thực ra ở tại sự bất đồng về danh từ hơn là tại mâu thuẫn về giáo lý. Bè Monophysisme chỉ muốn nhấn mạnh vào sự hiệp nhất và đơn nhất nơi Chúa Kitô, vì theo họ, nếu phân chia hai bản tính sẽ làm giảm tác động Thiên Chúa trong công cuộc cứu thế. Trong khi đó, Roma không thể nào chịu để người ta bỏ một công thức đã được long trọng công bố tại Calcedonia, tức giáo lý của thánh Giáo hoàng Leô. Chiếu chỉ Henotikos (484) của hoàng đế Zenon (474-491) nhằm dung hòa hai bên, bằng một công thức “trung lập” làm ngơ đi đạo lý của đức Leô và Calcedonia, đã bị Đức Thánh Cha Felix III (483492) phản đối và chính thức lên án.[27] Tiếp đến là sự đổ vỡ giữa Roma và Constantinopoli do Giám mục Acacius gây ra, nó kéo dài gần 35 năm từ 484 đến hết triều Anastasius (491-518). Khi hoàng đế Justinus (518-527) lên cầm quyền, ra lệnh phải trở lại giáo lý của Calcedonia thì đó chỉ là hành động của thế quyền, không ảnh hưởng gì tới tâm trạng chống đối Roma nơi hàng giáo sĩ Đông Phương.

Trong các cuộc tranh luận giằng giai này, mỗi phe đều dựa vào thế giá một nhân vật nổi tiếng để bênh vực cho lập trường của mình. Phe Nestonus dựa vào Theodorus Mopsuest, một nhà thần học nổi tiếng và là bạn thân của Nestorius, phe Monophysism cậy có thánh Cyrillô, còn những ai bênh vực Công đồng Calcedonia thì lấy thánh Leô làm đầu. Viện lẽ bảo vệ đạo lý, người ta đã vô tình chia cắt Hội thánh Chúa thành từng khu vực đối lập nhau, tùy theo mỗi quan điểm giáo lý. Ở Tây phương, các Man dân (trừ dân Franc) đều theo Arius. Bên Đông phương, giáo thuyết Nicea và Calcedonia chỉ còn đứng vững ở Hy lạp, Balkan và Tiểu Á, nhưng lại chỉ liên lạc với Roma một cách lỏng lẻo. Ai Cập biến dần thành Giáo hội quốc gia tự trị, kình địch với Constantinopoli. Palestina và Syria thì theo bè Monophysism cũng một kiểu cách như Ai Cập; giáo đoàn Edessa xưa kia nổi tiếng với thánh Ephrem (306-373) nay cũng thế, rồi xứ Armenia cũng vậy.[28] Ở Persia, những người Kitô hữu có thế lực lại theo bè Nestorius để phân biệt mình với Byzantin.[5] Quyền tối thượng của giáo hoàng Roma, vì được người ta đồng hóa với tư thế của đế quốc, nay đế quốc Tây phương sụp đổ (476), người ta cũng giảm bớt lòng tin tưởng vào Tòa Pherô. [6] Đó là khung cảnh bi đát của Kitô giáo đầu thế kỷ VI.

3. Bàn tay “nghĩa hiệp” tai hại của hoàng đế Justinianus (527-565)

Là một võ tướng, một nhà lập pháp, một tay kiến thiết thời danh, Justinianius có tham vọng trở thành lãnh tụ hữu hình của Hội thánh. [7] Trước tình trạng chia rẽ của Kitô giáo, ông quyết đóng vai trò trọng tài. Nhưng sự can thiệp của ông hoàng “say sưa” thần học này chỉ làm xáo trộn thêm trong Giáo hội, và hãm hại quyền thiêng liêng của Giáo hoàng một cách rất nguy hiểm. Thêm vào đó, hoàng hậu Theodora, gốc xứ Syria, là người có cảm tình với bè Monophysisme. Cũng thời gian này, đức Giáo hoàng Agapitô (535-536) bị Theodatus vua Ostrogoth nước Ý làm áp lực, đã phải đích thân sang Constantinopoli yêu cầu Justinianius đừng đem quân đánh ông ta. Nhưng vì quân sĩ của Đông phương đã sẵn sàng lên đường, nên việc can thiệp của đức Thánh Cha không thành. Nhân dịp này, ngài ở lại Constantinopoli giải quyết một số vấn đề tôn giáo, và từ trần tại đây.

Thấy Monophysism chống Calcedonia vì cho rằng Công đồng này đã nhượng bộ Nestorius, Justinianus liền muốn cứu nguy cho Công đồng bằng một giải pháp mà ông cho là “phi phàm”, bắt ép Roma phạt vạ tuyệt thông ba nhà thần học quá cố: Theodorus thành Mopsuest (430), Theodoret thành Cyro (457), Ibas thành Edessa (449), có khuynh hướng Nestorius. Đó là vấn đề “Ba Đoạn” (Tria Capitula), danh từ của Justinianius khi ông tuyên bố về ba tác phẩm của những nhà thần học nói trên. Với sự đồng ý của đức Thánh Cha Vigiliô (538-555), Justinianius triệu tập Công đồng tại Constantninopoli năm 553, để tỏ thái độ về vấn đề “Ba Đoạn”. [32]

Đức Thánh Cha từ Roma sang Constantinopoli, nhưng để tránh áp lực của các nghị phụ phần đông là Hy Lạp, ngài bỏ trốn sang thành Calcedonia, nhất là vì ngài quyết không chống lại việc luận phi “Ba Đoạn”, sợ rằng làm như thế sẽ mắc mưu bè Monophysism. [8] Dù không có mặt đức Thánh

Cha, giáo chủ Eutykius cứ cho khai mạc Công

  • Xem Evagrius : Hist. Eccl. Q. III, tr 14
  • Cuối thế kỷ VI (563-616), bè Monophysism đức phục hưng nhờ bàn tay khéo léo của Jacobus Barades (t 378), do đấy có tên “Giáo hội Giacobit”, xây lại sự thống nhất giữa hai giáo phái Syro và Ai Cập. Ngày nay giáo phái này còn duy trì được nhiều giáo dân quan trọng trong Kitô giới Đông phương Giáo hội Copto, Syro, Armeno: Giáo hội Syro Malabar ở miền Tây Nam ấn Độ.

đồng với sự tham dự của 164 giám mục. Công đồng lên án “Ba Đoạn”, tuy nhiên không hề có một lời chê Cồng đồng Calcedonia. Để bản án được vị Đại diện Chúa Kitô phê chuẩn và Công đồng được liệt vào hàng đại Công đồng, nhà vua cho dùng áp lực bắt đức Thánh Cha Vigiliô phải ký nhận. Bị mắc mưu, bị cô lập và áp bức, đức Thánh Cha đã nhượng bộ. Sau đó ngài trở về Roma, nhưng đến thành Syracusa thì qua đời. [9] Hành động độc đoán của Justinianius không giải quyết được gì hết: bè Monophysism vẫn tức tối vì Công đồng cũng như đức Thánh Cha không hề có một “lời phê phán Calcedonia; trái lại, còn làm cho bên Công giáo bất mãn vì thái độ chuyên quyền tôn giáo của đức Giáo hoàng Vigiliô. Các giám mục Phi châu, Bắc Ý, Illyria đả kích hành động của Justinianius, chê trách đức Thánh Cha và người kế vị, đức Pelagiô I (555-561). Hai địa phận Milan và Aquilea chống đối ngôi Giáo hoàng và đại Công đồng thứ năm này trên nửa thế kỷ.

Bàn tay “nghĩa hiệp” như thế của Justinianius thật rõ tai hại. Ông khua tay quá mạnh vào lãnh vực tôn giáo, khiến ngôi Giáo hoàng bị áp đảo, gây chia rẽ Giáo hội Tây phương. Tuy nhiên, xét về khía cạnh khác, ông là một hoàng đế “ân nhân” của Hội thánh, với những đại thánh đường nguy nga, đặc biệt nhất là Đền thờ Đấng Khôn ngoan (SainteSophie 532-537), sự phát triển nghệ thuật kiến trúc Byzantin và đồ khảm gián sắc (mosaique).

Chương Bốn

 CÁC THÁNH GIÁO PHỤ VÀ VĂN SĨ CÔNG GIÁO (t.k. II-VIII)

Đứng trước làn sóng lạc thuyết và tà thuyết, Mẹ Giáo hội không khỏi đau lòng khi thấy có những người con bội phản, và để bảo vệ đoàn chiên, Giáo hội phải tỏ thái độ. Giáo dân đoàn kết chung quanh chủ chăn, các chủ chăn liên kết chặt chẽ để ngăn cản. Trong giới trí thức Kitô giáo, xuất hiện những nhà hộ giáo, minh giáo, thần học, văn hào, tiến sĩ, nhận sứ mạng bảo vệ đức tin.

Thế kỷ II, với những nhà hộ giáo và minh giáo, văn chương Kitô giáo mới trong bước đầu, còn phải dò thử danh từ và cách phát biểu. Thế kỷ III, đã phát triển khá mạnh với hai trung tâm văn hóa: học viện Alexandria ở Đông phương và trung tâm văn hóa Carthago. Nó là sự tiến triển tự nhiên của tư tưởng Kitô giáo, là kết quả bao cố gắng của các giáo phụ trong 300 năm qua về phương pháp trình bày cũng như ấn định danh từ. Thế kỷ IV và V được gọi là thời hoàng kim giáo phụ. Nhưng thời đó chấm dứt với thánh Leô Cả (461) và bước dần sang thời suy mạt thế kỷ VI-VIII.

Xét về lối hành văn, các giáo phụ từ thế kỷ IV chịu ảnh hưởng văn chương ngoại giáo xưa. Hầu hết các ngài đã đọc những tác phẩm của Virgilius, bắt chước kiểu nói của Cicero. Thần giáo đã sụp đổ, không còn sợ ảnh hưởng của nó, các giáo phụ mạnh bạo “rửa tội” cho văn chương ngoại giáo, dùng nó trong văn chương Kitô giáo. Nếu phân tích các tác phẩm, chúng ta thấy gồm đủ loại văn: sử học, thi ca, hộ giáo, minh giáo, luân lý, triết học, chú giải Thánh Kinh, nhưng dồi dào hơn cả là những tác phẩm về tín lý. [10]

Gọi các ngài là giáo phụ, vì đây là những bậc tiến sĩ có đời sống thánh thiện, đạo lý chính thống và lỗi lạc, đã có công xây đắp nền móng Giáo hội. Để được suy tôn giáo phụ, ngoài các điều kiện trên, các vị còn cần phải là những bậc kỳ cựu đã sống ở những thế kỷ đầu của Giáo hội. Đối với Giáo hội Đông phương, thời kỳ đó chấm dứt với thánh Gioan Damascen (750); bên Giáo hội Tây phương, giáo phụ cuối cùng là thánh Bêđa Venerabilis (735).

I – CÁC NHÀ HỘ GIÁO VÀ MINH GIÁO

1. Thánh Giustinô và các nhà hộ giáo thế kỷ II

Để giúp tìm hiểu đời sống Giáo hội cuối thế kỷ I; về quyền tối thượng Giáo hoàng Roma và về hàng Giáo phẩm, chúng ta có Thư gởi giáo đoàn Corintô (95-98) của thánh Giáo hoàng Clementê I (92-101) và 7 thư của thánh Ignatiô thành Antiokia (? 110) về bí tích phụng vụ có cuốn Didachès cũng gọi là Giáo thuyết Mười hai Tông đồ, tác phẩm này viết vào khoảng năm 80-90 và tìm thấy Constantinopoli năm 1873, và cuốn Mục tử (Pasteur) của Hermas (năm 135-145).

Đả phá những vu cáo tai hại, vạch rõ những thành kiến sai lầm, và nhất là bênh vực Giáo hội trước những cuộc bách hại của triều đình, đó là nhiệm vụ của các nhà hộ giáo thế kỷ II, hầu hết là người Hy Lạp. Được triều Hadrianus (117-138), Quadratus quê thành Athêna đã đệ trình hoàng đế nhân dịp ông đến kinh lý, một kiến nghị có tính cách hộ giáo. Khoảng năm 140, Aristides, một triết gia thành Athêna, cũng đệ trình lên hoàng đế Antoninus-Pius (138-161) một kiến nghị khác, nêu cao tinh thần thuần túy siêu việt, cao quý của đạo Chúa Kitô so sánh với các đạo khác, đồng thời đưa ra những gương sáng đời sống người Kitô hữu, nhấn mạnh quan điểm bác ái: còn Bức thư gởi Diognetes, một tác phẩm ẩn danh, có nhiều giá trị về văn chương và biện hộ. Diognetes đây có lẽ là thày dạy Marcus Aurelius. Bức thư gồm 10 đoạn, trả lời những vấn nạn và những ngộ nhận về thái độ người Kitô giáo đối với anh em lương dân, về đời sống giáo dân giữa họ với nhau. Nhà hộ giáo thời danh hơn cả là thánh Giustinô.

Giustinô sinh tại Flavis Neapolis xứ Palestina vào khoảng năm 100-110 trong một gia đình lương dân thuộc dòng La Hy. Ngay từ thiếu thời, Giustinô đã có khuynh hướng về triết học, mong tìm chân lý. Triết học đã đưa ông về với Thiên Chúa: ông theo đạo khoảng năm 130 và từ đấy hiến trọn cuộc đời làm tông đồ giáo dân. Năm 132 thánh nhân mở trường dạy triết ở Epheso, vạch trần những khuyết điểm của các triết học khác, minh chứng sự siêu việt của Kitô giáo và thuyết phục được nhiều người, khiến các triết gia lo ngại. Năm 150, Giustinô qua Roma tiếp tục hoạt động tông đồ và trước tác.

Người ta được biết thánh nhân có tới 10 tác phẩm, nhưng chỉ còn giữ lại 3 cuốn Đối thoại với Tryphon (Dialogue avec Tryphon) và 2 cuốn Hộ giáo. Cuốn thứ nhất trả lời cho những người Do Thái cố chấp, tự giam mình trong lề luật và sống độc đoán. Tác giả minh chứng Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế mà các tiên tri đã loan báo, và đạo của Người là đạo thật đến thay thế cho đạo cũ, là đạo của mọi người và mọi người phải tin theo. Còn hai cuốn Hộ giáo, một đệ lên hoàng đế Antoninus-Pius và một gởi đến thượng viện. Trong cuốn Hộ giáo thứ nhất, trước hết tác giả bác bỏ những lời anh em lương dân tố cáo người Kitô giáo là vô thần, bằng nêu lên những tấm gương sáng chói, tiếp theo tác giả minh chứng đạo Chúa Kitô trọng hơn các đạo khác. Và cuối cùng, để đánh tan những lời vu cáo về các cuộc hội họp, Giustinô trình bày những nghi thức Rửa tội và Thánh Lễ. Kết luận, tác giả kêu gọi chấm dứt cuộc bách hại bất công, dựa trên một pháp luật thiên lệch. Cuốn Hộ giáo thứ hai ngắn hơn. Thánh nhân viết cuốn này để phản đối vụ án: một phụ nữ Kitô giáo bỏ người chồng gian dâm, bị kết án tử hình; đồng thời vạch rõ những lời triết gia Crescum vu khống thánh nhân. Ngài đề cao luân lý Kitô giáo, sau cùng đề nghị rút chiếu chỉ cấm đạo và đối xử với người Kitô hữu theo luật công bình.

Với những tác phẩm trên, thánh Giustinô không những đã biện hộ cho dân Chúa, còn đưa ra một thần học khá hoàn bị, tuy danh từ và kiểu nói chưa được chỉnh lắm, nhưng đã góp một phần lớn vào công cuộc xây dựng một khoa học thánh về Thiên Chúa, Ngôi Lời, Thiên thần, linh hồn và cả về Đức Maria nữa. Thánh nhân còn để lại nhiều tài liệu quí báu về nghi thức Rửa tội và Thánh Lễ.

Bị Crescum tố cáo, Giustinô bị bắt giam và chịu trảm quyết năm 163, dưới triều Marcus-Aurelius (161-180). Cũng dưới triều đại này, một thế hệ hộ giáo khác nổi dậy tiếp tục công việc của thánh Giustinô. Khi ấy, Kitô giáo không những phải đương đầu với cuồng tín của quần chúng, với bách hại của các nhà cầm quyền, còn phải chống đỡ những luận điệu chế giễu và mạt sát của các triết gia như Pronton thành Cirta, Lucianus Samosat và nhất là Celsus.

Để đáp lại những luận điệu trên, trước hết có Tatianus môn đệ thánh Giustinô viết cuốn Đàm luận với người Hy lạp (Discours aux Grecs) và nhiều sách khác. Tatianus, con người sắc sảo không ưa mâu thuẫn, chủ trương “chính sách nắm tay” và vì cố chấp ông đã rơi vào phái “Duy thủy” (encratisme): tránh hôn nhân, kiêng thịt, kiêng rượu, dùng nước lã thay rượu trong Thánh Lễ. Trái lại, Athenagor theo chủ trương của Giustinô: trong bản Thỉnh nguyện cho người Kitô hữu gởi MarcusAurelius và Commodus, ông trả lời những vu cáo về ba tội ác người ta gán cho đạo Chúa Kitô: vô thần, loạn luân, ăn thịt người. Thánh Theophilô giám mục thành Antiokia cũng để lại một số sách loại hộ giáo này. Đáng để ý hơn cả là cuốn Octavius của luật sư Minucius Felix, đó là cuốn hộ giáo duy nhất viết bằng La văn. Ông viết cho giới bình dân, trình bày sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự quan phòng của Ngài, biện bác phiếm thần và những vu cáo của nhóm người ghét đạo. Cuối cùng, ông trình bày đời sống lành thánh và cao thượng của dân Kitô giáo. Tác phẩm hộ giáo này được coi như cuốn sách Nhập môn giáo lý Kitô giáo, đồng thời là một viên ngọc trong văn chương Kitô giáo.

2. Thánh Irencô và các nhà minh giáo thế kỷ II

Giáo hội thế kỷ I không khác một thành trì, bên ngoài bị những đợt sóng bách hại tấn công, bên trong nhiều người bội phản tung ra những lạc thuyết phá hoại, như giáo phái Marcius, Ngộ đạo thuyết lạc giáo Montanus. [11] Nhưng Thánh Phaolô đã nói : “Cần phải có lạc thuyết để những ai chống lại sẽ được vững chắc hơn trong đức tin” (I Cr XI, 19). Chính những lạc thuyết đã là cơ hội để Giáo hội xác định giáo thuyết của mình, chính họ đã làm nổi dậy các giáo phụ để từ đấy một nền thần học ngày càng được thêm phong phú và kiên cố.

Không một văn sĩ Kitô giáo nào trong thời kỳ này lại không đá động đến một lạc thuyết và đưa ra những biện luận để đánh đổ. Nhiều nhà hộ giáo đồng thời cũng là nhà minh giáo, như thánh Giustinô với cuốn Khái luận về các lạc thuyết, thánh Theophilô thánh Antiokia chống Ngộ đạo chủ nghĩa. Nhưng cũng không thiếu những nhà minh giáo chuyên biệt; mỗi lạc thuyết đều gặp ít là một đối thủ. Chống lại Montanus có Apollonius hình như là giám mục thánh Epheso, linh mục Caius người Roma, và nhiều tác phẩm vô danh. Chống lại Ngộ đạo thuyết có Rhodon môn đệ Tatianus, Hegesippus người Do Thái giáo trở lại. Cuối thế kỷ II, thánh Hippolytô tử đạo (235) viết bộ sách gồm 10 cuốn chống lại các lạc thuyết, nhan đề Bác bỏ các lạc thuyết (Philosophumena).

Có nhiều nhà minh giáo vượt ra ngoài khung cảnh tranh luận để xây dựng một giáo thuyết Kitô giáo, đặt trên nền tảng đức tin và lý trí về phương diện này, đáng kể hơn hết có thánh Ireneô. Sinh tại Smyrna vào khoảng 135-140 trong một gia đình Kitô giáo, ngay từ thiếu thời Ireneô được thụ huấn với nhiều giám mục, môn đệ các tông đồ, đặc biệt thánh Polycarpô. Làm chứng nhân trực tiếp các giáo phụ thời Sứ đồ, ngài còn có một nền học thức uyên thâm, thông triết học, với một tâm hồn đạo đức sâu xa, một trái tim nhân từ, hiền hậu, bác ái.

Theo đoàn thừa sai sang xứ Gallia truyền giáo, thánh Irene được bầu làm giám mục Lyon thay thế thánh Photin tử đạo (177). Ngài học tiếng Celtic là tiếng nói của thổ dân xứ Gallia, viết cuốn Giảng thuyết Tông truyền (Démonstration de la prédication apostolique), một cuốn sách Kinh bổn đầu tiên cho giáo dân, đơn sơ, sáng sủa. Biết rằng Ngộ đạo chủ nghĩa gây họa ở Roma và đang bành trướng sang địa phận Lyon, ngài bèn đem chân lý ngàn đời của Giáo hội ra để ngăn cản làn sóng tai hại, bảo vệ đoàn chiên của mình. Kết quả công việc đó, là bộ sách Chống lại các lạc thuyết gồm 5 cuốn lớn. Trong hai cuốn đầu, tác giả trình bày những lạc thuyết đang lan tràn lúc đó, nhất là thuyết Ngộ đạo và Montanus, vì theo ngài: lột trần bí mật của nó tức là thắng nó; tuy nhiên tác giả cũng dùng triết học để phỉ bác. Trong ba cuốn sau, thánh nhân trình bày giáo lý Kitô giáo, đối chiếu sự sáng với sự tối, chân lý với lạc thuyết.

Trái với chủ trương của Ngộ đạo thuyết là tìm biết Thiên Chúa và các mầu nhiệm bằng nguyên con đường lý trí, giáo thuyết của thánh Ireneô xây dựng trên Thánh Kinh và Thánh truyền. Đấy là con đường vạch vẽ cho khoa thần học. Về Thiên Chúa, Ngộ đạo thuyết chủ trương có một Thiên Chúa và một Đấng tạo hóa, Thiên Chúa cao cả không thể nào tới được. Thánh Ireneô trả lời: Thiên Chúa chỉ có một, chính Ngài là Đấng tạo hóa, ngài là Đấng cao cả, lý trí loài người không thể thấu hiểu được, nhưng Ngôi Lời Con Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta, Ngôi Lời và Thánh Thần là một Thiên Chúa với Chúa Cha. Về con người bị Ngộ đạo thuyết khinh chê, nay được thánh Ireneô đề cao vì lẽ con người đã được Chúa Cứu thế, Adam mới, cứu chuộc và đem về làm hòa với Thiên Chúa.

Ngoài hai bộ sách nói trên, thánh Ireneô còn nhiều tác phẩm khác đã thất lạc. Thánh nhân có lối hành văn bình dị, dễ hiểu, với những lý luận minh bạch, khúc chiết, khi mềm dẻo, khi mạnh mẽ hùng hồn. Thánh nhân qua đời khoảng năm 202-203, và được Giáo hội tôn kính như đấng tử đạo.

3. Học viện Alexandria : Clemens và Origenes (thế kỷ III)

Giáo hội thế kỷ III là Giáo hội vươn lên với con số giáo dân mỗi ngày thêm đông và có tổ chức chặt chẽ, đồng thời được xây dựng trên một thần học đang tiến triển. Hai trung tâm văn hóa Kitô giáo đáng để ý trong thời kỳ này là Alexandria (Ai Cập) với học viện của Clemens và Origenes, Carthago (Phi châu) với Tertullianus và thánh Cyprian. Đến sau thêm Antiokia với học viện của Lucianus tử đạo và Diodorus thành Tarses.

Alexandria nằm trên trục giao thông giữa Phi châu và Đông phương, là nơi gặp gỡ và tập trung các luồng tư tưởng triết học, luân lý tôn giáo của đế quốc Roma thời đó. Athêna lúc này phải lùi lại nhượng địa vị cho Alexandria, là nơi Kitô giáo đã có chỗ đứng vững chắc ngay từ ban đầu. Cuối thế kỷ II, học viện Kitô giáo hoạt động ngay bên cạnh những học viện của các triết gia. Lúc đầu chỉ là nơi học hỏi giáo lý của anh em tân tòng, dần dần biến thành học viện giáo lý cao đẳng. Viện trưởng đầu tiên là thánh Pantena (215), biệt hiệu “con ong Sicilia”, thày dạy Clemens. Trên 100 năm, học viện Alexandria đã giữ một địa vị quan trọng trong việc bảo vệ, xây dựng và truyền bá đạo lý Kitô giáo. Hai tên tuổi đáng ghi nhớ là Clemens và Origenes: Clemens là người mở đường, còn Origenes là người xây dựng và kiện toàn.

Còn Tiếp

[1] Tuy nhiên, những lễ trọng kính Đức Mẹ mãi đế hạ bán thế kỷ VII (khoảng năm 680) mới có trong lịch sử phụng vụ. Xem Duchesne: Les origines du culle chrétien.

[2] Mansi, Q.V, 781-783

[3] Nestorius tự biện hộ cho mình một cách trang nghiêm khôn khéo, khiến nhiều người phải khâm phục ông. Xem Livre d’Héraclide (khoảng năm 450). Nestonus chết tại chốn lưu đày (440), trên một ốc đảo xứ Libya. Thuyết Adoptianisme sau này được coi là con đẻ của thuyết Nestorius. Đó là thuyết của Elipando (799), giám mục thành Toledo, và Félix (815), giám mục thành Urgel chủ trương Chúa Kitô chỉ là người như mọi người khác, nhưng được Thiên Chúa dựng nên hoàn hảo hơn và được cất nhắc lên làm nghĩa tử (adoptif) cùng ban cho nhiều quyền lực và đặc ân (770). Giáo thuyết này bị nhiều công đồng như Francfort (794 Roma (799) luận phi.

[4] Jugie: Eutychès và Monophysisme trong Dict. de Théol Cath. – Mansi. Q. VI 529-1102 và VIII, 1-654 [26] Mansi, Q. VII, 116.

[5] Trong các giáo phái, Nestorius được kể là có một lịch sử truyền giáo vẻ vang nhất. Không những đã thiết lập được nhiều giáo đoàn quan trọng trong vương quốc Persia, Ả Rập và trên miền duyên hải Tây ấn Độ, mà còn đưa về Kitô giáo nhiều quốc gia Á châu thuộc miền Turkestan, và đã cảm hóa được nhiều vua Trung Hoa dưới thời nhà Đường (627-805) ; nó xâm nhập cả xứ

Mông Cổ và Tây Tạng Thế kỷ VII và VIII, đời sống tinh thần của Đông Á chịu ảnh hưởng Kitô giáo cũng như Phật giáo. Ngày nay, giáo phái Nestorius chỉ còn một nhóm yếu ớt người xứ Caldea (nhóm tị nạn trong vùng Antiokia từ năm 1918)

[6] Công đồng Calcedonia (451), mặc cho có sự chống đối của các đại diện Roma đã biểu quyết điều XXVIII nội dung nh¬ư sau: “Vì vấn đề tôn giáo của một đô thị liên can đến chính trị, nên mong rằng: “Tòa thánh Roma mới” (Constatinopoli) có đầy đủ mọi quyền hành về tôn giáo nh¬ư Roma, tuy nhiên vẫn phải đứng “hàng nhì” sau Roma”. Điều này được hoàng đế Justinianius II (685-711) lập lại và khai thác, nhân có công đồng Trullo (691-692). Xem chương Tám, II, 1.

[7] Sách tham khảo: Ch. Diehl: Justinien et la civilisation Byz. au VIe siècle. – L. Duchesne: L’Église au VIe siècle – Burdy: History of the later Roman Empire. Q II, 1923. [32] Mansi. Q. IX, 154-375 – H. Jedin: op. cit., tr 34-36.

[8] Ba tác phẩm của ba nhà thần học nói đây có khuynh hướng Nestorius mà Công đồng Calcedonia (451) đã không luận phi; vì các tác giả đã chết. Những người theo bè Monophysism bị kết án trong Công đồng này muốn đức Thánh Cha bác bỏ ba tác phẩm đó. vì họ nghĩ rằng: đức Giáo hoàng luận phi “Ba Đoạn” tức là luận phi các việc Công đồng Calcedonia. Nhưng họ vỡ mộng vì đức Thánh Cha khi bác bỏ “Ba Đoạn” đã tuyên bố không hề chê trách Calcedonia.

[9] Tên của đức Vigiliô bấy giờ bị xóa trên “thư giáp bản” (diptique), nơi ghi danh tánh các Giáo hoàng. Ngài bị tố cáo là bội giáo, vì người ta cho rằng khi chấp nhận việc luận phi “Ba Đoạn” tức là Ngài đã “tự rút khỏi Giáo hội Công giáo”. Về điểm này, ta nên biết đức Vigiliô vẫn trung thành với lập trường của ngài đối với Calcedonia, được vạch rõ trong bản tuyên ngôn đề ngày 11.4.548 (Judicatum): “Ta phạt vạ tuyệt thông bất cứ ai… chống đối Công đồng Calcedonia. Công đồng bất diệt này có đầy đủ thẩm quyền nh¬ư các Công đồng Nicea, Constantinopoli (381) và Epheso”. Cũng nên nhớ rằng khi ấy ngài bị quá nhiều áp lực, lại thương nhớ quê hương đang bị chiến tranh tàn phá, ngài cho rằng sự nhượng bộ đó sẽ đem lại hòa bình cho Giáo hội và làm giảm bớt đau khổ cho nước Ý.

[10] Sách tham khảo: G. de Plinval: La doctrine vivante de Pères, trong: Histoire illustrée de l’Église (G. de Plinval – R. Pittet), Paris 1945-48. q. I, tr 189-236 ; J. Tixeront: Précise de Patriologie, Paris 1927- P. Guérin: Encyclopédie Universelle, Dictionnaire des Dictionnaires – F. Cayré: Précis de Patrologie, Paris 1945.

[11] Xem chương Ba