LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – SỐ THÁNG 1, 2020

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OPTiếp Theo

Anaclet mất năm 1137, Victor IV lên kế vị, nhưng tính tình nhút nhát, ông bằng lòng nhượng bộ và rút lui, nhờ đó đảng phái mới yên (1138). Đức Thánh Cha Innocentê II trở về Roma, triệu tập đại Công đồng Latran II (1139). Nhưng người Roma lại vùng dậy đòi quyền tự chủ và được hoàng đế Conrad III (1138-52) nước Đức yểm trợ. Tu sĩ Amoldo thành Brescia, môn đệ của Abelard, chủ trương trở lại chủ nghĩa xã hội mọi hoạt động chính trị, rồi kéo nhau đi cướp phá nhiều thánh đường và tu viện. Arnoldo viết: “Các giáo sĩ có tài sản, các giám mục nắm giữ “quốc vương quyền” (régales), các tu sĩ có tiền bạc, họ không thể rỗi linh hồn được. Tất cả mọi của cải này thuộc nhà Vua, và nhà Vua chỉ được sử dụng trong việc mưu ích cho người dân mà thôi “.[40]

Arnoldo bị lên án trong công đồng Latran II. Ông phải bỏ trốn sang Zurich, rồi lưu vong bên nước Pháp. Sau cùng ông trở về Roma, hô hào dân chúng tẩy chay đức Eugeniô III (1145-53), và lập chính thể cộng hòa. Nhưng chính thể mị dân của ông không đứng vững lâu dài. Năm 1153, sau khi thất bại trong cuộc tranh cử vào thượng nghị, Arnoldo phải rời khỏi Roma. Nhưng 16 tháng sau, ông bị bắt đưa về Roma, chịu án treo cổ, xác hỏa thiêu trước khi ném xuống sông Tiber (1155). Đức tính cương trực của vị Giáo hoàng người AngloSaxon, đức Adrian IV (1154-59), và sự can thiệp bằng quân lực của Friedrich I Barbarossa (115290) càng làm cho các cuộc “phiến loạn” chóng tan rã. [41]

Để tránh những tranh chấp còn có thể xảy ra sau này trong các cuộc bầu cử Giáo hoàng, đức Thánh Cha Alexanđrô III (1159-81) trong công đồng Latran III (1179) đã quyết định việc bầu cử Giáo hoàng do các hồng y, đòi phải có hai phần ba số phiếu mới thành. Số các hồng y bấy giờ là 52.

4. Ngôi Giáo hoàng và nhà Hohenstauphen.[1]

Thánh Gregori VII khôi phục quyền tối cao thiêng liêng và bất khả xâm của Giáo hội, ngài đã thành công. Thấy thế, các luật gia của Friedrich I Barbarossa cũng cố tìm ra lẽ, để tranh đấu cho quyền bất khả xâm và quyền độc lập tuyệt đối của thế quyền đối với thần quyền. Nhân đấy, cuộc tranh chấp kéo dài suốt ba phần tư thế kỷ, từ năm 1171 đến 1250, giữa các ông hoàng Hohenstauphen với ba Giáo hoàng Alexanđrô III, Innocentê III, Innocentê IV. Vấn đề được nêu lên là quyền hoàng đế, dầu chỉ ở phạm vi thế tục, có phải tuyệt đối không?

Trường hợp hoàng đế xúc phạm đến Giáo hội hoặc giới răn Thiên Chúa, ông có thoát được hình phạt không? Các Giáo hoàng, tức những đại diện cho uy quyền Giáo hội, đóng vai bảo vệ luân lý và kỷ luật Kitô giáo, trả lời rằng: không.[43]

Friedrich Barbarossa xuất thân là một quân nhân thô bạo, kiêu căng, ông có tham vọng thống trị cả bán đảo Ý. Sau khi được Adrian IV băng hà, người đã xức dầu phong vương cho ông, ông đứng lên ủng hộ liên tiếp ba Giáo hoàng giả chống lại đức Thánh Cha Alexanđrô III (1159-81). Năm 1161, dân thành Milan nổi lên chống ông, bị ông tiêu diệt. Nhưng ông bị án vạ tuyệt thông, và phải lưu vong bên Pháp quốc (1168). Người Lombardo phục thù, dân thành Milan tái thiết thành trì và đánh bại ông tại Legnano (1176). Cũng như Henry IV xưa, Barbarossa phải cúi mình trước mặt đức Alexandrô III tại vương cung thánh đường Thánh Marcô thành Venecia, xin nhận hầu hết mọi điều kiện mà đức Thánh Cha bắt ông phải chịu (1177) [44]

Nửa thế kỷ sau, cuộc tranh chấp tái diễn từ 1230 dân 1250 giữa các Giáo hoàng và Friedrich II Hohenstauphen (1212-50). Cuộc tranh chấp lúc ban đầu có tính chính trị hơn là tôn giáo. Nó diễn tiến bằng những thách thức, hăm dọa và lên án lẫn nhau.[45] Gregori IX (1226-41) và Innocentê IV (1243-54) là những người kế vị xứng đáng của thánh Gregori VII và đức Alexanđrô III. Nhưng Friedrich II không phải là người tầm thường: ông rất thông minh, đồng thời là nhà lập pháp nổi tiếng và có đời sống luân lý tương đối khá. Nhưng chỉ vì ông thiếu cảm tình với tôn giáo, mà trở thành con người gian hùng và bội giáo. Friedrich vì có lời hứa với đức Thánh Cha Innocentê III (1198-1216), nên đã được tín nhiệm và làm vua Roma (1216), cùng được đức Thánh Cha Honoriô III (1216-27) đặt vương miện hoàng đế (1220).

Sau khi được khoác trên mình đủ mọi vinh dự, Friedrich bắt đầu bội phản, nhưng bị đức Thánh Cha Gregori IX phạt vạ tuyệt thông (1227). Năm 1228, mặc dầu mang vạ trên mình, ông cầm đầu binh Thánh giá lần VI và chiếm được Gierusalem, bằng một thỏa hiệp với Meledin (Malex-ElKamid). Trở về đất Ý, ông làm hòa với đức Thánh Cha (1230), nhưng đó chỉ là thái độ “đóng kịch”. Năm 1241, Friedrich bị đức Gregori phạt vạ tuyệt thông một lần nữa, khi ông này ngăn cản việc triệu tập một công đồng tại Roma, bằng cách phục kích bắt cóc một lúc cả đoàn xe chở các tổng Giám mục và giám mục tới dự công đồng, và giam giữ tại Napoli. Nhưng bốn năm sau, đức Innocentê IV đã khéo tạm lánh sang Lyon, và quyết định triệu tập một đại Công đồng để thanh toán Friedrich (1245). Friedrich xuất quân định chiếm Lyon, nhưng ở bên kia sông Rhône vua thánh Louis IX lên tiếng đe rằng: “Kẻ xúc phạm đến vị lãnh đạo Giáo hội sẽ bị trừng phạt xứng đáng”.[46]

Đại công đồng Lyon I là tòa xử vụ Friedrich II. Những hoạt động gian dối, những tội bội phản, những cuộc đầu hàng trá hình đều được vạch trần; những tội dâm ô, những vụ xâm phạm đến quyền lợi người dân và Giáo hội đều bị lên án. Kết quả, Friedrich bị truất phế, cả đế quốc La đức đứng lên chống lại ông. Ông và Euzius con ông đại bại.

Friedrich buồn rầu, lâm bệnh chết (1250), chấm dứt triều đại Hohenstauphen, Rudolf I (1273-91) nhà Habsburg lên cầm quyền, bỏ tham vọng của nhà Hohenstauphen trên đất Ý.

5. Nước Tòa thánh và mầu sắc chính trị nơi đức Innocentê III

Nước Tòa thánh trở nên cường thịnh dưới triều Giáo hoàng Innocentê III (1198-1216). Biên cương được mở rộng ở miền Bắc (Toscana) và Tây Nam (Ancona, Spoleta, Benevento, Campania); đảo Corsia và Sicilia cũng có những đại diện từ Roma gởi đến cai trị. Vì có đất có dân, Giáo hoàng trở thành ông vua, qui tụ được các lực lượng trọng yếu, mang mầu sắc quốc gia, với những nguồn lợi kinh tế và quân sự quan trọng. Vì ảnh hưởng Giáo hoàng mạnh mẽ, đàng khác lại sợ bị các quốc gia hùng cường lấn át, nhiều nước như Ba Lan, Scandinavia, Bohemia, Hung Gia Lợi, Bồ đào Nha, và sau này cả Anh quốc, Tây Ban Nha cũng tự đặt dưới quyền bảo trợ tinh thần và nhận quyền tối cao của Tòa thánh.

Trước thế kỷ XIII, đối với những nước nhìn nhận quyền Tòa thánh các Giáo hoàng chỉ can thiệp vào những vấn đề tôn giáo, dàn xếp các vụ tranh chấp và chiến tranh. Nhưng đến thời đức Innocentê III, ngài can thiệp vào cả nội bộ các quốc gia đó như việc truất phế hoặc tôn phong các vua, đòi các nước phải nộp thuế hoặc viện trợ quân sự để đối phó với kẻ thù Giáo hội. Đức Innocentê III tuy không hề bắt một quốc gia nào phải nhận quyền ngài bằng văn bản, nhưng không bao giờ ngài bỏ can thiệp vào các vụ tranh chấp ngôi báu. Chẳng hạn, tại Đức quốc ngài làm áp lực để tôn Otton IV (1198-1212) lên ngôi Hoàng đế, rồi khi ông này bội phản, ngài không ngần ngại loại bỏ ông và ủng hộ Friedrich Roger, tức Friedrich II (1212-50) mới 18 tuổi. Tại Anh Cát Lợi, khi nhà Vua ban hành “Đại ước pháp” (Grande Charte 1215), đã bị ngài lên án cho rằng “thiếu kính trọng đối với Tòa thánh”, làm thiệt hại cho nhà Vua và làm sỉ nhục hàng quí tộc Anh, mặc dầu “Đại ước pháp” này có những khoản nhìn nhận các quyền căn bản của Giáo hội, mà trước đây thường bị các vua bác bỏ.

Thánh Gregori VII đã nâng quyền của thánh Pherô lên trên quyền các vua, nhưng chỉ nhằm mục tiêu tôn giáo, bảo vệ công lý và kỷ luật, để chấm dứt những lạm dụng nơi các vua chúa, khi các ông này phạm lỗi: ratione peccati. Nhưng đức Innocentê III đã đi xa hơn, trong việc bênh vực và áp dụng nguyên tắc của đức Gregori. Ngài dùng quyền Giáo hoàng lấn át các vua chúa, can thiệp vào chính trị đối nội cũng như đối ngoại của các nước, làm như ngài là ông vua: ratione domini. Trong trường hợp như vậy, không thể nghĩ rằng ngài hành động theo linh ứng Chúa Thánh Thần, vì thế chúng ta có thể phê phán đường lối chính trị của vị Giáo hoàng này, như người ta từng phê phán các nhà chính trị khác.

Sự lạm quyền nói trên không phải riêng đức Innocentê III, nhưng còn ở cấp thừa hành, các đặc sứ, các sứ thần…, đã hoạt động một cách rất nghiêm khắc: huyền chức, cách chức, đóng cửa thánh đường, vạ tuyệt thông. Thêm vào đó, chế độ thuế khóa nặng nề, khiến người ta coi chính trị của Giáo hoàng như một cái ách.[2] Nhờ có sự phản ứng của hàng quí tộc Anh, nền quân chủ Pháp, Lombardo và nhà cầm quyền Đức, tuy đôi khi có những lời lẽ bất bình hoặc những hành động quá khích xảy ra người ta đã ngăn cản được sự lạm quyền của ngôi Giáo hoàng, muốn biến quyền thiêng liêng mà Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội, thành một quyền uy tuyệt đối tức thần quyền chính trị (théocratie).[48]

Dầu sao, người ta phải công nhận các Giáo hoàng thời đó đã hành động như những người bảo vệ luật pháp, kiến tạo hòa bình. Khi binh Thánh giá vắng bóng các vua chúa hay thiếu cấp chỉ huy, khi một ông vua chết quá sớm, khiến ngai vàng có thể rơi vào tay bọn cướp quyền hoặc phiến loạn, các ngài đã dùng đến quyền uy mình để bênh vực kẻ yếu thế, đặng bảo vệ quyền lợi chung. Đó là nhiệm vụ mà ngôi Giáo hoàng đã hoàn tất. Pha mình vào những việc trần tục các ngài không tránh được những nguy hiểm, những liên lụy, cả sai lầm nữa. Nhưng giữa một thời văn minh Trung cổ, nếu các ngài không làm thế, tưởng khó có thể làm tròn sứ mạng của mình.

Chương Tám

HỒI GIÁO, LY GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG VÀ BINH THÁNH GIÁ (t.k. VII-XIII)

Đã đến lúc một đám mây đen tối bao trùm cả bầu trời Kitô giáo Âu châu, là nơi tuy đã từng bị xâu xé bởi nhưng cuộc tranh chấp sôi nổi, nhưng còn giữ vững được nền thống nhất và sự trung thành với đức tin. Mây đen đó là Islam, làm đen nghịt cả góc trời Đông Nam Kitô giới, kể cả những nơi được tôn sùng nhất, tức Đất Thánh. Nó chiếm đoạt của Công giáo cả một vùng rộng lớn; nó làm cho Persia, Ai Cập, Bắc Phi mất đạo, trở lại với Thần giáo; nó còn đe dọa xâm nhập Âu châu. Tình trạng này sẽ đi tới đâu? Âu châu và Giáo hội phải hành động ra sao trước nguy cơ này? Với sự hướng dẫn của cấp lãnh đạo đời cũng như đạo, các nước Đông phương cũng như Tây phương đã làm gì để đối phó, đặng bảo toàn đức tin ? Đó là những nét chính mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương này. [1]

Nhưng trong công cuộc bảo vệ cũng như quật khởi này, sẽ còn có nhiều vụ rối ren nội bộ xảy đến. Vì thế ngoài các cuộc giao tranh với Hồi giáo cùng những cuộc viễn chinh của binh thánh giá, chúng tôi sẽ đề cập đến sự ngộ nhận đáng tiếc đã gây nên cuộc bất hòa giữa Giáo hội Latinh và Hy Lạp, tức biến tướng đưa tới ly giáo Đông phương. Rồi còn phải biện minh cho những tổ chức thật cheo leo và tế nhị, đặc biệt ở miền Nam Âu châu, những tổ chức này không rõ phải trái đến đâu đã được coi là cần thiết và được sử dụng trong công việc dẹp loạn ngay ở nội địa, đó là binh Thánh giá Albigenses và tòa “Truy tà” (Inquisition).

I. KITÔ GIÁO VỚI HỒI GIÁO

1. Islam hay Hồi giáo và sách Coran

Sarrasen là dân mà các sử gia Byzantin gọi là Agaren, bấy giờ không còn là một dân tộc xa lạ nữa. Họ là dân du mục đã từ lâu nằm sẵn ở biên giới đế quốc chuyên nghề cướp bóc các thương gia và dân địa phương. Uy lực nào sẽ đứng ra để thống nhất những bộ lạc nhiễu loạn này, chỉ lăm le thanh toán nhau? Điều mà không một lực lượng chính trị nào có thể làm nổi, thì một đạo giáo đã xuất hiện để làm, tức Islam hay Hồi giáo.[2]

Mahomet (Mohammed), người sáng lập Hồi giáo, sinh tại La Mecque (Ả Rập) vào khoảng năm 570, qua đời tại Medina năm 632. Ông tự hào mình là dòng dõi Ismael, con Abraham. ông kết duyên với một bà góa giầu có tên là Khadikja, mà trước đấy ông là người giúp việc. Năm 40 tuổi, Mahomet tự xưng là tông đồ và là tiên tri của Allah (Thiên Chúa), được ơn mặc khải và được sai đến để cải cách tôn giáo, xã hội. Ông thu hút được nhiều môn đệ, nhưng cũng gây nên lắm thù địch. Cuộc đụng độ năm 622 buộc Mahomet cùng các môn đệ phải tự ý đi khỏi “Tòa thánh” La Mecque, nơi mà họ cho là đã bị ô uế bởi “quân vô đạo” và nhóm thương gia trục lợi, để thiết lập tại Medina một “Thánh địa” mới, dành cho các “tín hữu chân thành”. Sự “xuất hành” (hégire) này tuy chỉ là một biến cố xảy ra, do sự bất mãn cá nhân không mấy quan trọng, nhưng đã mở đầu cho cuộc cách mạng tôn giáo lớn nhất trong lịch sử.

Giáo lý “mặc khải” của Mahomet gồm có một niềm tin rất mãnh liệt vào Allah duy nhất và toàn năng. Chỉ cần một ít lễ nghi và giới luật (cầu nguyện, chay lòng, tắm rửa, hành hương), đủ để nắm giữ con người dưới quyền uy của Allah, nhưng cũng khá uyển chuyển để những ai có tín ngưỡng khác được tự do thích nghi. Mặc dù là một tôn giáo cách mạng, Hồi giáo vẫn để người ta theo giữ tôn giáo của Tổ phụ Abraham và tiên tri Giêsu, hoặc tin tưởng vào viên đá thần Kaaba, vào Thiên thần và Quỷ thần (Djinns). Không ai phủ nhận giáo lý của ông cao đẹp hơn Đa thần giáo tại La Mecque. Ông rao giảng sự phó thác vào Thiên Chúa tức Allah, sự lo sợ ngày thẩm phán. Đạo lý của ông còn đề cao nhiều đức tính, như ngay thật hiếu khách, can đảm, và tình huynh đệ (ít là giữa các tín hữu với nhau). Nó khuyến khích đời sống tu đức, thanh bần và chiêm niệm. Nhưng hầu như không có một biện pháp nào để kiềm chế dục vọng con người: dâm ô, báo oán, ham danh, ham lợi. Sách Coran chấp nhận tục đa thê, ly dị và chế độ nô lệ. Như vậy, Mahomet đã khôn khéo làm vừa lòng mọi tôn giáo và bản tính tự nhiên của con người, bằng cách để mặc các tín hữu tự do tin tưởng và tự do tìm kiếm sắc dục, danh vọng, tiền bạc.

Biết có một giáo lý như thế, người ta sẽ không còn ngạc nhiên gì về vụ Badr năm 624 : Mahomet hướng dẫn dân thành Medina cướp hết hàng hóa của nhóm thương gia từ Syria đi La Mecque. Vụ cướp táo bạo này không những đã gây quỹ cho tôn giáo mới mà còn được coi là một gương mẫu, một hành động đầy ý nghĩa. Với vụ cướp đó Mahomet thừa nhận tục cướp bóc cổ truyền trên sa mạc. Ông còn trình bày cho các tín đồ biết rằng Hồi giáo là một “đạo đền công” (religion payante), là đạo đem lại cho các tín hữu chiến thắng và lợi phẩm. Từ đó, khi tiền của kẻ khác đặt sẵn trước mắt người tín hữu, tức là họ có quyền lấy. Các nước trần gian được coi như Allah (Thiên Chúa) dành sẵn, để thăng thưởng các bậc anh hùng Hồi giáo. Khi sử dụng cuồng tín và tham vọng vào cuộc “thánh chiến” (djihad) chống “quân ngoại đạo”, tức là Mahomet mở rộng cửa cho dục vọng của người Ả Rập, tức là ông vạch ra cho đồng bào ông một hướng đi, dẫn dắt những con người ngổ ngáo ưa thích giang hồ ngang dọc trên sa mạc, vào mục tiêu họp sở thích, một lẽ sống đoàn kết có kỷ luật và một cái chết “lý tưởng”. Sách Coran, một tác phẩm gồm 114 chương (sourate) được xếp đặt một cách không họp lý, chỉ là một danh phẩm giáo lý, nghi lễ và giới luật. Nhưng theo ý nghĩa sâu xa của nó, đây còn là một tác phẩm trình bày những quan điểm chính trị tôn giáo, mà quan điểm đó chỉ thể hiện được bằng võ lực.

2. Những cuộc xâm lăng vũ bão của Hồi giáo (636-737)

Đầu thế kỷ VII, quân dân Persia kẻ thù cố hữu của đế quốc, nhân lúc Byzantin suy yếu, đã vượt sông Tigre và Euphrate. Chỉ sau một vài trận, địch quân đã tràn ngập các xứ Assyria, Palestina, Tiểu Á và Ai Cập (611-618). Thành Antiokia bị phá tan hoang, nhưng thiệt hại nhất là thành Gierusalem bị chiếm đóng (614): Mồ Thánh bị thiêu hủy, giáo dân bị sát hại hoặc tù đày. Thánh giá Chúa bị vua Chosroès chiếm đoạt như chiến lợi phẩm.[3] Đứng trước cuộc tàn phá đó người dân thức tỉnh vì quyền lợi của đế quốc và đạo Chúa. Một cuộc phản công bắt đầu dưới sự lãnh đạo của hoàng đế Heraclius (610-641). Kết quả, Byzantin chiến thắng (627-628) giết được Chosroès, quân Persia phải triệt thoái, Thánh giá Chúa được rước trở về Thành thánh.

Nhưng Hồi giáo dưới thời Omar I (634-644) đã vùng lên, khai diễn một thời xâm lăng bằng bạo lực ngoài sức tưởng tượng. Trận Yarmouk (636) phá tan quân phòng vệ của Byzantin tại Syria. Trận Cadishja (637) mở tung cửa biên giới Irak cho đoàn quân xâm lăng tràn sang đất Ba Tư, và đặt ngay đấy một nền đô hộ (643). Năm 638, Gierusalem thất thủ, hoàng đế Heraclius bỏ chạy, chỉ kịp mang theo Thánh giá Chúa về Constantinopoli, Omar cưỡi lạc đà vào thành Đavid, tới nền Đền thánh cũ ông làm lễ quy y và ban lệnh xây một ngôi đền Hồi giáo. Năm 640, tướng Amrou (+ 662) đánh Ai Cập cuộc đánh chỉ kết thúc vào 3 năm sau, khi thành Alexandria đầu hàng.[4]

Như vậy, không đầy 15 năm, một đế quốc thành hình, thống nhất tất cả mọi dân tộc Đông phương dưới chính thể quân phiệt, và cùng xưng tin một tôn giáo. Đế quốc này được toàn quyền sử dụng một tài nguyên khổng lồ, một nguồn nhân lực bất tận. Moawia (610- 680), toàn quyền xứ Syria bấy giờ, cũng có một hạm đội, và không mấy chốc các chiến thuyền của Hồi giáo đã có mặt khắp hải phận Epheso và Constantinopoli, đối diện với hải quân Byzantin. Các đảo trên biển Egea, như Rhodes (654), Cypro, Creta, đều trở thành những cứ điểm trọng yếu, để thống trị cả Địa Trung Hải. Ở Phi châu, cuộc chiến thắng Ai Cập đã khiến các xứ Fezzan, Tripoli, Nam Tunisia lần lượt đầu hàng quân Ả Rập. Họ tiến vào Maghreb (Algeria ngày nay), và được tăng cường bởi quân Berber và Mauro xin gia nhập.

Còn Tiếp


[42] Hoàng tộc Đức, gốc Wurtemberg giữ ngôi Hoàng đế từ 1138 (Conrad III) đến 1250

[44] Cuộc bại trận ở Legnano (1176) và thỏa hiệp Venecia (1177), hòa ước Constancia (1185), xem Hauck: op. cit., Q. IV, tr 184-311.

[47] Xem lời phê phán của thánh Benađô, trong De Consideratione, Q. III. ch. 2