LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 11, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

2. Hoàng đế và giám mục

Người ta đã được mục kích những hậu quả thê thảm, khi hàng giám mục Pháp bị lệ thuộc vào ông hoàng Charles Martel. Nếu chỉ là những tranh chấp về tiền bạc hay đất đai mà thôi, thì sự tai hại còn hữu hạn, vì chỉ thiệt đến vật chất. Nhưng đây còn là sự lựa chọn những chủ chăn, thuộc phạm vi tôn giáo và tinh thần một khi việc lãnh đạo tinh thần cũng xáo trộn, cũng có những lạm dụng, thì sự thiệt hại không thể lường được. Tuy nhiên, luật lệ do các công đồng trước đây đã đề ra nay vẫn còn hữu hiệu: “Giám mục chỉ được tấn phong qua “sự tuyển chọn của hàng giáo sĩ trong địa phận với sự đồng ý của vị tổng giám mục” (công đồng Clermont, 535), hay ít là như công đồng Orléans năm 549 quyết định, “với sự chấp thuận của nhà vua, thể theo sự tuyển chọn của hàng giáo sĩ và giáo dân”. [4]

Dưới triều đại Mérovingien, nhà vua thường can thiệp vào các cuộc tuyển chọn một cách độc đoán, nhưng có trường hợp rất đáng hoan nghênh, để bù lại những vụ không được mấy ai hài lòng. Dưới thời nhà Carolingien, các vụ đề cử nói chung đều rất tốt đẹp. Sự thực, chương trình cải cách của thánh Boniraciô đã tạo được một hàng giáo phẩm xứng đáng với lịch sử, những giám mục như thánh Chrodogan thành Metz, Arnus thành Salzburg, Lullus thành Mainz (Mayence), Théodulf thành Orléans, Hincmar thành Reims. Các ngài là những người nắm vận mệnh Tây phương trong tay. Những tâm hồn cao thượng đó, tuy sự nhân hậu và quảng đại không phải là những đức tính nổi bật, song cũng đủ khiến chúng ta khâm phục đức tin chính thống, tinh thần truyền giáo và đời sống không chê trách được của các ngài. [5]

Sự các giám mục tham gia vào những việc đại sự của đế chính, đã đem lại cho đế quốc một thời vẻ vang thịnh vượng. Đừng tưởng rằng vai trò của các vị chỉ có tính cách tượng trưng. Nhờ có tiếng nói của các giám mục hoặc những đan viện phụ nổi tiếng Saint-Denis, Corbie, Fulda, Ferrières, Giáo hội mới nói lên được quan điểm của mình và chiếm ưu thế trước dư luận quần chúng, cũng như cảm nghĩ riêng của các vua chúa. Vì được thấm nhuần Thánh Kinh và giáo thuyết thánh Âutinh, các ngài hiểu rõ “nước trần gian” chỉ là nơi chuẩn bị để bước vào Kinh thành Thiên Chúa, nên các ngài đã cố đem tinh thần công giáo vào tòa nhà lập pháp vào văn hóa, nghệ thuật, vào tất cả mọi sinh hoạt xã hội.

Tuy nhiên, không phải cái gì cũng tốt đẹp cả. Vì lẽ trong thể chế quân chủ này, Charlemagne quan niệm phải có yếu tố “độc tài chuyên chế”. Ông rất thẳng thắn, nhưng là sự thẳng thắn hơi cứng cỏi của con người nhà binh, không thích hợp với những hoàn cảnh đặc biệt, với quyền tự do cá nhân và với những phương tiện thiếu thốn. Cũng như Diocletianus hoặc Justinianus xưa, ông muốn nắm giữ và điều hành tất cả. Luật đạo, luật đời đối với ông chỉ là hai hình thức của một quyền tối thượng. Tất cả mọi tài sản đều được xếp chung dưới quyền tối cao của một người. Chắc chắn nhà Vua có sự thành thật khi ghi trong Bản Pháp lệnh, sự tôn trọng giáo luật và các giáo huấn, khi khuyến khích hoặc bắt buộc phải chịu các Bí tích, tham dự các lễ nghi phụng vụ, nộp thuế thập phân, cũng như khi ông dành đất đai cho nhiều tòa giám mục và đan viện trong xứ Rhenania và Saxonia.

Nhưng qua các hoạt động ấy của Charlemagne, người ta nhận thấy thâm ý của ông là để cho có những công dân ngoan đạo, dễ bề trung thành với đế chế. Các đan viện được ông làm giầu cho, sẽ là nơi đào tạo những nhà truyền giáo, đồng thời là những chuyên viên khai hóa mở mang quyền lực đế quốc. Sau hết, các giám mục được ông trọng kính ưu đãi, trong nhiều trường hợp sẽ là những viên chức cao cấp của chế độ: một vị giám mục có thể bất thần được triệu hồi về triều đình, cũng như một đan viện phụ có thể được trao cho nhiệm vụ tự túc chiến đấu với địch quân.[6] Và trong bất cứ trường hợp nào có sự giằng co giữa quyền đạo quyền đời, không bao giờ ông chịu để cho chính trị phải hy sinh… Ngược lại, nhiều khi ông còn xen cả vào nội bộ Giáo hội, trong lãnh vực đạo lý nữa, tuy bao giờ ông cũng bàn luận với các nhà thần học thông thái và với những “Giám mục riêng” của ông. Sống dưới triều đại Charlemagne, người ta đã lo sợ cho Giáo hội sẽ bị bó tay dưới “chiêu bài suy tôn”. Người ta tự hỏi phải chăng những lấn át của chế độ Justinianus muốn tái diễn ? Đối với một lãnh tụ nổi tiếng như Charlemagne, tưởng không thể có truyện đó. Thật vậy, khi ông vừa mất, chính hàng giám mục mà ông cất nhắc lên, đã được liệt vào hàng cao nhất trong đế quốc với một thế lực rất lớn dưới triều Louis le Pieux, mà không còn bị chính quyền hạn chế hay kiểm soát lôi thôi nữa. Cũng do đấy trong thượng bán thế kỷ IX, một hàng giáo sĩ thành hình, với những nhân vật chỉ đạo nổi tiếng như Wala, Hincmar, trong khi thánh Biển đức Aniane (750-821), người có tuổi hơn, lại đứng ra ngoài vòng chính trị để chỉ chăm lo việc tu đức mà thôi. [7]

Dưới thời một ông vua hiền lành, nhút nhát, như Louis le Pieux này, nhiều loạn ly, tranh chấp xảy ra, thì chính hàng giám mục của Charlemagne đã ra tay bảo vệ đế chế. Trong khi các ngài chưa giải quyết xong về quyền tư hữu bất khả xâm của Giáo hội, cũng như quyền định đoạt của các ngài trong phạm vi giáo luật, thì hòa ước Verdun (843) phân chia đế quốc Tây phương ra làm ba. Sau đó, là họa xâm lăng của quân Normand, Hung Gia Lợi và Sarrasen. Từ tình trạng hỗn loạn này sẽ phát sinh một trật tự mới, tức chế độ vương quyền và phong kiến, hoàn toàn trái ngược với chính sách tập quyền của nhà Carolingien.

3. Ngôi Giáo hoàng trong đế quốc nhà Carolingien

Trên đất Ý Đại Lợi, kể cả từ khi vua Agilulfus và dân Lombardo theo đạo Công giáo (603), người Roma vẫn không thể quên được họ là một dân man rợ, nhất là lúc này họ còn muốn thống trị cả bán đảo. Sau triều đại Liutprando (712-744), Astolfus (749-756) người hùng của dân tộc Lombardo, lên kế nghiệp Ratchis (744- 749) thoái vị đi tu. Năm 752, Astolfus đem quân chiếm Ravenna. Sớm muộn, kinh thánh Roma sẽ lọt vào tay ông. Các đức Giáo hoàng đều hiểu biết như thế, nên đã không ngần ngại kêu gọi sự can thiệp của dân Franc và sự trung thành của một triều đại, mà chính các ngài đã tận tình giúp đỡ. Năm 754, đức Thánh Cha Stephan III (752-757) đích thân sang Pháp quốc gặp vua Pépin, chủ sự lễ xức dầu cho ông tại Saint-Denis. Mặc dầu gặp nhiều khó khăn và chống đối Pépin (751-768) hai lần vượt núi Alpes đến giải vây cho “lãnh địa Thánh – Pherô” (Patrimoine St-Pierre), đồng thời chiếm xứ Ravenna cho đức Thánh Cha, cùng với năm tỉnh (pentapole): Rimini, Pesaro; Fano, Senigallia, Ancona. Một quốc gia mới được khai sinh (756) ở Âu châu: nước Tòa thánh. Các sứ giả của hoàng đế Đông phương Constantinus V lên tiếng phản kháng, nhưng vô hiệu.[8]

Ngôi Giáo hoàng từ nay phải chăng sẽ thoát được hết mọi đe dọa quân sự, mọi áp lực chính trị hoặc tinh thần? Không nên vội tin như thế. Hai mươi năm sau, Didier, vua Lombardo, gây lại lực lượng, lợi dụng lúc Charlemagne vướng chân ở mặt trận Saxonia, quyết khôi phục lại giang sơn, đe dọa nước Tòa thánh. Vua Charles dân Franc đem quân đến cứu đức Thánh Cha Adrian I (772-795). Sau nhiều tháng bị vây hãm trong thành Pavia, Didier vua Lombardo phải đầu hàng vô điều kiện. Charles toàn thắng, sáp nhập lãnh thổ Lombardia vào đế quốc (774). Hình như Charles đã có ý định thiết lập trên đất Ý một Liên hiệp vương quốc dưới quyền Roma, và muốn xác định lại nền độc lập của nước Tòa thánh. Nếu như Pépin là người không có tham vọng gì khác, ngoài việc xây dựng một nền tự trị thật sự cho ngôi Giáo hoàng, mà ông chỉ đóng vai Patricius, nghĩa là “kẻ bảo vệ võ trang”, thì Charlemagne người kế vị Pépin, vốn tính độc tài và đã để ý đến vận mệnh Ý Đại Lợi quốc từ lâu, không thể tự chế tham vọng đặt quyền mình trên bán đảo này. Charlemagne quan niệm rằng nước Tòa thánh, kể cả thành Roma, không thể đứng ngoài vòng kiểm soát và can thiệp của ông.

Charlemagne đã cùng với đức Thánh Cha Adrian tổ chức nước Tòa thánh (774-781). Nhưng với vị Giáo hoàng kế nhiệm, đức Leô III (795-816), mối bang giao mới thật chặt chẽ, và Charles được vị đại diện Chúa Kitô trao ban những vinh dự lớn nhất. Vừa đắc cử ngôi Giáo hoàng, đức Leô đã gởi cho Charles chìa khóa thánh Pherô và cờ hiệu Roma làm tặng vật danh dự. Năm 799, bị giam giữ bởi một cuộc nổi loạn, sau khi thoát ngục, ngài đích thân đi Paderborn cầu cứu đại vương. Charlernagne đưa đức Thánh Cha trở lại giáo đô. Năm 800, đức Leô tiếp rước Charles vào thành Roma, và đây là lần thứ ba ông tới kinh thành muôn thuở. Lễ Giáng sinh năm ấy, đức Thánh Cha trong phẩm phục Giáo hoàng tự tay đặt vương miện lên đầu Charlemagne quỳ trước mồ thánh Pherô. [9]

Biến cố lịch sử vô cùng quan trọng: trong ý nghĩ của Giáo hoàng, thái độ này trước hết là để ghi ơn và tưởng thưởng Charlemagne, vị ân nhân của Giáo hội Roma, người chiến sĩ anh dũng Công giáo, bách chiến bách thắng, đã thống nhất các Quốc gia Man di Tây phương thành một khối, đã hạ được quân Lombardo, đã làm quân Sarrasen khiếp sợ, sau cùng bắt dân Saxon ương ngạnh phải quy phục quyền uy Chúa Kitô. Thái độ của đức Leô còn muốn tái diễn những truyền thống huy hoàng của một đế quốc Kitô giáo, tức đế quốc của Constantinus và Theodosius. Trong tương lai, nó đánh dấu một sự thoát ly, không những về chính trị mà cả về tinh thần khỏi quyền tối cao Byzantin, với biết bao rắc rối đáng lo ngại cho đức tin. Charlemagne sau khi được khoác trên mình một vinh dự cao cả, sẽ đi hẳn vào truyền sử các Dân tộc. Qua thái độ nói trên, đức Leô đã đưa nhà Vua lên tuyệt đỉnh danh vọng trần thế, đồng thời vận mạng của các giáo đoàn Chúa Kitô được trao cho ông bảo vệ.

Hoạt động trả ơn và thầm mong tái sinh những truyền thống huy hoàng của một đế quốc Kitô giáo, và tự đặt mình dưới quyền bảo trợ của nhà Carolingien, ta thử xem địa vị và quyền hành của đức Leô III và các đấng kế vi ngài ra sao. Theo sử gia Duchesne, thì đia vị vương quyền trần gian của Tòa thánh bấy giờ không hơn một ông vua chư hầu. Mặc dầu được biệt đãi và trọng kính, đứng chủ một tài sản khổng lồ, quyền của Giáo hoàng ngay trên lãnh thổ mình cũng chẳng hơn vị phụ chánh xứ Provence hay Aquitaine là bao. Đến cả quyền trên đối với giám mục thành Ravenna ngài cũng không có, ngay tại Roma, khi muốn trừng phạt các kẻ chủ mưu dấy loạn, ngài cũng thấy quyền mình bị hạn chế. Lạ lùng hơn nữa là dân của ngài lại phải thề trung thành với Hoàng đế. Chủ chính quyền của ngôi Giáo hoàng như vậy rất tương đối: nó nằm dưới quyền bảo hộ của đế quốc.[10]

Từ tình trạng này, đức Eugeniô II (824-827) phải đi đến một thỏa ước dưới triều Louis le Pieux. Đó là bản Hiến chương 11.11.824, trong đó dân Roma (giáo sĩ và giáo dân) được nhìn nhận có quyền bầu cử Giáo hoàng, nhưng vị Giáo hoàng đắc cử, trước khi đăng quang, phải tuyên thê trước mặt Hoàng đế. Ngoài ra, quyền cai trị các lãnh thổ còn phải chịu sự kiểm soát thường xuyên của người đại diện Hoàng đế. Hai mươi năm sau, khi lên ngôi Giáo hoàng, đức Sergiô II (844 – 847) đã phải cực nhọc để xin vua Lothaire phê chuẩn cuộc bầu chọn mình.[11]

Theo những sự kiện trên, thì sự lệ thuộc của các Giáo hoàng đối với thế quyền quả thiệt nặng nề. Tuy nhiên, không thiếu những vị Giáo hoàng tỏ ra khí phách, mỗi khi cần sử dụng quyền mình, nhất là trong phạm vi thiêng liêng. Năm 833, đức Gregori IV (827- 844) đã can thiệp vào việc tranh chấp giữa các con cái của Louis le Pieux. Chính ngài đã cho mở rộng hải cảng Ostia, xây thành đắp lũy và đặt tên là Gregoriopoli. Khoảng năm 830, ngài cung hiến một đại thánh đường dâng kính các Thánh: lễ Chư Thánh bắt đầu có từ đấy. Năm 844, đức Sergiô II (844-847), trước khi mở cửa tiếp hoàng thân Louis đặc sứ của Lothaire, đã đòi ông phải thề rằng mình đến Roma chỉ có mục đích tìm ích lợi cho Quốc gia và Giáo hội. Ngoài ra, trong hết mọi trường hợp, ngôi Giáo hoàng nắm giữ hai đặc quyền quí báu: chỉ mình ngài có quyền trao Pallium, và chỉ mình ngài chủ tọa lễ nghi xức dầu tấn phong Hoàng đế.

Pallium là phẩm phục dành cho các tổng giám mục, biểu hiệu quyền tông đồ. Các tổng giám mục được lên chức bất cứ vì lý do nào và bởi ai, đều phải nhận Pallilum do tay đức Giáo hoàng, và chỉ khi ấy quyền bính của các ngài mới có hiệu lực. Còn hoàng đế lên ngôi do quyền thừa kế hay do một cuộc bầu cử, điều đó không can chi, nhưng vương quyền chỉ được quốc dân biết đến khi ông được đức Thánh Cha xức dầu và đặt vương miện. Do đấy, ngôi giáo hoàng vẫn là nguồn thông ban quyền bính. Và các ông được nhà Carolingien, từ Louis le Pieux đến Lothaire, từ Charles II đến Louis III, đều nhận lãnh nhận vương miện hoàng đế từ tay Giáo hoàng.

Có những hành động của ngôi Giáo hoàng đối với thế quyền, làm người ta phải kinh ngạc và khâm phục: đó là thái độ của thần quyền trước sự vi phạm luật hôn nhân. Vua Lothaire II (855-869) xứ Lorraine, vì muốn cưới nàng hầu Waldrade, đã tìm hết cách, kể cả những lời vu cáo tàn nhẫn, để ly dị bà Theutberge. Việc làm của Lothaire được nhiều người, trong đó có cả giám mục, can thiệp và hậu thuẫn. Dầu vậy, đức Thánh Cha Nicolas I (858867) cương quyết không chấp nhận một việc đã rồi. Ngài truất chức hai giám mục Cologne và Trêves, những tay sai của Lothaire, ngài còn buộc nhà Vua bằng bất cứ giá nào phải trở về với Theutberge. Sau 9 năm đụng độ ác liệt, Giáo hội vẫn giữ lập trường. Khi Lothaire muốn rước lễ tại Cassino, đức Adrian II (867-872) đã đòi ông phải nhắc lại lời thề không được đi lại với nàng Waldrade nữa. Nhà Vua thề và lên rước lễ. Sáu tuần lễ sau, Lothaire lên cơn sốt và từ trần (869).[12]

Lễ xức dầu và đặt vương miện chỉ là để quốc dân nhìn nhận sự hợp pháp của một ông vua tức vị, chứ không bảo vệ được một triều đại khỏi sụp đổ. Lễ tấn phong cho Charles II (875) do đức Gioan VIII (872-882), cũng như lễ đặt vương miện cho Louis III (886) đã không thể lấy lại được quyền uy cho những ông vua cuối thời nhà Carolingien, tước hiệu Hoàng đế dần dần mất đi ý nghĩa của nó, vì không còn bảo vệ được Giáo hội nữa. Giáo hoàng phải đi tìm một người bảo trợ hữu hiệu khác. Trong khi các ngài còn đang tìm cách kết thân với những ông hoàng xa xôi, thì quyền Tòa thánh rơi vào tay lũng đoạn của nam tước xứ Spoleta (891).

II GIÁO HỘI VÀ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN

1. Ngôi Giáo hoàng trong tay chuyên quyền của hàng quí tộc Roma

Dưới thời bảo hộ của nhà Carolingien, các Giáo hoàng đã chẳng bao giờ được tự do thật sự, nhưng dầu sao quyền bính của các ngài vẫn còn được kính trọng. Đến lúc ngôi Giáo hoàng lọt vào bàn tay lũng đoạn của những lãnh tụ phong kiến vô lương tâm, để rồi hết kêu cứu ai.[13]

Vấn đề gai góc nhất cho đất nước Tòa thánh từ trước tới nay, là làm sao dung hòa được các quyền lợi giữa vị giám mục thành Roma với dân của ngài, nhất là với các quan chức cao cấp trong thành phố. Ngay dưới triều Pépin, nhân cuộc bầu cử đức Stephan IV (768-772), đã có những đụng độ đẫm máu đưa tới một cuộc dấy loạn (767-769). Sang thế kỷ X, những đụng độ như thế hầu như thường xuyên. Tệ hơn nữa, chính ngôi Giáo hoàng cho tới khi đó còn được kính trọng, nay cũng không thoát khỏi những bàn tay vô đạo ngược đãi và sỉ nhục.

Vụ án Giáo hoàng Pormosô (891-896) được coi là một thành công vẻ vang nhất của các ông hoàng xứ Spoleta. Viện cớ rằng Giáo hoàng này đã lên ngôi bất hợp pháp, nhưng kỳ thực chỉ vì muốn báo thù việc ngài đã trao vương miện cho hoàng đế Arnulfus nước Đức. Xác của nạn nhân được quật lên sau 9 tháng chôn cất, bị đưa đến một hội đồng xét xử. Kết quả là Formosô bị cắt chức và ném xuống sông Tiber (897). Đức Giáo hoàng Stephan VII (896- 897), tự ý hay bị ép không rõ, đã làm theo ý Tòa án đó. Nhưng đức Gioan IX (898-900), người kế vị thứ tư của Formosô, đã lấy lại danh dự cho ngài.

Tuy nhiên thời khủng hoảng đã bắt đầu, Giáo hội đến lúc bị nhục bởi chính những lãnh tụ tinh thần của mình đã được bầu lên một cách độc đoán, kế tiếp nhau một cách bừa bãi và chết đau đớn. Giáo hội trong 70 năm đi dần vào cái ách tủi hổ của gia đình Theophylaco. Từ năm 896 đến 965, trên 20 vị lên ngôi Giáo hoàng. Có những vị phải rút lui vì dân chúng bất mãn làm loạn, hoặc bị cắt chức bởi những người đỡ đầu nham hiểm. Trước hết, từ năm 900 đến 915, người chủ động trong cuộc là nghị sĩ Theophylaco, nguyên toàn quyền xứ Ravenna, người nắm quyền quân sự lẫn hành chánh, đối với một hàng sĩ bất lực và đám dân phe phái, ông dùng bạo lực. Sau ông, từ năm 915 đến 932, đến lượt con rể ông, tức Alberico I quận công xứ Spolela. Rồi từ năm 932 đến 954, đến Alberico II, con trai của Alberico I. Bên cạnh những nhân vật này, những người coi Tòa thánh Latran không khác thái ấp của một gia tộc, còn có những người đàn bà như Theodora, vợ Theophylaco, và Marozia con gái của Theodora cũng là vợ Alberico I, và đấy là một sỉ nhục. Là những con người độc đoán và sa đọa, hai mẹ con Theodora đã thay nhau dùng thủ đoạn quyến rũ, dọa nạt và bạo lực để bêu xấu, hãm hại hoặc khủng bố tinh thần các Giáo hoàng đương nhiệm.[1]

Sergiô II (904-911) là “con bài” dễ điều khiển nhất của Theodora. Khi Gioan XI (931-935) con của Marozia và Gioan XII (955-964) con của Alberico II, lên ngôi Giáo hoàng, thì tại Giáo triều Latran xảy ra không biết bao nhiêu truyện thật đáng xấu hổ. Tuy nhiên, không nên vơ đũa cả nắm để kết án tất cả các vị dưới thời thảm bại này. Đức Gioan X (914-928) đã có công đánh đuổi quân Sarrasen ra khỏi sào huyệt Carigliano, và nổi tiếng vì đã cứu được kinh thành muôn thuở khỏi tay Marozia. Ngài còn muốn trao vương miện hoàng đế cho Hugue xứ Provence, và cũng vì ý định đó mà phải bỏ mạng (928). Các cuộc bầu chọn Giáo hoàng của Alberico I không phải đáng phàn nàn tất cả: con người ưa dùng bạo lực này tuy thế còn có liêm sỉ ông đã cộng tác với thánh Odon (879942) trong việc mở mang dòng Cluny, và cũng biết bận tâm đến việc xây dựng nhiều tu viện trên đất Ý Đại Lợi. Nhưng trong khi ngôi Giáo hoàng có cơ hội để được thoát khỏi tròng “làm tôi”, thì việc lên ngôi Giáo hoàng của Gioan XI con ông, và Gioan XII cháu nội ông, đã làm cho Giáo hội trở lại tình trạng cũ.

Octavian, người thanh niên 18 tuổi, lên chức tối cao trong Giáo hội, tức Gioan XII (955-964). Chán nản và bất mãn bao trùm khắp Roma vì đời sống tư của vị Giáo hoàng bất xứng này. Gioan yêu cầu Otton I (936-973) nước Đức bảo vệ ngôi Giáo hoàng, Otton nhận lời ngay vì từ lâu đã để ý đến tình trạng trên đất Ý. Nhưng Otton đặt điều kiện: trước hết ông phải được tấn phong hoàng đế với tất cả quyền lợi theo đó, kể cả lời thề trung thành về phía Giáo hoàng (962). Otton I không phải là con người tầm thường, ông đã thành công trong việc tái thiết nền đế chế sau một thế kỷ bị sụp đổ, ông là một lãnh tụ can đảm dám đương đầu với kẻ thù, và đã đẩy lui được quân xâm lăng Magyar và Slavo. Ngoài ra, Otton là một tín hữu công giáo chân thành, ông hết sức ngao ngán khi nghe nói đến những gương xấu của ngôi Giáo hoàng, tính tình ông lại thẳng thắn và rất ghét gian trá. [15] Do đấy, khi Gioan XII cùng với Bérenger âm mưu hại ông, ông đã thẳng tay trừng trị. Được dẫn đến một công đồng, và sau khi nghe những lời tố cáo của hàng giáo sĩ Roma với những bằng chứng cụ thể, vị Giáo hoàng bất xứng bị cách chức và bị trục xuất khỏi Giáo hội (963). Gioan phủ nhận bản án, gây nên một thời loạn ly. Nhưng rồi một tình thế mới xuất hiện là ngôi Giáo hoàng không còn là “con mồi” cho một phe nhóm, hay một gia đình phong kiến nào nữa. Được chuyển sang quyền bảo vệ của các vua nước Đức, Giáo hội trở lại tình trạng giống như dưới triều Carolingien.

2. Ngôi Giáo hoàng trong đế quốc La Đức

Đế quốc do Otton I thiết lập (962) không hoàn toàn giống đế quốc nhà Carolingien. Về phương diện lãnh thổ, tân đế quốc mang tên La đức mở rộng về miền đông, bình nguyên Trung Âu; sông Oder, Vistule, Tibiss chính là lãnh vực hoạt động quân sự của triều đại mới này, và là nơi thực hiện các chương trình cải tiến có phương pháp. Nhiều nước Tây Âu đứng ngoài ảnh hưởng của đế quốc La đức, như Tây Ban Nha, Anh, và đặc biệt nước Pháp của nhà Capétien.[16]

Tân đế quốc, về phương diện chính trị, không có lợi thế như nhà Carolingien, là tập trung được các dân công giáo thành một khối dưới quyền mình. Nhưng đừng nghĩ rằng ảnh hưởng của nó chỉ hạn hữu ở miền Bắc hay miền Đông Đức quốc mà thôi. Nhiều thành phố quan trọng của đế quốc như Cologne, Aix, Worms, Mainz, Spira, hầu hết nằm trên đất Rhenania của Charlemagne xưa. Những thái ấp rộng lớn của nhà Otton trong các xứ Lorraine, Bourgonde, Provence và Lombardia làm cho đế quốc có nhiều liên lạc với đời sống kinh tế cũng như tinh thần Tây âu và vùng Địa Trung Hải, tức các nước theo văn minh Roma. Những quyền lợi chính trị đã hơn một lần buộc nhà Otton phải can thiệp vào chính trường nước Ý. Bởi vậy đế quốc La đức tuy không có sắc thái “quốc tế” như đế quốc của Charlemagne, nhưng nó cũng không thể coi được là của riêng dòng giống German.

Danh hiệu “Thánh đế quốc La đức” có lẽ chỉ muốn nhắc lại thời đế quốc của Constantinus và Theodosius, tuy nhiên nó cũng diễn tả một sự thật khác nữa. Lễ xức dầu, một nghi lễ hoàn toàn tôn giáo, không những biểu hiệu sự trọng kính của người dân đối với một ông vua mà họ phải tuyên thệ trung thành, nhưng còn để người dân nhìn nhận những cơ cấu tổ chức trong đế quốc được bắt nguồn từ tôn giáo. Hàng Giáo phẩm khi ghé vai gánh đỡ tòa nhà đế quốc, đương nhiên trở thành những cộng sự viên quan trọng không kém, mà còn hơn các lãnh chúa phần đời. Nhờ có các ngài, hoàng đế thâu thuế dễ dàng, mộ binh mau lẹ, những thái ấp của hoàng gia cũng được bảo đảm hơn. Hoàng đế lợi dụng lòng trung thành của các giám mục và được các ngài trợ lực một cách hữu hiệu hơn bất cứ một giai cấp nào. Để đền đáp, hoàng đế rộng tay trong việc xây cất thánh đường và mở rộng thêm lãnh thổ cho Tòa thánh. Cả hai bên hoạt động chung cho sự bành trướng đức tin Kitô giáo và cho quyền uy đế quốc. Đó là mục tiêu chính trị của Otton I (936-973) và Otton II (973983). Ý của hai cha con là muốn thần quyền và thế quyền hoạt động song song với nhau, nếu không phải là trà trộn tôn giáo với chính trị.

Hành động như thế sẽ không khỏi bị đưa đẩy tới những mục tiêu phàm tục. Triều đại Otton III (983-1002), dựa theo quan điểm quá thực tế và duy lợi đó, sẽ cho thấy một bầu trời tươi sáng và mở rộng. Otton III đứng ra thiết lập một “đế chế Liên hiệp quốc” gồm các dân tộc tự ý thống nhất bởi cùng một niềm tin, dưới quyền chỉ huy của Roma Công giáo; quyền chỉ huy đó do sự phối hiệp giữa Hoàng đế và Giáo hoàng. Thể chế này được thực hiện rộng rãi dưới thời Giáo hoàng Silvestrê II (999-1003) gốc Pháp, khiến nước Hung của vua thánh Stephan và nước Ba Lan của nhà Boleslas cảm thấy hãnh diện khi được gia nhập hàng ngũ Công giáo, mà không phải lệ thuộc một thế lực nào. [17]

Các sử gia thường tỏ ra nghiêm khắc, khi nói đến ông hoàng trẻ tuổi Otton III này. Người ta trách ông một cách gay gắc vì đã bỏ đường lối của các tiên đế, người ta cho ông chỉ lý thuyết và ảo tưởng. Tuy nhiên, Otton III có hình ảnh một ông hoàng hiệp sĩ, bạn tri kỷ của những đấng thánh như Adalbert, Héribert, Romualđô, tính tình thận trọng, quảng đại và rất ghét gian trá lưu manh. Hình ảnh một nhân vật như thế, tưởng không phải là không thu hút được cảm tình và sự kính nể của nhiều người. Thiên Chúa quan phòng đã ban cho Tây phương năm 1000 một ông vua như thế, thiệt là một hồng ân rồi.

Còn Tiếp


[1] Chính trong thời bị coi là quá “bẩn thỉu” này, người ta đã bịa ra truyện “nữ Giáo hoàng Gioanna”, một câu truyện không có nền tảng lịch sử, song lại được các sử gia có ác ý với Giáo hội khai thác, trong khi không một sử gia đứng đắn nào chấp nhận