LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 3, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP – Tiếp Theo

II CÁC GIÁO PHỤ HY LẠP

1. Thánh Athanasiô (295-373), chiến sĩ vô địch của Công đồng Nicea [4]

Ít đấng thánh có đời sống nghiêng ngửa, chịu vu vạ cáo gian, chịu tầm nã tù đày, gian lao cực nhọc như thánh Athanasiô, suốt đời tranh đấu một cách gan lì cho đức tin Công giáo. Cuộc đời đó bắt đầu ngay từ khi lên chức giám mục thành Alexandria (326), cũng là quê hương ngài. Nhóm giáo phái Melecius liên kết với Donatus ở Carthago đứng lên chống đối và không nhận quyền ngài, còn bách hại giám mục, linh mục thuộc quyền ngài nữa. Nhưng Arius mới là kẻ tử thù. Arius quyết không đội trời chung với Athanasiô, mặc dầu khi ấy thánh nhân chỉ là một phó tế, đi cạnh đức giám mục Alexandrô tại Công đồng Nicea (325).

Nhưng Athanasiô là con người đanh thép, không biết sợ ai, không một thử thách hay đe dọa nào làm thánh nhân bại hứng hay lúng túng, ngài quen nói: “Đó chỉ là cơn mây chóng tan”. Thánh Epiphan nói về ngài như sau: “Athanasiô là người trước dùng lời lẽ khuyên nhủ, sau là dùng cánh tay nghiêm trị”. Năm 335, tại công đồng Tyro, Athanasiô bị tố cáo nhiều tội, kể cả loạn luân và sát nhân, nhưng thánh nhân đã quật lại các kẻ vu khống đó, bằng vạch trần những âm mưu gian dối của công đồng, còn thượng tố lên hoàng đế nữa. Một lần bị đày đi Trèves (336-337); một lần phải lưu vong bên Roma (340-345); lần khác bị trục xuất khỏi Alexandria, long đong chạy trốn trước sự tầm nã của quân sĩ Constantius (356-362); lần khác nữa phải trốn vào sa mạc Thebaida (362-363); sau cùng bị lưu đày dưới triều Valens (365-366).

Tù đày là cơ hội tốt của thánh nhân: tại Trèves và Roma, ngài làm cho các giám mục Tây phương thấu rõ sự quan trọng của cuộc tranh luận giữa Công giáo và Arius, ngài là gạch nối giữa Tây phương và Đông phương. Do đó, thánh nhân được sự tín nhiệm của đức Thánh Cha Giuliô và thánh Hilariô thành Poitiers. Cuộc bách hại nhằm vào con người Athanasiô trở nên sôi nổi. Nhưng tất cả xứ Ai Cập đứng lên bênh vực và che chở thánh nhân, phủ nhận Gregorius từ xứ Cappadocia đến chiếm quyền. Một hôm, thuyền của Athanasiô gặp thuyền của quân sĩ đi lùng bắt trên sông Nil, quan hỏi: “Ông có thấy Athanasiô qua đây không?”. Thánh nhân giả giọng đáp: “Thưa có” – “Có xa không?” – “Bẩm không xa, gần lắm, ngay trước mắt quí ông, chỉ cần chèo khỏe thêm một chút”. Không một thành một làng nào, kể cả những nơi xa xôi trên sa mạc, lại không nghe danh của thánh giám mục và không dành cho ngài nhiều cảm tình.

Nhưng đừng quá lưu tâm đến đời sống ly kỳ này, mà quên thánh Athanasiô là một văn hào. Tuy không phải là một nhà văn nổi tiếng và thông minh như hai thánh Basiliô và Gregori Nazianzen, nhưng là ngài có bộ óc rất tinh tường, biết rõ điều mình muốn nói và dám nói tất cả những điều muốn nói. Lối hành văn cứng rắn, minh bạch, khúc chiết, không lèo lái vô ích, được nổi bật bởi những lời lẽ rất “triết lý”. Thánh nhân để lại nhiều tác phẩm về chú giải Thánh Kinh như cuốn Chú giải Ca vịnh; loại hộ giáo có cuốn Ngôi Lời Nhập thể (318-320); loại tín lý và minh giáo có Luận thuyết I-III chống bè Arius (358), Lịch sử bè Arius (358); về luân lý và kỷ luật có cuốn Hạnh thánh Antôn (365). Đức Trinh Khiết (363).[1]

Đời sống cũng như các tác phẩm để lại, minh chứng Athanasiô là một trong những chiến sĩ bảo vệ đức tin Công giáo can đảm và anh hùng bậc nhất, đặc biệt là chiến sĩ vô địch của công đồng Nicea và là tử thù chống giáo phái chối Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Khi thánh nhân đứng ra biện hộ, không phải chỉ biết lo bảo vệ thanh danh mình, nhưng nhất là để bảo vệ đức tin, bảo vệ Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài rất hăng say bênh vực danh từ đồng bản tính, không phải ngài là con người cố chấp về từ ngữ, – thực ra ngài sẵn sàng nhận một danh từ khác, nếu cùng có một ý nghĩa đó – nhưng chỉ vì danh từ homoousios (đồng bản tính) đã được Công đồng Nicea nhìn nhận, và người ta không thể tìm được một danh từ nào khác, diễn tả sự thật một cách trung thực hơn.

2. Ba thánh giáo phụ xứ Cappadocia: Basiliô (329379), Gregori Nazianzen (330-390) và Gregori Nyssen (335-395)

Do tình huynh đệ và quê hương, thánh Basiliô, thánh Gregori Nazianzen và thánh Gregori Nyssen đã kết thành một “bộ” gọi là “giáo phụ bộ ba xứ Cappadocia”. Các ngài đã cùng nhau hiệp lực bênh vực giáo thuyết của hai Công đồng Nicea và Constantinopoli. Về phương diện tài năng, người ta thấy ba vị đã khéo bổ túc lẫn nhau: Basiliô là người ưa hành động và có biệt tài chỉ huy, Gregori Nazianzen có môi miệng một nhà đại hùng biện Gregori Nyssen là bộ óc triết gia. Tuy nhiên, Basiliô vẫn nổi bật hơn.

Được hưởng một nền giáo dục gia đình đạo đức, nhiệt thành với Giáo hội, thêm vào đó một di sản dòng tộc trí thức, văn hóa rộng và tài lợi khẩu, Basiliô đã sớm xuất thân là một nhân vật tài ba lỗi lạc của quê hương Cesarea (Cappadocia). Ngài đã đem hết tâm lực phục vụ Giáo hội vào thời vẻ vang nhất của nền đại học thần giáo, thời mà hoàng đế Julianus “Bội giáo” (361-363) muốn áp dụng cho Kitô giáo một chính sách ngu dân.

Trước hết, thánh Basiô là một nhà văn hào và giảng thuyết, có não phán đoán và rất thực tế, lời lẽ đơn sơ và thân mật. Các tác phẩm của thánh nhân được chia thành loại: tín lý, như cuốn Chống lại Eunomios (363-365), Luận về Chúa Thánh Thần (375); giảng thuyết và chú giải Thánh Kinh, như cuốn Sáu ngày (Hexameron), Chống lại các kẻ vu cáo chúng ta nói rằng có ba Thiên Chúa; đạo đức và phụng vụ, như cuốn Về sự phán xét của Thiên Chúa, Tu luật Diễn gia; (Regulae fusius tractatae 362-365).

Trong tác phẩm Sáu ngày, thánh nhân trình bày những sự lạ lùng của vũ trụ từ khi có ánh sáng, không gian, nước và đất cho tới khi có các sinh vật. Tác giả diễn tả nguồn phong phú và kỳ lạ của vũ trụ bằng những câu văn và lời lẽ của một hồn thi sĩ, trong khi quan điểm “khoa học” trong tác phẩm quá lỗi thời, nếu sánh với quan điểm của các nhà thiên văn và vạn vật học thời nay. Nhưng điều mà người ta nên chú ý là tác giả muốn dùng những cảnh vật huy hoàng con mắt xem thấy, để dẫn đưa độc giả tới Thiên Chúa.

Thánh Basiliô là con người ưa thích hành động. Từ khi lên chức giám mục thành Cesarea (370), thánh nhân trở thành một chủ chăn gương mẫu: bảo vệ đức tin, thuần phong mỹ tục, bênh vực quyền lợi của dân Chúa. Ngoài những bổn phận hành chánh quan án của một giám mục thời đó, thánh nhân còn phải giải quyết vấn đề sinh sống của dân. Công cuộc bác ái làm bận tâm thánh giám mục hơn cả. Với một tinh thần tông đồ hăng say, thánh nhân đã thực hiện ở vùng ngoại ô Cesarea một “khu Kitô giáo”, tại đó chung quanh thánh đường và tòa giám mục mọc lên các cơ sở của địa phận: bệnh viện, lữ quán, trường học, xưởng thợ, sở canh nông. Vì là giám mục của người nghèo, thánh Basiliô không thể làm thinh những lạm dụng thối nát của thời đại. Trong các bài Phúc âm Diễn giải, thánh nhân thường diễn tả cảnh dân nghèo bị bóc lột bởi thuế khóa bất công, lũng đoạn thị trường và đặt nợ ăn lãi, mà ngài kết là tội ăn cắp.

Tất cả công việc nói trên không làm cho thánh Basiliô bỏ quên Giáo hội thời đó; đang ở một tình trạng khủng hoảng do giáo thuyết Arius gây nên. Trong nhiều bức thư, thánh nhân kêu gọi tình đoàn kết và thông cảm giữa các giám mục Đông và Tây phương. Với cuốn Luận về Chúa Thánh Thần, thánh nhân cương quyết bảo vệ giáo thuyết Nicea, nhưng với một lối trình bày mới. Nhờ đó, ngài dã làm sáng tỏ vấn đề và chấm dứt được những hiểu lầm do từ ngữ gây ra. [6] Chính nhờ uy tín và sự khéo léo của thánh nhân, mà địa phận Cesarea, có lẽ là địa phận duy nhất, đã tránh được mọi xáo trộn của cuộc khủng hoảng Arius, kể cả dưới triều Valens (364-378).

Thánh Basiliô là nhà lập pháp của đời sống tu viện. Giáo hội thời nào cũng có những người con quảng đại hiến thân cho cuộc sống tu trì ở Tây phương cũng như ở Đông phương, mà điển hình là thánh Antôn (251-356). Nhưng cho tới khi ấy, đời sống tu trì chưa có lề luật rõ rệt, nếu không kể cuốn lề luật của thánh Pacomiô (290-346). Trong những năm 357-358, thánh Basiliô đi khắp các vùng Ai Cập, Palestina, Syria, Mesopotamia, thăm viếng nhiều đan viện, nghiên cứu lối tổ chức cũng như để học hỏi gương nhân đức của các vị. Nhận thấy lối tổ chức tu hành tập thể của thánh Pacomiô đem lại nhiều ích lợi hơn nếp sống tu hành đơn độc của thánh Antôn, thánh nhân đã viết một bộ luật mang tên Tu luật Diễn giải, tổ chức những tu viện theo lối thánh Pacomiô nhưng hoàn bị hơn. Đời sống mỗi tu viện trở nên thân mật và có tính gia đình. Thánh nhân nhấn mạnh về việc hãm mình nội tâm, chú trọng đến đức khiêm nhượng, nhẫn nhục và vâng phục.

Xét về sự nghiệp của thánh Basiliô, người ta phải công nhận ngài là một trong những nhà kiến trúc nổi danh, cũng đã tham gia vào việc tổ chức cơ cấu Giáo hội thời Thượng cổ và Trung cổ. Đồng thời là nhà lập pháp của bậc tu hành, mà sau này Cassianus và thánh Biển Đức cũng dựa theo, để xây dựng một giáo thuyết tu đức mới.

Thánh Gregori Nazianzen, biệt hiệu “nhà thần học” sinh tại Arianzen gần thành Nazianzen (Cappadocia), con của một nhân vật ngoại giáo, sau trở lại và làm giám mục thành Nazianzen. Gregori được theo học tại Cesarea xứ Cappadocia, Cesarea xứ Palestin, rồi Alexandria và Athêna, ở đây thánh nhân gặp Basiliô. Hai người trở thành đôi bạn tâm giao, đến sau cùng sống tu hành ở Iris (Pont). Năm 359, Gregori được cha gọi về và tấn phong linh mục (361). Từ đây, thánh nhân ở lại Nazianzen giúp cha già coi sóc địa phận, cho tới khi cha qua đời năm 373. Sau đó, ngài lui vào miền rừng núi Isauria, sống tĩnh tu và trước tác. Đại Công đồng năm 381 cất chức Maximus giáo chủ thành Constantinopoli và cử thánh Gregori lên thay. Việc thay thế này bị kẻ thù chống đối, ngài bèn xin từ chức trở về quê Ananzen, sống âm thầm, tiếp tục viết sách và ngâm thơ.

Những Bài Diễn văn, những Thi văn thuộc loại tín lý, luân lý, sử học, cùng nhiều thư từ để lại, cho ta biết Gregori Nazianzen không những là nhà thần học nổi tiếng, mà còn là một nhà hùng biện, một thi sĩ. Thánh nhân là con người trí thức ưa trầm lặng, thích thú đèn sách, tránh xa những cuộc đụng độ.

Thánh Gregori Nyssen là em thánh Basiliô, đã cùng sống đời tu với anh và thánh Gregori Nazianzen ở Iris. Năm 371, thánh nhân được cử làm giám mục thành Nyssen, nhưng việc nhận chức này gặp sự chống đối của bè Arius, đến độ phải lưu đày vào ba năm sau. Năm 378, hoàng đế Valens băng hà, thánh nhân được trở về địa phận, tham dự đại Công đồng Constantinopoli (381). Ngài nổi tiếng là một triết gia, minh chứng đức tin và lý trí không xung khắc nhau, nhưng trợ lực cho nhau. Thánh nhân ưa thích định nghĩa, xếp loại và luận lý, tuy lối hành văn có phần rối rắm. Hình như tác giả chịu ảnh hưởng của triết học Aristot và Platon. Các tác phẩm của thánh Gregori Nyssen cũng thuộc đủ loại: chú giải Thánh Kinh, tín lý, minh giáo, đạo đức, diễn văn, thư từ. Những cuốn như Đại Kinh bổn (384), Chống lại Eunomius (381), Đức Trinh khiết (370-371), được coi là quan trọng hơn cả.

Thánh Basiliô còn một người em nữa là thánh Pherô giám mục thành Sebasta, một chị lập dòng tức thánh nữ Macrina. Cả thân mẫu cũng là đấng thánh: thánh nữ Emmilia, còn thân phụ là một nhà hùng biện và rất đạo đức. Gia đình của thánh Gregori Nazianzen cũng toàn là đấng thánh: trước hết cha mẹ ngài là thánh Gregori giám mục thành Nazianzen và thánh nữ Nonna, rồi đến hai em là thánh Cesariô y sĩ và thánh nữ Gorgonica.[7] 

3. Thánh Gioan Kim khẩu (344-407) nhà đại hùng biện, vị chủ chăn gương mẫu

Những nhân vật nối nghiệp Lucianus (? 312) tại học viện Antiokia, đáng chú ý hơn cả có Diodorus (? 392), giám mục thành Tarses, và hai đồ đệ của ông là thánh Gioan Kim khẩu và Theodorus thành Mopsuest (?430). Vì quá quan tâm đến nhân tính nơi Chúa Kitô, chủ trương của Diodorus đã mở đường cho giáo thuyết Nestorius sau này; Theodorus còn đi xa hơn nữa. Do đấy, các tác phẩm của hai vị dã bị kết án và không được truyền lại. Nhưng thánh Gioan đã không theo giáo thuyết của thày và của bạn, nên đã cứu vãn được danh dự cùng làm vẻ vang cho học viện.

Thánh Gioan sinh tại Antiokia, con của một công chức cao cấp được nuôi dưỡng bởi bà mẹ góa từ hồi 20 tuổi, rất đạo đức: bà Anthusa. Trước khi vào học viện, Gioan đã theo học với những giáo sư danh tiếng Libanius và Andragath. Năm 373, Gioan được bầu lên chức giám mục, nhưng ngài bỏ trốn vào sa mạc, chuyên lo nguyện gẫm và học Thánh Kinh suốt 6 năm. Thời gian đã giúp ích rất nhiều cho sứ mạng giảng thuyết sau này. Đời sống khổ hạnh ở sa mạc làm Gioan mất sức khỏe, phải trở về Antiokia, tại đây được phong phó tế.

Năm 386, đức cha Flavianus (?404), giáo chủ thành Antiokia, phong chức linh mục cho Gioan, và trao việc giảng thuyết. Trong hơn 10 năm, thánh nhân đem hết tài năng phụng sự chân lý. Giáo dân kéo đến nghe và danh tiếng nhà giảng thuyết vang khắp nơi. Với tên Gioan, người ta ghép thêm biệt danh Kim khẩu (Chrysostoma). Thánh nhân còn được hoàng đế Arcadius đề bạt lên chức giáo chủ Constantinopoli năm 397. Thấy triều đình và dân

chúng đế đô sống trong trụy lạc, với những âm mưu chính trị hãm hại nhau, thánh Gioan lên tiếng kêu gọi sự trở lại và can đảm bảo vệ nền luân lý Kitô giáo. Tuy chỉ hứng được những thù ghét, nhưng không vì thế mà bỏ quên nhiệm vụ, ngài cảnh cáo cả bà hoàng hậu Eudoxia. Năm 403, thánh nhân bị kết án lưu đày, nhưng trở về vào mấy ngày sau và được dân chúng đón rước tưng bừng. Năm 407, lại bị kết án lần nữa, lần này ngài chết dọc đường tại Cumana (Pont). Lời cuối cùng của thánh nhân trước khi chết là: “Vinh danh Thiên Chúa trong mọi sự”. Xác thánh được rước về Constantinopoli (438) và chôn táng trong vương cung thánh đường các thánh tông đồ.

Thánh Gioan là một giáo phụ ngành giảng thuyết và là gương mẫu cho các nhà hùng biện. Các bài giảng của ngài không trình bày một đề tài, nhưng là những bài Thánh Kinh Diễn giải, có thể gồm nhiều đề tài khác nhau tùy theo đoạn văn đưa ra. Nhưng điều hấp dẫn thính giả, chính là luồng tư tưởng rất phong phú, lối nhìn mới mẻ, trình bày sáng sủa, nhiều biện chứng, nhiều hình ảnh, nhiều so sánh, với một lối văn bình dị, êm xuôi, trong sáng, làm cho ngài vượt trổi các nhà giảng thuyết cùng thời. Hơn nữa, thánh nhân có đời sống gương mẫu, hy sinh và nhiệm nhặt. Trên khuôn mặt gầy ốm, người ta đọc thấy một tâm hồn hiền diệu, nhưng có đôi mắt nẩy lửa khi cần phải bảo vệ luân lý, với những bước đi đứng hiên ngang coi khinh bụi trần, không ngại gian nguy nếu cần phải tiến về đời sống luân lý và tu đức. Tác giả trình bày hết sức hấp dẫn, biết đi sâu vào con tim của thính giả, để nói lên cái xấu của tội lỗi và cái đẹp cái tốt của các nhân đức.

Trừ Origenes ra, không một giáo phụ Hy Lạp nào đã để lại nhiều sách, như thánh Gioan Kim khẩu mà hầu hết còn giữ lại được. Nhiều nhất là các bài Thánh Kinh Diễn giải : 76 bài diễn giải Sách Sáng ký, 90 bài về Phúc Âm thánh Mattheô, 88 bài về Phúc Âm thánh Gioan, 63 bài về Tông đồ Công vụ, trên 250 bài về Thư thánh Phaolô và một số bài về Thánh vịnh … Thêm vào đó, nhiều bài giảng trong các dịp lễ, nhiều sách về tu đức, về chức linh mục, và 236 bức thư. Tất cả cuộc đời thánh nhân là một bài ca khen Thiên Chúa.

4. Thánh Cyrillô thánh Alexandria (374-444), Tiến sĩ “Ngôi Hai Nhập thể”

Trong số các nhà văn thành Alexandria, sau thánh Athanasiô, còn có Didymus và thánh Cyrillô. Didymus (313-398), sinh quán tại Alexandria, mù từ khi bốn tuổi, có tật nhưng lại có tài. Ông là một trong những nhà thần học nổi tiếng của thế kỷ IV, đối thủ của bè Arius và Macedonius. Sách của ông khá nhiều, phần lớn thuộc loại chú giải Thánh Kinh và tín lý, được thánh Antôn tu hành và thánh Gieronimô rất hâm mộ. Chỉ tiếc một điều là ông theo chủ trương của Origenes, mà sau này đã bị lên án trong Công đồng Constantinopoli III (680-681).

Trên tòa giáo chủ Alexandria, kế vị thánh Athanasiô (? 373), có Petrus II (? 381) rồi Timotheus (? 385). Hai vị này không để lại cuốn sách nào quan trọng. Kế đến Theophilus (? 412), một giám mục thông minh đã viết nhiều sách chống bè Origenes và Apollinarius, nhưng tính tình nóng nảy, hiếu thắng, nhiều tham vọng, đã nhúng tay vào vụ cất chức thánh Gioan Kim khẩu (403). Theophilus được người cháu gọi bằng chú lên kế vị, tức thánh Cyrillô.

Về cuộc đời của Cyrillô, người ta chỉ biết sinh trưởng tại Alexandria, và hình như đã có một thời vào sa mạc sống với các nhà tu hành. Năm 403, người ta thấy thánh nhân đi bên cạnh đức giáo chủ Theophilus tại công đồng Chêne. Nói đến cuộc đời giám mục của ngài, không ai không biết đến những hành động của con người cương trực và can đảm này, như việc trả lại danh dự cho thánh Gioan bị cất chức một cách bất công, việc đóng cửa các thánh đường thuộc giáo phái Novatianus, việc trục xuất những người Do Thái đã tàn sát một số giáo dân, và nhất là việc cất chức Nestorius tại Công đồng Epheso (431). [8]

Người ta sẽ sai lầm, khi chỉ để ý đến tính hiếu thắng và nóng nảy của Cyrillô, mà không biết đến công tập luyện của thánh nhân để hãm dẹp những tật xấu đó. Sự thực, ngài cũng đã biết hy sinh quan điểm của mình để chấm dứt sự bất hòa với đối phương. Xét về kiến thức, thánh Cyrillô được liệt vào bậc nhất trong các giáo phụ Hy Lạp. Với các giáo phụ Latinh, chỉ thua kém thánh Âutinh. Ngài là nhà thần học có cái nhìn chính xác và sâu sắc, làm việc không biết mệt.

Sách Cyrillô viết, vì không chú trọng đến văn chương, nên có vẻ dài dòng, không tự nhiên và hơi tối. Những cuốn Về sự thờ phượng và sùng kính trong tinh thần và chân lý. Chống lại Julianus (433), Nguồn tin về Chúa Ba Ngôi là thánh và đồng bản tính (420-425). Về Ngôi Con Nhập thể, Đức Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa, chứ không chỉ là Mẹ Chúa Kitô là những tác phẩm quan trọng của thánh nhân. Ngoài ra, còn nhiều bài Thánh Kinh Diễn giải và thư từ.

5. Những giáo phụ Đông phương khác (thế kỷ IV)

Eusebius thành Cesarea, thánh Epiphan và thánh Cyrillô thành Gierusalem là ba nhà văn nổi tiếng của xứ palestina thế kỷ IV. Trước hết, Eusebius (264-338) là một sử gia. Năm 315, lên chức giám mục cai quản địa phận Cesarea, và là người bạn tri kỷ của hoàng đế Constantinus. Tại Công đồng Nicea, Eusebius tỏ ra có cảm tình với Arius, và lo liệu cho Arius đi đày được trở về (328). Tuy có những vết đen ấy, ông vẫn được coi là một văn sĩ của Giáo Hội với bộ Lịch sử Giáo hội, gồm 10 quyển, từ Chúa Giêsu đến năm 324. Ngoài ra, ông còn nhiều tác phẩm khác thuộc loại sử học, hộ giáo và chú giải Thánh Kinh. Eusebius là người hiền lành, hiếu hòa ham thích đèn sách. Ông viết rất nhiều, nhưng ít để ý đến văn chương, vì thế lối hành văn của ông thiếu mầu sắc, đọc lên nghe hơi buồn.

Thánh Epiphan (310-402) người làng Besanduca, gần thành Eleutheropoli xứ Palestina, là đan viện phụ sáng lập tu viện Eutheropoli. Năm 367, thánh nhân được cử làm giám mục thành Constancia (Salamina) trên đảo Cypro, đóng vai chiến sĩ đức tin chống bè Arius, là một nhà trí thức lỗi lạc, thông thạo nhiều ngôn ngữ Hy Lạy, Hy Bá, Aram, Copto, Latinh. Thánh nhân đọc rất nhiều, vì thế các sách của ngài chứa nhiều tài liệu quí báu, chỉ tiếc một điều là hơi lộn xộn, dài dòng và tối tăm. Người ta chú ý đến những tác phẩm sau đây: Cắm Neo (Ancoratus), Hộp thuốc (Panarion) thuộc loại thần học. Ngoài ra, còn loại sách nghiên cứu “Thánh Kinh Cổ học”, như cuốn “Về mười hai Viên đá”, nhiều bài diễn văn, chú giải Thánh Kinh và thư từ.

Thánh Cyrillô (315-386), sinh quán tại Gierusalem, thụ phong linh mục hồi 30 tuổi, đảm nhận việc dạy giáo lý cho tân tòng và giảng các ngày chúa nhật. Năm 350, thánh nhân lên chức giám mục Gierusalem, kế vị thánh Maximô. Cũng năm đó, một Thánh giá sáng chói xuất hiện trên không trung giữa đồi Calvary và Olivery, mà ngài đã được chứng kiến và tường thuật trong một bức thư gởi hoàng đế Constantinus. Đời sống giám mục của thánh nhân phải đương đầu với Acatius, giám mục thành Cesarea (Palestina), người đã từng chống đối đức thánh Cha Liberiô. Hai lần thánh nhân bị trục xuất khỏi địa phận, năm 358-359. Năm 362, ngài chứng kiến sự thất bại của Julianus quyết xây lại Đền thờ Gierusalem. Năm 367, thánh nhân bị trục xuất lần thứ ba do án lệnh của hoàng đế Valens, và chỉ được trở về vào 11 năm sau, để có mặt tại Công đồng Constantinopoli năm 381.

Thánh Cyrillô không phải là một nhà thần học hay nhà văn nổi tiếng, nhưng chỉ là một nhà giảng thuyết bình dân, dạy kinh bổn, với những lời nói sống động, minh bạch, thân mật, thấm thía. Bộ Kinh bổn gồm 24 cuốn là tác phẩm giá trị nhất, nó dễ đọc dễ hiểu và có rất nhiều giá trị trong thần học.

Thành Edessa (Urfa ngày nay) đã có một thời lừng danh với thánh Ephrem (306-373), người thành Nisibi xứ Mesopotamia. Sau khi Nisibi rơi vào tay Sapor II vua Persia, thánh nhân lánh sang Edessa, sống chiêm niệm, khắc khổ, học Thánh Kinh, và thụ phong phó tế. Các tác phẩm thánh nhân để lại phần lớn dành cho giáo dân và các bậc tu hành, nên không có gì là cao siêu về triết học hay thần học. Đức tin được trình bày và bênh vực, là đức tin Giáo hội vốn quen dạy quần chúng, nhưng bằng lời văn sống động, sốt sắng, nẩy lửa. Thánh nhân đồng thời là một thi sĩ, giầu tưởng tượng và tình cảm. Nói tóm, thánh Ephrem là một trong những nhà văn nổi tiếng Đông phương, đã làm cho học viện Edessa vang bóng một thời.

III CÁC THÁNH GIÁO PHỤ LATINH

1. Thánh Ambroxiô (333-397), người bảo vệ quyền uy Giáo hội.

Sinh tại Trèves, Ambroxiô thuộc gia đình quí tộc Kitô giáo. Sau khi theo học luật khoa và làm trạng sư một thời gian, ngài bước vào ngành hành chánh. Năm 373, Ambroxiô được đặt làm tổng trấn hai tỉnh Emilia và Liguria (Bắc Ý) đóng dinh tại Milan. Trong giai đoạn khủng hoảng của đế quốc bấy giờ, Milan cần có những người đạo đức sáng suốt để bảo vệ, nhất là vì dân Công giáo ở đấy đang bị ảnh hưởng giáo thuyết Arius đe dọa. Năm 374, giám mục Auxentius theo bè Anus qua đời, hai phe Công giáo và Arius tranh giành nhau để đưa người của mình lên thay. Với nhiệm vụ tổng trấn, Ambroxiô đến giữ trật lự, bỗng từ đám đông phát ra tiếng một trẻ nhỏ kêu lên “Ambroxiô giám mục”. Mọi người cho đó là ý Chúa muốn, đồng thanh nhận Ambroxiô làm giám mục, mặc dầu ông chưa chịu phép Rửa. Không thể từ chối được, Ambroxiô phải chiều ý dân: Vox populi vox Dei (Ý dân là Ý Trời). Trong ít ngày, ông đi từ phép Rửa tội lên đến các chức thánh, làm tổng giám mục Milan.

Trong 24 năm giám mục, thánh Ambroxiô đã tận lực phục vụ Nước Chúa. Ảnh hưởng của ngài bao trùm không những khắp Bắc Ý, mà cả những miền xa xôi cũng như mãi về sau. Ngày nay, Milan vẫn còn hãnh diện vì Ambroxiô. Là cha của đoàn chiên, ngài sẵn sàng đón tiếp tất cả nhưng ai cần đến, về tinh thần cũng như về vật chất. Theo thánh Âutinh, thì ngài lúc nào cũng “bị bao vây bởi đám dân nghèo”, thành ra phải vất vả mới len chân đến gặp được. Đối với dân nghèo, thánh nhân bán tất cả gia sản cha mẹ để lại, còn muốn bán cả những

Còn Tiếp


[1] Kinh Quicumque vult quen gọi là Kinh Tin Kính của thánh Athanasiô (Symbolum Athanasianum), mà bản La văn xuất hiện hồi thế kỷ V hoặc VI, chưa chắc có phải là của thánh Athanasiô.

[7] P. Guérin: Basile, Grégoire de Nazianzen trong op. cit.,Xem J Tixeront: op. cit., tr 304.