LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 4, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

III CÁC THÁNH GIÁO PHỤ LATINH

1. Thánh Ambroxiô (333-397), người bảo vệ quyền uy Giáo hội.

Sinh tại Trèves, Ambroxiô thuộc gia đình quí tộc Kitô giáo. Sau khi theo học luật khoa và làm trạng sư một thời gian, ngài bước vào ngành hành chánh. Năm 373, Ambroxiô được đặt làm tổng trấn hai tỉnh Emilia và Liguria (Bắc Ý) đóng dinh tại Milan. Trong giai đoạn khủng hoảng của đế quốc bấy giờ, Milan cần có những người đạo đức sáng suốt để bảo vệ, nhất là vì dân Công giáo ở đấy đang bị ảnh hưởng giáo thuyết Arius đe dọa. Năm 374, giám mục Auxentius theo bè Anus qua đời, hai phe Công giáo và Arius tranh giành nhau để đưa người của mình lên thay. Với nhiệm vụ tổng trấn, Ambroxiô đến giữ trật lự, bỗng từ đám đông phát ra tiếng một trẻ nhỏ kêu lên “Ambroxiô giám mục”. Mọi người cho đó là ý Chúa muốn, đồng thanh nhận Ambroxiô làm giám mục, mặc dầu ông chưa chịu phép Rửa. Không thể từ chối được, Ambroxiô phải chiều ý dân: Vox populi vox Dei (Ý dân là Ý Trời). Trong ít ngày, ông đi từ phép Rửa tội lên đến các chức thánh, làm tổng giám mục Milan.

Trong 24 năm giám mục, thánh Ambroxiô đã tận lực phục vụ Nước Chúa. Ảnh hưởng của ngài bao trùm không những khắp Bắc Ý, mà cả những miền xa xôi cũng như mãi về sau. Ngày nay, Milan vẫn còn hãnh diện vì Ambroxiô. Là cha của đoàn chiên, ngài sẵn sàng đón tiếp tất cả nhưng ai cần đến, về tinh thần cũng như về vật chất. Theo thánh Âutinh, thì ngài lúc nào cũng “bị bao vây bởi đám dân nghèo”, thành ra phải vất vả mới len chân đến gặp được. Đối với dân nghèo, thánh nhân bán tất cả gia sản cha mẹ để lại, còn muốn bán cả những đồ vật châu báu trong thánh đường, để trợ giúp họ. Đối với tội nhân, ngài có biệt tài làm cho họ mềm lòng trở lại, vì Ambroxiô là một nhà hùng biện. Ngày nay, đọc lại những bài giảng của thánh nhân, người ta còn cảm thấy sự sốt sắng nồng nàn trong lời nói, có sức đánh động và làm say mê những tâm hồn tội lỗi nhất. Âutinh trở lại là một tích điển hình.

Thánh Ambroxiô cũng là một văn hào của Giáo hội. Tuy bận nhiều công việc, thánh nhân vẫn cố tìm thời giờ để đọc và nghiền ngẫm các sách của thánh Athanasiô, thánh Basiliô, thánh Cyrillô thành Gierusalem, Didymus, thánh Gregori Nazianzen. Trong việc học Thánh Kinh, Origenes được hâm mộ hơn cả. Sách ngài viết rất nhiều, bàn đến mọi vấn đề tôn giáo cũng như xã hội, tất cả những gì mà thời đại đòi hỏi. Văn của thánh nhân đượm mầu dịu hiền, êm ái, làm vui kẻ đọc. Loại chú giải Thánh Kinh có những cuốn như Về Thiên đàng (375), Diễn giải Phúc Âm thánh Luca (389). Loại tín lý có cuốn Về đức tin (378-380), bàn sâu về Thiên tính của Ngôi Lời, chống bè Arius, cuốn Về Chúa Thánh Thần (381) minh chứng Chúa Thánh Thần đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Con, chống bè Macedonius, cuốn Mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể (381-382) giải đáp những vấn nạn về mầu nhiệm này.

Thánh Ambroxiô là một giám mục đã góp công chấn hưng và xây dựng lễ nghi phụng vụ, mà sau này người ta gọi là lễ nghi Ambroxiô. Thánh nhân đã sáng tác nhiều thánh ca: kinh Te Deum được nhìn nhận là của ngài.[1] Về các bí tích, thánh nhân để lại nhiều tài liệu quí giá. Những bài huấn luyện các tân tòng về bí tích Rửa tội Thánh Thể và Thêm sức được ghi lại trong cuốn Các Mầu Nhiệm (387). Cuốn Bí tích Sám hối (384) chống lại thuyết Novatianus. Những tác phẩm tu đức học, như cuốn Bậc khiết trinh (376), Đời sống khiết trinh (392), Khuyến khích sống khiết trinh (393), làm cho thánh nhân nổi tiếng là “tiến sĩ của bậc khiết trinh”.

Nhưng địa vị và ảnh hưởng của thánh Ambroxiô nổi bật trong lãnh vực chính trị. Qua các triều đại, ngài là cố vấn của Gratianus (375-383), là thày dạy Valentinianus II (383-392), và là bạn của Thedosius I (379-395). Gratianus nhờ ảnh hưởng của thánh nhân, đã từ con người hèn nhát trở thành can đảm và anh hùng. Năm 383, Maximus uy hiếp Valentinianus II còn nhỏ tuổi và định chiếm quyền. Thánh Ambroxiô sang Gallia điều đình để Maximus chịu chia quyền với Valentinianus, Thánh nhân còn giúp thái hậu Justina tổ chức canh phòng vùng núi Alpes để bảo vệ đất Ý cho Valentinianus, con bà. Ngài thẳng thắn ngăn cản hành động của chấp chánh quan Symmacus, định đặt lại tượng thần chiến thắng tại tòa nhà thượng viện.

Năm 383, thánh Ambioxiô phải đương đầu với bè Arius đang mạnh thế trong triều đình. Justina lúc này đã nghiêng theo giáo phái, yêu cầu được nhường cho bà một thánh đường ở Milan. Thánh nhân cương quyết không chịu, khiến họ quyết dùng sức mạnh để chiếm đoạt, nhưng giáo dân đã đoàn kết chặt chẽ để bảo vệ các thánh đường. Trong bài diễn văn Chống lại Auxentius (386), tác giả cảnh cáo triều đình khi tuyên bố: “Hoàng đế ở trong Giáo hội chứ không ở trên Giáo hội” (Imperator intra Ecclesiam et non supra Ecclesiam est). Ngài nhất định không để cho thế quyền vướng vào thần quyền. Trái lại thần quyền có bổn phận hướng dẫn thế quyền trong lãnh vực của họ, cũng như phải cảnh cáo họ khi sai lỗi. Thánh nhân nói thêm: “Về vấn đề tín lý, đó là quyền xét đoán của các giám mục đối với hoàng hoàng đế Kitô giáo, chứ không phải là các hoàng đế có quyền xét đoán các ngài”. [10]

Những nguyên tắc trên đã được áp dụng trong vụ Thessalonic. Tháng 8 năm 390, để trừng phạt một cuộc dấy loạn xảy ra trong thành này, hoàng đế Theodosius phái một đạo quân tới và được tự do sát phạt, khiến trên 7.000 người bị giết. Thánh Ambroxiô tỏ ra cứng rắn và quyết thắng tay đôi với một tội ác công khai như thế, do một hoàng đế Kitô giáo gây ra. Thánh nhân tuyên bố rút phép thông công, và trong một bức thư gởi riêng cho Theodosius, ngài dùng lời lẽ nhân từ khuyến cáo ông nhận lỗi. Suốt một tháng, các nịnh thần xúi ông cưỡng lại, nhưng lương tâm hối hận. Đêm Chúa Giáng sinh 390, Theodosius bỏ áo cẩm bào mặc áo sám hối, đến nhận việc đền tội dưới chân thánh Ambroxiô tại thánh đường Milan.

Chính lúc một hoàng đế quỳ dưới chân một giám mục người ta chứng kiến quyền uy của Giáo hội trên đế quốc. Từ đây, đế quốc Roma đi nhanh và con đường sụp đổ trước cuộc xâm lăng của Man dân trong thế kỷ sau.[11] Nó tràn vào đế quốc sau khi Theodosius băng hà năm 395, cũng là năm chấm dứt thời Thượng cổ. Hai năm sau, tức năm 397, thánh Ambroxiô cũng nhắm mắt nhưng mở đầu cho một thời đại, trong đó Giáo hội đứng ra thay thế đế quốc Roma, để đón nhận Man dân và cảm hóa họ.

2. Thánh Gieronimô (347-420), dịch giả Thánh Kinh

Gieronimô sinh tại Stridone xứ Dalmatia, thuộc gia đình Kitô giáo. Với tính tình nóng nảy, nhiều tham vọng, Gieronimô đã qua những năm thiếu niên không được xứng đáng lắm, nhưng đã ăn năn hối cải và chịu phép Rửa hồi 18 tuổi, do đức Thánh Cha Liberiô. Vì muốn được tu thân đền tội, năm 374 Gieronimô sang xứ Syria, tìm vào sa mạc Chalcis sống rất khắc khổ, đồng thời học tiếng Hy lạp, Hy Bá và Aram. Năm 379, ngài đi Antiokia thụ phong linh mục, rồi qua Constantinopoli thụ giáo thêm với thánh Gregori Nazianzen về khoa chú giải Thánh Kinh. Năm 382, thánh nhân được đức Thánh Cha Đamasô gọi về Roma làm thư ký và nhận việc phiên dịch, chú giải Thánh Kinh. Bị nhiều người ghen ghét, chống đối, liền sau khi đức Đamasô qua đời (384), thánh nhân bỏ Roma cùng với hai mẹ con thánh nữ Paula và Eustokia qua Alexandria, rồi sang Palestina, sống tại Bêlem trong một hang động, không xa nữ tu viện của thánh Paula (404). Suốt 35 năm sống chay tịnh hãm mình, chuyên việc phiên dịch và chú giải Thánh Kinh, đào tạo môn đệ. Về cuối đời, ngài can thiệp vào những cuộc tranh luận về giáo thuyết Origenes và Pelagius.

Thánh Gieronimô không phải là một tư tưởng gia hay một nhà thần học như thánh Âutinh, cũng không phải là nhà hùng biện hay một chủ chăn như thánh Ambroxiô hay thánh Leô Cả, nhưng là một nhà thần học uyên thâm. Ngài thông thạo hết các sách văn chương đời viết bằng La văn hoặc đã được dịch sang La văn, ngài còn thấu hiểu các sách đạo viết bằng La văn hay Hy ngữ. Thánh nhân thông giỏi bốn ngôn ngữ: Latinh, Hy Lạp, Hy Bá, và Aram. Ngoài ra ngài còn nghiên cứu lịch sử và địa lý Thánh Kinh, lịch sử Giáo hội và các giáo phụ. Trong các giáo phụ, không ai viết La văn hay và giỏi như thánh Gieronimô. La văn của ngài vừa điêu luyện như Lactantius, vừa hấp dẫn như Tertullianus nhưng sáng sủa hơn.

Tác phẩm nổi tiếng hơn cả phải kể bản dịch Thánh Kinh. Sự thông thạo cổ ngữ và sinh ngữ đã cho phép thánh Greronimô đi về với chính bản, phiên dịch lại cả hai phần Cựu ước và Tân ước. Thánh nhân phải mất 22 năm sưu tầm các bản văn, nghiên cứu và so sánh, đồng thời thăm dò ý kiến các cộng sự viên Do Thái. Khởi sự từ năm 383, khi đức Thánh Cha Đamasô dạy ngài sửa lại bản dịch Vetus Itala, căn cứ vào bản văn Hy Lạp về phần Tân ước; bản dịch Thánh vịnh cũng được sửa lại, mang tên là Psalterium Romanun. Sang Palestina, từ năm 386 ngài căn cứ vào bản Sáu Cột (Hexaples) của Origenes để dịch hầu hết các sách Cựu ước, và sửa lại một lần nữa bản dịch Thánh vịnh gọi là Psalterium Gallicanum, vì được xứ Gallia dùng trước hết. Nhưng công việc độc đáo hơn cả, là không chỉ dựa vào bản Hy Lạp mà đặc biệt theo bản Hy Bá, để dịch ra La văn tất cả Cựu ước. Công việc bắt đầu từ năm 391 mãi đến năm 405 mới xong. Bản dịch rất trung thực, tuy nhiên phải chờ trên 200 năm sau, mới được thông dụng khắp nơi, và từ thế kỷ XIII bản dịch đó mang tên bản Vulgata. Tại Công đồng Trento (1545-63), bản Vulgata được công bố là bản dịch Thánh Kinh chính thức của giáo hội Công giáo.

Ngoài sự nghiệp Thánh Kinh được lưu truyền qua các thế kỷ tới ngày nay, thánh Gieronimô còn để lại nhiều tác phẩm về chú giải Thánh Kinh, tín lý, lịch sử và thư từ. Người ta chú ý đến những tác phẩm sau đây: Chống lại Helvidius về Đức Maria trọn đời khiết trinh (383), Hạnh thánh Phaolô (376), Các vĩ nhân (392), tác phẩm cuối cùng này được coi là cuốn lịch sử văn chương Kitô giáo đầu tiên.

3. Thánh Âutinh (354-430), đấng giáo phụ nổi tiếng nhất Giáo hội Latinh

Thánh Âutinh là giáo phụ nổi tiếng nhất Tây phương, sinh tại Thagasta (Numidia) và qua đời ở Hippone (Bône ngày nay), nơi ngài làm giám mục. Cha là ông Patricius ngoại giáo, mẹ là thánh nữ Monica (331-387). Từ khi còn ít tuổi, Âutinh đã tỏ ra thông minh, và được theo học ở Madaura, rồi Carthago. Tại đô thị xa hoa này, ông đã theo bè bạn sống trụy lạc, sinh một con trai tên là Adeodatus (372) và theo bè Manikes (374). Trong khi đó, bà Monica luôn theo dõi con và cầu nguyện cho con ăn năn hối cải. Năm 19 tuổi, Âutinh mãn trường, hành nghề giáo sư văn chương và hùng biện tại Thagasta và Carthago.

Năm 383, Âutinh trốn mẹ sang Roma, được chấp chánh quan Symmacus dành cho ghế giáo sư khoa hùng biện đang bỏ trống tại Milan (384), nơi thánh Ambrosiô giữ chức tổng giám mục. Thấy vị thánh giám mục được dân chúng kéo đến nghe giảng rất đông, ông cũng đến nghe thử và xin gặp thánh nhân. Ông bắt đầu để tâm suy nghĩ. Một hôm, Âutinh cầm cuốn Thư Thánh Phaolô, mở ra đọc: “Anh em đừng chè chén say sưa, đừng dâm dật và phóng đãng, đừng kình địch và ghen tương nữa, nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô…” (Rm XIII, 13-14). Từ đấy ông quyết trở lại. Lễ Phục sinh năm 387, Âutinh cùng với con và người bạn tên là Alipius chịu phép Rửa, do tay thánh Ambroxiô.

Âutinh cùng mẹ sang thành Ostia, định xuống tàu trở về Phi châu, nhưng thánh nữ Monica đã làm xong nhiệm vụ, chúc lành cho con yêu quí và nhắm mắt lìa đời (387). Mùa thu năm 388, Âutinh trở về quê nhà, bán hết của cải, sống tu hành, ở một nơi ngoại thành Thagasta. Ba năm sau, nhân một chuyến đi Hippone, ngài được đức cha Valerius phong chức linh mục. Năm 395, Âutinh thăng chức giám mục phó, và kế vị năm liền sau. Ở chức vụ mới, thánh nhân vẫn giữ nếp sống tu hành, thiết lập một tu viện ngay tại tòa giám nục. Tu viện rất lừng danh, có tới 10 giám mục xuất thân từ đây, trong số này có Alipius. Ngài còn giúp em gái thiết lập một nữ tu viện. Tiểu sử thánh nhân từ đó hòa nhịp với công việc chống các giáo phái Manikes, Donatus và Pelagius, cai trị địa phận, giảng dạy giáo dân, đào tạo hàng giáo sĩ. Nói tóm, ngài hiến cả cuộc đời giám mục cho việc bảo vệ đức tin Kitô giáo. Năm 430, thành Hyppone bị quân Vandal chiếm đóng, thánh nhân ở lại với đoàn chiên, nhưng già yếu và buồn rầu quá mà từ trần, thọ 66 tuổi.

Thánh Âutinh không những là đại tiến sĩ Hội thánh, nhưng còn là một trong những nhà bác học uyên thâm nhất của nhân loại. Trí óc thông minh sắc sảo, thấu triệt mọi vấn đề trừu tượng và khúc chiết nhất. Là nhà siêu hình học kiêm tâm lý, là nhà thần học kiêm hùng biện, là nhà tu đức kiêm sử học. Ngài viết nhiều nhất trong các giáo phụ Tây phương, có tới 1.030 cuốn. Văn chương cũng như tư tưởng của thánh nhân cao siêu, độc đáo, sống động, phong phú. Tuy nhiên, khi viết cho dân chúng, ngài cũng có lối văn bình dị, thích hợp và dễ hiểu. Các sách chia làm 9 loại: triết học, hộ giáo, chú giải Thánh Kinh, tín lý, minh giáo, luân lý và mục vụ, giảng thuyết, thi văn, thư từ.

Hai tác phẩm nổi tiếng hơn hết là cuốn Tự thú và Chúc tụng (Confessions, 400) và cuốn Thành trì Thiên Chúa (Cité de Dieu, 426). Cuốn thứ nhất gồm 13 quyển. Trong 9 quyển đầu, tác giả tường thuật cuộc đời mình cho tới khi mẹ mất năm 387. Thánh nhân tỏ ra rất khiêm nhượng khi giãi bày tâm tình trước Thiên Chúa, là Đấng thấu hiểu mọi người. Trong 4 quyển sau, tác giả hết lời ca tụng lòng nhân hậu Chúa đã thương đưa Âutinh về với Chân Thiện Mỹ. “Thánh nhân đã đổ biết bao nước mắt khi viết cuốn sách này” (L. Duchesne). Cuốn Thành trì Thiên Chúa diễn tả những đau khổ cùng sự tàn phá mà đế quốc Roma phải chịu dưới thời xâm lăng của Man dân. Cuốn sách thuộc loại hộ giáo, gồm 22 quyển chia làm 2 phần. Phần I (10 quyển): tác giả bác bỏ quan niệm rằng Thần giáo liên hệ đến sự thịnh vượng của các Quốc gia cũng như hạnh phúc chung của nhân loại. Phần II (12 quyển): so sánh nguồn gốc, diễn tiến và cùng đích của hai Thành trì, một lành tượng trưng cho đạo thật, một dữ tượng trưng cho các lạc thuyết và Thần giáo.

Loại triết học, phải kể đến cuốn Chống lại các triết gia phái Platon (Contre les Académiciens, 386-387), minh chứng người ta có thể đạt tới chân lý. Loại thần học có hai cuốn giá trị nhất: Về Chúa Ba Ngôi (398-416), Sách tiện lãm gởi Laurentius (Enchiridion à Laurent, 421), tức cuốn Tổng yếu Giáo lý Công giáo. Loại minh giáo, trước hết có cuốn Về các lạc giáo (428), rồi đến những sách chống bè Manikes, Donatus, nhất là Pelagius. Để chống bè Pelagius thánh nhân viết nhiều sách về ân sủng, như cuốn Bậc tự nhiên và ân sủng (415), Ân sủng Chúa Kitô và tội nguyên tổ (418), Ân sủng và tự do ý chí (426), v.v… Thánh nhân thật xứng danh là “Tiến sĩ Ân sủng”. Các bài giảng của ngài phần nhiều ngắn, bình dị, thân mật, không đủ cho người ta nhận biết tác giả là một nhà hùng biện. Các thư từ (khoảng 220) còn giữ lại, cũng là những tài liệu quí báu về triết học, thần học và mục vụ.

4. Thánh Leô Cả (395-461), Giáo hoàng tiến sĩ Hội thánh

Thánh Leô, người thành Roma, là một phó tế trưởng giúp đức Thánh Cha Celestin (422-432), đã từng làm đại diện Tòa thánh sang xứ Gallia dàn xếp những vụ tranh chấp giữa hai tướng Aetius và Albinus. Năm 440, thánh nhân đắc cử ngôi Giáo hoàng kế vị đức Thánh Cha Sixtô III. Tình thế đế quốc cũng như Giáo hội bấy giờ thật khó khăn, do những cuộc xâm lăng ồ ạt của Man dân. Nhưng vị tân Giáo hoàng tỏ ra rất lỗi lạc và am tường thời thế.

Bên Đông, đức Leô ủng hộ lập trường của thánh Flavian chống giáo phái Eutykes và Dioscorus, phủ nhận những hành động của “Mẻ cướp Epheso” (449), và lên án bè Monophysism tại Công đồng Calcedonia (451). Đồng thời chống tham vọng của Anatolius và nhiều giáo chủ khác muốn giành quyền tối thượng thiêng liêng cho đế đô Constantinopoli. Bên Tây phương, thánh nhân ngăn chặn các lạc thuyết Manikes, Priscillius và, bằng thư từ hoặc sai sứ thần, can thiệp vào Phi Châu, Gallia, cả Illyria nữa, để bảo vệ hoặc phục hồi kỷ luật Giáo hội. Năm 452, Attila kéo quân tới Roma, thánh Leô can đảm ra đón tại bờ sông Mincio, và thuyết phục được vua Huno bằng lòng lui quân về vùng Danube. Ba năm sau, cũng nhờ có thánh nhân can thiệp mà Roma thoát được cảnh tàn phá và chết chóc, khi Gensericus vua Vandal đến chiếm thành. Đức Leô băng hà sau 21 năm ở ngôi Giáo hoàng.

Thánh Leô không những là một đại Giáo hoàng, một vĩ nhân của Roma, nhưng còn là tiến sĩ Hội thánh. Là nhà thần học ưa thích minh bạch, thẳng thắn, không chịu để đạo lý của Chúa vướng vào những tranh luận phức tạp. Chỉ cần đọc các tác phẩm của thánh nhân, người ta nhận thấy ngay ngài rất am tường các vấn đề thần học thời đó, và đã giải đáp thỏa đáng. La văn của tác giả có lẽ chỉ kém một mình thánh Gieronimô. “Leô khi nói cũng như khi viết luôn tỏ ra là con người khí phách và sáng suốt, lúc nào người ta cũng thấy ngài nghĩ, cảm và làm” (L. Duchesne).

Tác phẩm của thánh Leô gồm các bài giảng và thư từ. Có 96 bài giảng, một nửa là những bài về các lễ trọng quanh năm, một nửa về tín lý chống bè Eutykes, về chay tịnh, bố thí, uy quyền Giáo hội, hoặc diễn giải Tân ước. Các bài giảng phần nhiều ngắn, thư từ còn giữ lại khoảng 143 viết từ năm 442 đến 460, đều là những tài liệu về tín lý, kỷ luật và lịch sử.

5. Những giáo phụ Tây phương khác (thế kỷ IV-V)

Thế kỷ IV, chống bè Arius còn có thánh Hilariô (300-368) giám mục thành Poiters (Gallia). Tại công đồng Béziers (356) thánh nhân thẳng thắn lên án giáo thuyết Arius của Saturnius giám mục thành Arles, nên đã bị đày sang xứ Phrygia do án lệnh của Constantius. Trong 5 năm ở chốn lưu đày, ngài học tiếng Hy Lạp, viết sách và giảng thuyết chống lạc giáo. Cho rằng thánh nhân gây lạc loạn ở Đông phương, Constantius trả về xứ Gallia (361), và cho trở lại địa phận Poitiers năm 365.

Thánh Hilariô viết nhiều sách thuộc loại chú giải Thánh Kinh, tín lý, lịch sử và minh giáo, một số thư từ và thánh ca. Hai cuốn Về Chúa Ba ngôi và Bàn về Công đồng quan trọng nhất. Cuốn thứ nhất gồm 12 quyển trình bày mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và bàn sâu rộng về Ngôi Hai Thiên Chúa. Cuốn thứ hai còn có nhan đề Bàn về đức tin của người Đông phương, có tính cách lịch sử và kêu gọi phe Semi-Arius trở về với giáo thuyết Nicea.

Ngoài ra còn có những sử gia như Rufinus (345-410), Sulpicius-Severus (363-425). Rufinus người xứ Venecia, bạn học với thánh Gieronimô tại Aquilea, sáng lập một tu viện trên núi Olivety (377). Tại đây, ông có một vài đụng độ với thánh Gieronimô khi bàn đến những quan điểm thần học của Origenes. Năm 407, ông trở về nước Ý và qua đời trên đảo Sicilia. Ông là tác giả cuốn Lịch sử đời sống ẩn tu. Còn Sulpicius-Severus, quê xứ Aquitania, là một luật sư và chuyên viết hồi ký. Sau khi vợ mất, ông vào rừng sống tu hành và trước tác. Hai cuốn Biên niên sử là tác phẩm giá trị nhất của ông. Đó là bộ lịch sử dân Do Thái từ tạo thiên lập địa, cho tới thời chấp chánh quan Stilicon năm 400.

Những thi sĩ như Prudentius (348-405), thánh Paulin thành Nola (353-431). Thi sĩ Prudentius người thành Saragoza là một luật sư, từng làm trấn thủ nhiều nơi, đặc biệt ở Saragoza, sau được tướng Theodosius trao cho những chức tước quan trọng trong quân đội. Vào khoảng 10 năm cuối đời, ông từ bỏ hết chức tước, chuyên làm thơ phú chống lạc thuyết và ca tụng Chúa cùng các thánh. Thi văn của ông độc đáo, phong phú và nhiều mầu sắc. Thánh Paulin người thành Bordeaux, là chấp chánh quan dưới triều Gratianus (375-383). Kết duyên với một thiếu nữ Kitô giáo Tây Ban Nha, học đạo với thánh Ambroxiô và được thánh nhân rửa tội (389). Năm 393, Paulin thụ phong linh mục, rồi lên chức giám mục thành Nola vào 16 năm sau. Thánh nhân là một thi sĩ, làm thơ rất dễ dàng và tự nhiên, tuy không độc đáo và nhiều mầu sắc như thơ của Prudentius.

Trong số các cộng sự viên của thánh Âutinh, có thánh Prosper (390-463). Thánh nhân sinh tại Bordeaux, tuy chỉ là một giáo dân thường, nhưng cũng là một nhà thần học, đã từng giúp văn phòng đức thánh Cha Leô Cả. Prosper thường liên lạc với đức giám mục thành Hippone trong việc chống lại lạc thuyết Pelagius bằng thư từ và sách vở. Đặc biệt có cuốn Về ân sủng Thiên Chúa và tự do ý chí chống kẻ chủ mưu (433-434), đó là tác phẩm chống một người tên là Cassianus, mà tác giả cho là rối đạo.

Đan sĩ Cassianus (350-440) cũng là một nhà văn của thời đại này. Ông là người xứ Scythia, đã sống với các nhà tu hành trên sa mạc Thebaida (Scète) 7 năm. Năm 403, đến Constantinopoli được thánh Gioan Kim khẩu truyền chức phó tế và trao nhiệm vụ thư ký. Sau khi thánh Gioan mất (407) Cassianus sang Roma, và năm 410 thiết lập đan viện St-Victor tại Marseille, rồi một đan viện khác cho các nữ đan sĩ, kết tụ được gần 5.000 tu sĩ nam nữ. Việc tổ chức hai đan viện này đã thúc đẩy vị đan viện phụ viết cuốn Quy chế đời tu (Les Institutions, 419-426). Tác phẩm thứ hai nổi tiếng hơn cả, là cuốn Những cuộc đàm thoại với các nhà đại tu hành trên sa mạc (Conférences, 426-428). Đây là tác phẩm gồm 24 bài tường thuật những cuộc tiếp xúc với các vị tu hành thời danh ở Ai Cập. Tác phẩm thứ ba là cuốn Ngôi Hai Nhập thể (431), nhằm chống lại bè Nestorius và Pelagius.

IV- CÁC THÁNH GIÁO PHỤ THỜI SUY MẠT

1. Các nhà văn Đông phương (thế kỷ VI-VIII)

Thời hoàng kim giáo phụ thế kỷ IV chấm dứt vào hạ bán thế kỷ V, nền văn chương Kitô giáo bước dần sang thời suy mạt. Là vì những nhân vật như Gioan Kim khẩu, Âutinh không còn, cũng vì cuộc xâm lăng của Man dân bắt đầu từ thế kỷ V gây loạn ly khắp nơi. Tuy nhiên, ở Đông phương cũng như Tây phương vẫn còn những nhà văn, những tiến sĩ “núp ẩn “ giữa đám đông cần được nêu cao tên tuổi và sự nghiệp. Bên Đông phương, Pseudo-Dionisius-Areopagit, Leontius thánh Byzantin (485-543), thánh Maximô (580- 562), thánh Gioan Đamascen (? 750), đều là những nhà thần học trứ danh. Khoa hùng biện và diễn giải Thánh Kinh có thánh Germanô (635-733) giáo chủ Constantinopoli. Evagrius (536-594), tác giả cuốn Lịch sử Giáo hội, là một sử gia sánh được với Eusebius. Thánh Gioan Climacô (? 649) đại diện cho các nhà tu đức học. Ở đây, chúng tôi chỉ nói đến ba vị đại diện cho ba thế kỷ: Pseudo-DionisiusAreopagit, thánh Gioan Climacô và thánh Gioan Đamascen.

Trong những cuộc tranh luận với hai lạc giáo Monophysisme và nhất là Monothelisme,[2] người ta thường nhắc đến tác phẩm của một nhà văn mạo xưng (Pseudo) là Dionisius-Areopagit, “môn đệ thánh Phaolô”. Tác phẩm được viết tại

Syria hoặc Ai Cập hồi cuối thế kỷ V (khoảng 480500). Bộ sách gồm 4 quyển và 10 bức thư: quyển I Về phẩm trật trên trời (De la hiérarchie céleste), quyển II Về Phẩm trật Giáo hội (De la hiérarchie ecclésiastique), quyển III Về Danh xưng của Chúa (Des nom divins), quyển IV Về Thần học thần bí (De la théologie mystique). Cho đến bây giờ người ta chưa biết đích xác ai viết, nhưng có thể đoán tác giả là một triết gia nhiều uy tín, với lối hành văn cầu kỳ, tối tăm, có những danh từ mượn ở Thần giáo.

Thánh Gioan Climacô (+ 649), không rõ sinh năm nào và ở đâu, chỉ biết là ngài chọn đời sống ẩn tu rất sớm. Năm 600, thánh nhân được bầu làm đan viện phụ một đan viện trên núi Sinai, nhưng xin từ chức vào 4 năm sau, trở lại đời ẩn dật dưới chân núi đó cho tới khi qua đời. Mang tên Climacô (tiếng Hy Lạp có nghĩa là bậc thang), nhan đề cuốn sách Bậc thang lên trời (Échelle du Paradis) do ngài trước tác. Một tác phẩm bàn về đời sống thiêng liêng và tu trì được hình dung như những bậc thang lên Trời. Tác giả kể ra 30 bậc, mỗi bậc có một nhân đức phải tập luyện và một nết xấu phải xa tránh.

Chống lại bè phá ảnh tượng thánh (Iconoclaste),[3] nổi tiếng nhất là thánh Gioan Đamascen (+ 754). Thánh nhân sinh tại Damas trong một gia đình Kitô giáo, giữ nhiều chức quan trọng trong chính quyền Ả Rập, bấy giờ làm chủ cả vùng. Cha là ông Sergius, và Gioan cũng có tên Ả Rập là Mansour (kẻ bị cầm giữ). Từ thuở nhỏ Gioan được học với một đan sĩ từ Sicilia đến, tên là Cosmas Sentor. Hết học, thánh nhân bước vào đời công chức. Năm 726 Gioan trở thành người của thời đại với bài diễn văn hộ giáo đầu tiên bênh vực các ảnh tượng thánh, chống lại chiếu chỉ của Leô III Isaurianus (717-741) ở Damas. Vì đứng ngoài ảnh hưởng của Byzantin, nên thánh nhân được tự do nói lên sự thật và đả kích lạc thuyết. Sau đó ít lâu vào sống trong tu viện Saint-Sabas gần Gierusalem, thụ phong linh mục, sống cuộc đời đèn sách.

Thánh Gioan Đamascen vừa là triết gia thần học, vừa là nhà tu đức học và hùng biện, thánh nhân còn chuyên về sử học, chú giải Thánh Kinh và sáng tác nhiều thánh ca. Byzantin tặng cho ngài biệt hiệu Chrysorrhoas (chảy vàng). Thánh nhân không những là “Tiến sĩ thờ kính ảnh tượng thánh”, còn đặc biệt là nhà thần học về Ngôi Hai Nhập thể, Chúa Quan phòng và ơn tiền định. Ngài còn nói nhiều đến tinh thần thống nhất và phổ thế của Hội thánh. Giữa lúc Đông Tây chia rẽ, thánh Đamascen là tư tưởng gia Đông phương cuối cùng tỏa sáng khắp Kitô giới.

Trong các tác phẩm của thánh Gioan Đamascen, phải kể bộ Nguồn khoa học gồm ba quyển lớn: Biện chứng, Lược sử các lạc giáo và Đức tin Chính thống. Bộ sách này được sánh với bộ Sententiae của Piereo Lombardo và Tổng yếu Thần học của thánh Tôma sau này. Ba bài diễn văn Chống lại những kẻ phá ảnh tượng thánh thuộc loại hộ giáo. Về đạo đức học có cuốn Những bản văn thánh (Les parallèles ou textes sacrés), đây là một tác phẩm thu lượm những câu văn của Thánh Kinh và các giáo phụ, xếp thành từng vấn đề. Sau hết nhiều bài giảng về Đức Mẹ trong các dịp đại lễ như Sinh nhật, Truyền tin, Mông triệu. 2. Các nhà văn Tây phương (thế kỷ VI-VIII)

 Nền văn chương Kitô giáo Tây phương không đến độ sa sút như bên Đông phương. Phi châu cũng như Tây âu đều có nhiều nhà thông thái, những bậc tiến sĩ. Riêng Tây âu có những nhà thần học, chú giải Thánh Kinh, như Faustus giám mục thành Riez (cuối thế kỷ V) thánh Cesariô giám mục thành Arles (470-543), những sử gia như thánh Gregori giám mục thành Tours (538-594). Phi châu cũng có nhiều nhà thần học, chú giải Thánh Kinh và giáo luật, trong đó thánh Fulgentiô (468-533) nổi tiếng nhất; rồi đến những sử gia và thi sĩ như giám mục Victor thành Vita (Byzacène), Dracontius, cả hai sống trong thế kỷ V sang thế kỷ VI. Nhưng lừng danh hơn cả vẫn là những nhà trước tác ở Tây Âu: Boecius, Cassiodorus, Dionisius Exiguus và ba thánh giáo phụ: Gregori Cả, Isidorô thành Sevilla và Bêđa Venerabilis. Ba thánh giáo phụ được dành cả mục sau, còn ở đây chúng tôi bàn đến năm nhân vật: thánh Fulgentiô, Boecius, Cassiodorus, Dionisius Exiguus và thánh Gregori thành Tours.

Thánh Fulgentiô (463-533) sinh tại Telepte xứ Byzacène (Phi châu) trong một gia đình giầu sang, được giáo dục rất cẩn thận. Sau một thời gian làm công chức, thánh nhân vào thử nhiều tu viện ở Phi Châu, Ai Cập, Sicilia, Roma, sau cùng trở về Phi Châu lập một đan viện mới và làm đan viện phụ, cho tới khi được chọn làm giám mục thành Ruspo (508). Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, ngài bị người Vandal theo bè Arius đày sang đảo Sardenia, mãi năm 523 mới được trở về địa phận. Thánh Fulgentiô rất giỏi Thánh Kinh và Thánh truyền, với một bộ óc thông minh, sâu sắc, có khả năng trình bày và giải quyết những vấn đề trừu tượng và khó khăn nhất. Văn của ngài sáng sủa, rành mạch và gọn gàng. Người thời đó gọi thánh nhân là “Âutinh Con” (Âutinh abrégé). Người ta còn giữ lại nhiều tác phẩm về thần học, một số thư từ và bài giảng. Các sách thần học chia làm ba đề tài: đề tài Chúa Ba Ngôi chống bè Arius, đề tài ân sủng chống bè Semi-Pelagius và đề tài Ngôi Hai Nhập thể.

Boecius (480-525) sinh tại Roma, thuộc quí tộc Anicius, có một nền học thức Latinh và Hy Lạp rất cao. Đó là những yếu tố khiến ông trở thành người có uy thế và thân tín với Theodoricus vua Ostrogot (474-526), cai trị Roma bấy giờ. Ông được làm thượng thư hồi 32 tuổi, cả hai con trai ông còn ít

Còn Tiếp


[1] Có người cho thánh ca Te Deum là của giám mục Niceta thành Remesian (Béla Palanka), người cùng tuổi với thánh Ambroxiô, bạn thân của thánh Nola (431). Xem Tixeront: op. cit., tr 319.

[2] Monothelisme là giáo thuyết chủ trương Chúa Giêsu chỉ có một thần ý.

[3] Về bè phái Phá ảnh tượng thánh

[10] Xem D. Rops: L’Église des Apôtres et des Martyr, Paris 1960, tr 668-669.

[11] Xem chương sau: Giáo hội cảm hóa Man dân.