LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 5, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

2. Các nhà văn Tây phương (thế kỷ VI-VIII)

 Nền văn chương Kitô giáo Tây phương không đến độ sa sút như bên Đông phương. Phi châu cũng như Tây âu đều có nhiều nhà thông thái, những bậc tiến sĩ. Riêng Tây âu có những nhà thần học, chú giải Thánh Kinh, như Faustus giám mục thành Riez (cuối thế kỷ V) thánh Cesariô giám mục thành Arles (470-543), những sử gia như thánh Gregori giám mục thành Tours (538-594). Phi châu cũng có nhiều nhà thần học, chú giải Thánh Kinh và giáo luật, trong đó thánh Fulgentiô (468-533) nổi tiếng nhất; rồi đến những sử gia và thi sĩ như giám mục Victor thành Vita (Byzacène), Dracontius, cả hai sống trong thế kỷ V sang thế kỷ VI. Nhưng lừng danh hơn cả vẫn là những nhà trước tác ở Tây Âu: Boecius, Cassiodorus, Dionisius Exiguus và ba thánh giáo phụ: Gregori Cả, Isidorô thành Sevilla và Bêđa Venerabilis. Ba thánh giáo phụ được dành cả mục sau, còn ở đây chúng tôi bàn đến năm nhân vật: thánh Fulgentiô, Boecius, Cassiodorus, Dionisius Exiguus và thánh Gregori thành Tours.

Thánh Fulgentiô (463-533) sinh tại Telepte xứ Byzacène (Phi châu) trong một gia đình giầu sang, được giáo dục rất cẩn thận. Sau một thời gian làm công chức, thánh nhân vào thử nhiều tu viện ở Phi Châu, Ai Cập, Sicilia, Roma, sau cùng trở về Phi Châu lập một đan viện mới và làm đan viện phụ, cho tới khi được chọn làm giám mục thành Ruspo (508). Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, ngài bị người Vandal theo bè Arius đày sang đảo Sardenia, mãi năm 523 mới được trở về địa phận. Thánh Fulgentiô rất giỏi Thánh Kinh và Thánh truyền, với một bộ óc thông minh, sâu sắc, có khả năng trình bày và giải quyết những vấn đề trừu tượng và khó khăn nhất. Văn của ngài sáng sủa, rành mạch và gọn gàng. Người thời đó gọi thánh nhân là “Âutinh Con” (Âutinh abrégé). Người ta còn giữ lại nhiều tác phẩm về thần học, một số thư

từ và bài giảng. Các sách thần học chia làm ba đề tài: đề tài Chúa Ba Ngôi chống bè Arius, đề tài ân sủng chống bè Semi-Pelagius và đề tài Ngôi Hai Nhập thể.

Boecius (480-525) sinh tại Roma, thuộc quí tộc Anicius, có một nền học thức Latinh và Hy Lạp rất cao. Đó là những yếu tố khiến ông trở thành người có uy thế và thân tín với Theodoricus vua Ostrogot (474-526), cai trị Roma bấy giờ. Ông được làm thượng thư hồi 32 tuổi, cả hai con trai ông còn ít tuổi cũng được đặt vào chức quan trong triều đình. Nhưng kẻ thù ghen ghét ông, tố cáo ông ma thuật, nhất là bị tình nghi liên lạc với Constantinopoli. Boecius bị bắt giam tại Pavia, chịu hành hạ, sau cùng bị giết. Nhiều nơi kính ông như đấng tử đạo.

Boecius có tài trí phi thường, thấu hiểu những vấn đề thuần lý rất trừu tượng, ưa thích triết học siêu hình và luận lý. Nhưng ông không phải là một triết gia sống xa xã hội; ngược lại, ông là một nhà xã hội học, văn sĩ, thi sĩ, mỗi khi phải tiếp xúc với đời. Văn nói cũng như văn viết của ông thuần chính và thanh nhã, vượt tất cả các văn sĩ thời đó. Các tác phẩm chia làm hai loại: thần học và triết học. Cuốn Niềm an ủi của triết học gồm 5 quyển giá trị nhất. Tác phẩm được viết trong thời gian bị giam giữ, muốn dùng triết học để an ủi mình.

Nếu Boccius là triết gia siêu hình, thì Cassiodorus (477-570) là một văn nhân có óc thực tế, nghĩa là ông chỉ viết khi nhu cầu thúc bách, và chỉ chăm lo bảo tồn cho hậu thế sự nghiệp văn hóa cổ điển và Kitô giáo, bấy giờ bị đe doạ bởi những cuộc xâm lăng man rợ. Cassiodorus sinh tại Calabra (Scilliaco ngày nay). Gia đình ông có nhiều người làm việc trong triều đình, và chính ông mới 20 tuổi đã là thư ký riêng của vua Theodoricus và rất được tín nhiệm. Năm 514, ông làm thượng thư và ba lần là chủ tịch pháp định. Ngược với Boecius, ông vẫn được trọng dụng trong những triều đại kế tiếp.

Nhưng năm 540, ông rũ áo quan vào tu trong đan viện Vivarium, do ông xây cất tại Calabra. Từ đấy Cassiodorus trở thành một đan sĩ, học thánh khoa và viết sách cho tới khi qua đời, thọ 93 buổi.

Sách của Cassiodorus chia làm hai loại cũng như cuộc đời của ông: đời và đạo Loại sách đời được viết trước năm 540, như cuốn Biên niên sử, Lịch sử dân Goth. Loại sách đạo có cuốn Lịch sử Giáo hội, Dạy cách học sách Thánh và sách đời, Dạy nghề nghiệp và văn chương, tức bảy môn học: văn phạm, hùng biện, biện chứng, toán học, âm nhạc, kỷ hà và thiên văn. Ông là một trong những người thứ nhất đứng ra cổ võ việc học hành trong các tu viện, việc chép lại và sửa chữa những cảo bản, biến các tu viện thành nơi tích chứa và bảo vệ các sách vở của tiền nhân bị bỏ rơi.

Cùng thời với Cassiodorus có đan sĩ Dionisius Exiguus, người xứ Scythia, sống tại Roma khoảng từ năm 500 đến 540, chuyên phiên dịch sách Hy Lạp sang La ngữ và thu lượm các tài liệu về kỷ luật. Cassiodorus khen ông là một nhà trí thức thánh thiện. Ông nhận biệt hiệu Exiguus (nhỏ bé) là do sự khiêm tốn của ông. Lịch sử thế giới ghi danh tánh ông là người có công sửa lại công lịch hồi năm 535. Cho tới khi đó, mỗi năm được tính theo tên chấp chánh quan của đế quốc Roma, hoặc tính từ khi thành lập thành Roma, hoặc năm lên ngôi hoàng đế. Thấy thiếu sự thống nhất và dễ sai lầm, Dionisius quyết định tính từ năm Chúa Giáng sinh, và đã được thế giới hoan nghênh, tuy ông đã có một vài sai lầm nhỏ. [1]

Xứ Gallia (Pháp quốc ngày nay) thế kỷ VI có thánh Gregori giám mục thành Tours (538-594) rất nổi tiếng, sinh quán tại Clermont (Auvergne) trong một gia đình quí tộc. Năm 573, thánh nhân được bầu làm giám mục thành Tours. Đời chủ chăn của ngài phải lo bảo vệ quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của dân Chúa và Hội thánh, chống lại tham vọng của Chilpéric vua dân Franc (561-584). Thánh nhân được mọi người quí mến, kính phục, và địa phận Tours trở thành trung tâm tôn giáo thời đó. Thánh Gregori còn là một sử gia, đã để lại một số sách, đặc biệt hai cuốn lớn nhan đề: Thánh nhân liệt truyện (Collection hagiographique) gồm 8 quyển, và Lịch sử dân Franc gồm 10 quyển.

3. Thánh Giáo hoàng Gregori Cả, thánh Isidorô thành Sevilla và thánh Bêđa Venerabilis.

Đó là ba thánh giáo phụ cuối cùng ở Tây phương, đại diện cho ba nước Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha và Anh Cát Lợi. Thánh Gregori (540-604) sinh tại Roma trong một gia đình giàu sang có địa vị. Chính thánh nhân cũng được đi học để làm quan: năm 30 tuổi đã là một luật sư tên tuổi lại pháp đình Roma. Năm 575, Gregori bán hết tài sản, lấy tiền thiết lập bảy đan viện, để trở thành một đan sĩ tu trên đồi Celio, và được đức Thánh Cha Benedictô I truyền chức phó tế. Ba năm sau, Gregori được đức Pelagiô tấn phong giám mục hiệu tòa Syracusa, và cử làm khâm sai tại triều đình Constantinopoli. Hết nhiệm kỳ 7 năm, thánh nhân trở về đan viện. Nhưng năm 590, Pelagiô qua đời, Gregori được thượng viện, hàng giáo sĩ và giáo dân đồng ý cử lên ngôi Giáo hoàng.

Tuy đời Giáo hoàng của đức Gregori chỉ có 14 năm, nhưng không một phút nào ngài bỏ qua mà không làm gì lợi ích cho Hội thánh. Quyền tối thượng của tòa Pherô được bảo vệ, kỷ luật Giáo hội được vãn hồi, bè Donatus ở Phi Châu bị đánh bại và những phần tử ly khai ở Ý được đưa trở về thống nhất. Thánh nhân cương quyết chống việc giáo chủ Joannes Junior thành Constantinopoli tự xưng là “Giám mục hoàn cầu”; dẫn đưa người Lombardo ở Ý và Visigot ở Tây Ban Nha nhìn nhận đức tin Kitô giáo; cử thánh đan sĩ Âutinh và nhiều tu sĩ khác sang Anh quốc truyền giáo; thành công trong việc quét sạch tàn tích Thần giáo tại các đảo Sicilia, Corsia và Sardenia; bảo vệ quyền tự do và bình đẳng cho tất cả những ai trở lại Kitô giáo, bất kể trước đó là nô lệ, Do Thái hay theo Thần giáo.

Giữa những công việc bề bộn như thế, thánh Gregori vẫn có thời giờ để lo sửa lại Sách Lễ và Kinh Phụng vụ, đó là mục đích tác phẩm Thánh Bí tích. Lễ nghi “Gregorian” được áp dụng trong hầu hết các thánh đường Tây phương. Bình ca “Gregorian” trong cuốn Ca Tiền xướng được phổ biến, và một trường âm nhạc thánh ca được thiết lập. Ngoài những tác phẩm về phụng vụ và thánh ca kể trên, thánh nhân còn để lại 848 bức thư được xếp thành loại trong 14 quyển, và một số sách về chú giải Thánh Kinh và đạo đức học, như cuốn Chú giải Sách ông Gióp (590), Mục vụ (591), Đối thoại (593). Khi viết văn, tác giả không chú tâm đến lối hành văn của những văn nhân lỗi lạc để bắt chước. Văn của ngài bình dị, đứng đắn, đôi khi có kiểu nói ngụ ngôn, đối câu và chơi chữ.

Với một sự nghiệp lớn lao này, thánh Gregori thật xứng đáng với biệt hiệu “Cả”, và là một trong “tứ trụ” của Giáo hội Latinh, cùng với các thánh Ambroxiô, Gieronimô và Âutinh.

Bán đảo Iberica (Tây Ban Nha) từ thế kỷ V đã được chia cho hai khối dân Visigot và Suevo. Dân Suevo theo đạo Công giáo từ đầu nhưng vào khoảng năm 466 vua Remismundo của họ nghiêng theo bè Arius và lôi kéo cả dân. Một thế kỷ sau, họ đã được thánh Martin (? 580) đưa trở về với chính đạo. Thánh nhân là người xứ Pannonia, giám mục thành Braga, cũng là một nhà văn thời ấy đã để lại nhiều tác phẩm về tu đức và phụng vụ. Trong khi đó, thánh Leandrô giám mục thành Sevilla truyền giáo cho dân Visigot và rửa tội cho Reccaredo (587), đó là ông vua Visigot thứ nhất theo đạo. Leandrô là con ông Severiano, người tỉnh Cartagena di cư sang thành Sevilla. Gia đình có ba anh em trai: Leandrô, Isidorô và Fulgentiô, tất cả đều là giám mục, và một em gái, tức nữ tu Florentina. Trong bốn anh chị em, Isidorô nổi tiếng nhất.

Isidorô (560-636) kế vị anh ở chức tổng giám mục Sevilla năm 596. Người ta biết ít chi tiết về đời sống giám mục của thánh này. Nhưng với các sách để lại, người ta nhận ra ngài là một nhân vật phi thường của thời đại. Sau 20 năm kể từ khi qua đời, công đường Toledo tuyên bố : “Isidorô là vị đại Tiến sĩ của thời ta, là vinh dự mới nhất của Giáo hội Kitô giáo”. Có lẽ lời ca tụng hơi quá đáng, vì sự thật Isidorô không phải là người có óc sáng tác, nhưng chỉ là một nhà thông thái, đặc biệt là một nhà biên tập, “hình như chưa có nhà biên tập nào nổi tiếng như ngài”. Thánh nhân tự cho mình có sứ mạng thu lượm tất cả mọi hiểu biết của nhân loại từ thế kỷ I cho đến thời ấy, làm thành một bộ Bách khoa Toàn thư (Encyclopédie) và đã thành công.

Ngoài ra, thánh Isidoro còn có nhiều sách khác thuộc các loại từ điển, sử học, chú giải Thánh Kinh, thần học, phụng vụ, tu đức và thư từ như những cuốn Ngữ nguyên học (Étymologie), Lịch sử các vua Goth, Vandal và Suevo, Tân Cựu ước Nhập môn, Đức tin Kitô giáo theo Cựu ước, Lịch sử lễ nghi phụng vụ, v.v…

Giáo hội Anglo-Saxon thế kỷ VII, con thiêng liêng của thánh Gregori Cả, đã sớm nổi tiếng với những đan viện Malmesbury Wearmouth và Yarrow dưới thời Aldhelm (656-709), thánh Biển đức Biscop (628-690), Ceolfrid (642-716), và nhất là thánh Bêđa Venerabilis (673-735). Nhờ có những nhân vật nói trên, Giáo hội Anglo Saxon đạt trình độ cao trong giới văn học Tây Âu.

Thánh Bêđa sinh tại Durham là một đan sĩ chuyên sử học và thần học. Mới 7 tuổi, Bêđa đã được ủy thác giáo dục cho thánh Biscop, vị sáng lập đan viện Wearmouth. Sau đó, thánh nhân theo Ceolfrid, môn đệ của Biscop, đi thiết lập đan viện Yarrow, và tu tại đan viện mới này cho tới khi qua đời. Thụ phong linh mục năm 30 tuổi, từ đó ngài chung sức với 600 tu sĩ thuộc hai đan viện Wearmouth và Yarrow, chuyên biệt dạy học và viết sách.

Nhờ có tinh thần cầu tiến và học hỏi từ khi còn ít tuổi, thánh Bêda được một nền học thức rất rộng, bao trùm tất cả mọi hiểu biết của người thời đó. Ngài đúng là ngọn đuốc chiếu soi những nơi tăm tối thời Trung cổ; sách vở của ngài có mặt tại các thư viện. Thánh nhân thông thạo tiếng Hy Lạp, một ngôn ngữ đã đi vào quên lãng ở Tây Phương thời đó. Ngài làm thơ phú dễ dàng như viết văn xuôi; đọc và viết La văn y như đọc và viết AngloSaxon. Thánh Kinh và thần học là nguồn tri thức của thánh nhân, tuy nhiên ngài cũng viết cho các sinh viên nhiều sách về thiên văn, âm nhạc, toán học, hùng biện, văn phạm và xuyết tự pháp.

Các tác phẩm của thánh Bêda phần lớn là lịch sử, với một lối văn sáng sủa, khúc chiết, thứ tự, người ta sánh ngài với Herodotus, “Tị tổ của sử học” (Le père de l’histoire). Nổi tiếng nhất là bộ Lịch sử Giáo hội Anglo-Saxon, 5 quyển, bắt đầu từ khi Julius Cesar tới xứ Britannia (giữa thế kỷ I trước công lịch) đến năm 731, xứng đáng làm nền tảng cho lịch sử Anh quốc. Còn các loại sách khác về thần học, chú giải Thánh Kinh, tu đức, thư từ, chúng tôi không thể kể hết được. Tuy nhiên, cũng nên biết đến cuốn Về bản tính các sự vật, trong đó không một khoa học nào của thời đại mà không được trình bày. Con người có bộ óc lạ lùng như vậy, với một sự nghiệp lớn lao như thế, thật xứng với biệt hiệu Venerabilis (đáng kính).

Chương Năm

GIÁO HỘI CẢM HÓA MAN DÂN (t.k. V-VII)

hời Trung cổ trong lịch sử thế giới bắt đầu từ khi hoàng đế Theodosius I băng hà năm 395, đánh dấu sự suy sụp của đế quốc Roma trước nạn xâm lăng của Man dân. Cuộc xâm lăng của Man di đã sửa lại bản đồ Âu châu trên nhiều phương diện. Về chính trị, chủ quyền không còn tập trung trong tay hoàng đế và thượng viện Roma nữa. Người ta thấy xuất hiện nhiều Quốc gia mới, có vua chúa, luật pháp, phong tục riêng. Những biến chuyển thời cuộc đã gây nhiều ảnh hưởng vào lãnh vực văn hóa. Không kể nhiều di tích lịch sử, nhiều tác phẩm mỹ nghệ, văn chương đã bị ngọn lửa chiến tranh thiêu hủy, nền văn minh Latinh xáng lạng xuống dốc rõ rệt. Lãnh thổ cũ của đế quốc bị những khối dân xa lạ đến chiếm đóng. Phần đông những người đó không quen thuộc với đời sống văn minh; và thường tình nếp sống kẻ chiến bại – dù có đẹp đẽ chăng nữa – khó lôi cuốn được sự chú ý của những tay giang hồ, kiêu hãnh đó.

Hoàn cảnh đổi thay đã đặt Giáo hội vào một vị trí mới. Từ đầu đến nay, Hội thánh trong bước đường nhập thế, đã cố gắng kiện toàn tổ chức của mình, nhờ những cơ cấu khá hoàn bị của đế quốc Roma. Từ địa vị người khách, Hội thánh đã dần dần thấm nhập vào các cơ cấu của đế quốc, và coi như gắn liền với đời sống của nó. Biến cố “Man di” đã phá gẫy “cái giàn” mục nát, liệu “cây leo” Giáo hội có tàn lụi theo không? Không, mà trái lại. Không những Hội thánh đã bảo vệ được di sản quí báu của văn minh nhân loại, mà còn thu nhận những “chủ ông mới” hung hăng vào gia đình mình, để rồi từ đó bành trướng ảnh hưởng của mình sâu rộng hơn. Thế giới thời Thượng cổ đã được Kitô hóa, nhưng thế giới thời Trung cổ mới thật là sản phẩm, là con đẻ của Kitô giáo. Trước đây, Hội thánh đem đạo lý của mình để uốn nắn những gì đã có sẵn. Nhưng bây giờ, Hội thánh sẽ truyền thụ lại tất cả kho tàng thiên phú và thủ đắc của mình, để xây dựng một trật tự mới, theo chiều hướng mới. [1]

I – MAN DÂN XÂM LĂNG ĐẾ QUỐC TÂY PHƯƠNG

1. Tìm hiểu người Man di và tình hình đế quốc Roma thời mạt vận

Tiếng “Man di” (Barbare) không đồng nghĩa với “dã man”, “mọi rợ” (sauvage). Nó chỉ muốn nói lên sự cách biệt giữa một dân tộc có những tổ chức chính trị nghệ thuật, văn chương phong phú, với một khối người còn chất phác, quê mùa. Tuy nhiên, những dân tộc này cũng có một di sản tinh thần quí báu, mà sau này – khi được Giáo hội cảm hóa – họ sẽ đóng góp phần quan trọng cho nền văn minh Kitô giáo. Khối Man di không phải là một dân tộc thuần nhất, nhưng là từng nhóm bộ lạc, có khi liên minh với nhau, có khi chống đối nhau. Họ cũng không giống nhau về tính tình, tín ngưỡng, phong tục đối với Kitô giáo, họ có những thái độ khác biệt. Sự dị biệt đó đưa đến những cách đối xử không như nhau khi họ xâm chiếm đế quốc: có dân tàn sát người Kitô giáo, có dân quy thuận và trở thành những chiến sĩ truyền bá Phúc âm. Sau vài nhận xét trên, chúng tôi theo nhiều sử gia chia khối người Man di này thành ba nhóm, để nhận định : German, Slavo và Mongol. [2]

Nhóm German sống trong các vùng Tây Bắc Âu châu ngày nay. Họ là những người lính cường tráng, thờ sức mạnh thiên nhiên: mặt trời, mặt trăng, sấm chớp…, trên cùng là Wodan hay Odin (Trời) mà họ thường cầu khấn mỗi khi mưu toan đại sự. Họ sống thành liên bang, bảo vệ quyền lợi và tài sản cho nhau. Họ chiến đấu anh dũng và không sợ chết. Tính tình tuy hung bạo, say sưa nhưng có điểm tốt là chất phác, ngay thẳng. Sắc dân German có thể chia làm hai ngành: ngành Teutonic gồm những dân Franc, Burgundo, Anglo, Alaman, Saxon: ở miền Bắc; ngành Goth gồm Ostrogot, Visigot, Suevo, Vandal và có lẽ cả Lombardo, ở miền Nam. Nếu trừ hai dân Vandal và Lombardo ra, các sắc dân kia – nhất là Goth – phần nhiều đã quen biết văn minh Roma, nên việc đối xử với người chiến bại không đến độ hà khắc lắm.

Nhóm Slavo, phát xuất từ hai sông Vistule và Don, bản tính thích xâm lăng, chiến tranh, di dộng, chứ không ưa định cư. Họ là thủy tổ của dân Đông âu ngày nay: Russo, Bulgar, Tcheco.

Nhóm Mongol phát xuất từ phía đông rặng Oural, Trung Á, đâm sâu vào miền Trung Âu; nhóm này hung dữ nhất. Đây là giống da vàng, những kỵ mã lanh lẹ, gồm những sắc dân Huno, Avar, Magyar, Turco… Đặc điểm chiến tranh của họ là sau khi cướp phá, tàn sát, “làm cỏ”, họ rút lui về những cánh đồng vắng chứ không đóng lại trong các thành thị. Tôn giáo của nhóm này là ngẫu tượng, đượm nhiều chất ma quái.

Cuộc xâm lăng của Man di khai tử hơn là bóp chết đế quốc. Thực vậy, đế quốc bị tan rã, phá hoại ngay từ trong lòng mình. Sự sa sút biểu lộ trên nhiều phương diện. Trước hết về chính trị và quân sự, những cuộc đảo chính thanh trừng nhau thường xảy ra tại triều đình. Để củng cố địa vị, chính quyền trung ương đã áp dụng sách lược có ích lợi nhất thời, gây tai hại không lường được. Họ loại bỏ các cấp chỉ huy quân đội thuộc hàng quí tộc, và dành

Còn Tiếp

[1] Sách tham khảo: Fustel de Coulanges: Hist. des Inst.

Politiques de l’ancienne France, Q.II và III, 1891-1892 – J. B. Bury: History of the later Roman Empire, London 1889-1892 – F. Mourret: Histoire génerale de l’Église, Paris 1912, 21, Q.

II và III F. Lot : Les invasions germaniques Paris 1939 – G. de Plinval: L’Église éducatrice des nations Barbares, trong Histoire illustrée de l’Église (G. de Plinval – R. Pittet), Paris 1946 – 48, Q. I, tr 239-276.


[1] Theo Dionisius, Chúa chịu phép Rửa hồi 30 tuổi, năm thứ 15 hoàng đế Tiberius, tức năm 784 từ khi thành lập Roma, vì Tiberius lên ngôi năm 769 (769 + 15 = 784). Do đó ông ấn định năm Chúa Giáng sinh là năm (784 – 30 tuổi) 754 lịch Roma. Việc ông Diomisius tính như thế đã sai đi mấy năm. Trước hết, Tiberius lên ngôi năm 765 (chứ không phải 769), và khi Chúa chịu Phép Rửa, thánh Luca nói phỏng 30 tuổi chứ không đúng 30. Sau là, Herodes chết năm 750, tức 4 năm trước Công lịch, mà hiện nay ta đang dùng theo Dionisius. Như vậy Chúa phải sinh ra ít là một năm trước khi vua Herodes chết, nghĩa là vào khoảng năm 749, vì Herodes truyền giết các trẻ 2 tuổi trở xuống, thành thử chênh lệch tới 5 năm. Tuy có sự sai lầm này, ngày nay người ta vẫn tính theo Dionisius nghĩa là ấn định năm Chúa Giáng sinh vào năm 754 kể từ khi thành lập Roma.