LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 6, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

I – MAN DÂN XÂM LĂNG ĐẾ QUỐC TÂY PHƯƠNG

1. Tìm hiểu người Man di và tình hình đế quốc Roma thời mạt vận

Tiếng “Man di” (Barbare) không đồng nghĩa với “dã man”, “mọi rợ” (sauvage). Nó chỉ muốn nói lên sự cách biệt giữa một dân tộc có những tổ chức chính trị nghệ thuật, văn chương phong phú, với một khối người còn chất phác, quê mùa. Tuy nhiên, những dân tộc này cũng có một di sản tinh thần quí báu, mà sau này – khi được Giáo hội cảm hóa – họ sẽ đóng góp phần quan trọng cho nền văn minh Kitô giáo. Khối Man di không phải là một dân tộc thuần nhất, nhưng là từng nhóm bộ lạc, có khi liên minh với nhau, có khi chống đối nhau. Họ cũng không giống nhau về tính tình, tín ngưỡng, phong tục đối với Kitô giáo, họ có những thái độ khác biệt. Sự dị biệt đó đưa đến những cách đối xử không như nhau khi họ xâm chiếm đế quốc: có dân tàn sát người Kitô giáo, có dân quy thuận và trở thành những chiến sĩ truyền bá Phúc âm. Sau vài nhận xét trên, chúng tôi theo nhiều sử gia chia khối người Man di này thành ba nhóm, để nhận định : German, Slavo và Mongol. [1]

Nhóm German sống trong các vùng Tây Bắc Âu châu ngày nay. Họ là những người lính cường tráng, thờ sức mạnh thiên nhiên: mặt trời, mặt trăng, sấm chớp…, trên cùng là Wodan hay Odin (Trời) mà họ thường cầu khấn mỗi khi mưu toan đại sự. Họ sống thành liên bang, bảo vệ quyền lợi và tài sản cho nhau. Họ chiến đấu anh dũng và không sợ chết. Tính tình tuy hung bạo, say sưa nhưng có điểm tốt là chất phác, ngay thẳng. Sắc dân German có thể chia làm hai ngành: ngành Teutonic gồm những dân Franc, Burgundo, Anglo, Alaman, Saxon: ở miền Bắc; ngành Goth gồm Ostrogot, Visigot, Suevo, Vandal và có lẽ cả Lombardo, ở miền Nam.

Nếu trừ hai dân Vandal và Lombardo ra, các sắc dân kia – nhất là Goth – phần nhiều đã quen biết văn minh Roma, nên việc đối xử với người chiến bại không đến độ hà khắc lắm.

Nhóm Slavo, phát xuất từ hai sông Vistule và Don, bản tính thích xâm lăng, chiến tranh, di dộng, chứ không ưa định cư. Họ là thủy tổ của dân Đông âu ngày nay: Russo, Bulgar, Tcheco.

Nhóm Mongol phát xuất từ phía đông rặng Oural, Trung Á, đâm sâu vào miền Trung Âu; nhóm này hung dữ nhất. Đây là giống da vàng, những kỵ mã lanh lẹ, gồm những sắc dân Huno, Avar, Magyar, Turco… Đặc điểm chiến tranh của họ là sau khi cướp phá, tàn sát, “làm cỏ”, họ rút lui về những cánh đồng vắng chứ không đóng lại trong các thành thị. Tôn giáo của nhóm này là ngẫu tượng, đượm nhiều chất ma quái.

Cuộc xâm lăng của Man di khai tử hơn là bóp chết đế quốc. Thực vậy, đế quốc bị tan rã, phá hoại ngay từ trong lòng mình. Sự sa sút biểu lộ trên nhiều phương diện. Trước hết về chính trị và quân sự, những cuộc đảo chính thanh trừng nhau thường xảy ra tại triều đình. Để củng cố địa vị, chính quyền trung ương đã áp dụng sách lược có ích lợi nhất thời, gây tai hại không lường được. Họ loại bỏ các cấp chỉ huy quân đội thuộc hàng quí tộc, và dành các chức ấy cho những tay quân sự thuần túy. Quân đội vì thiếu người nên phải mộ trong đám nô lệ và Man di. Do đó, nhiều người Man dân chiếm được những địa vị cao cấp trong quân đội. Nhiều tướng lãnh, tư lệnh vùng là đám người ngoại lai, và họ không còn buộc phải Roma hóa tên của họ nữa, như Arbogast người Gaulois (+394) là cánh tay mặt của Theodosius, Stilicon người Vandal (+408) tướng của Honorius. Các hoàng đế đã sử dụng đắc lực đoàn quân này trong các vụ tranh chấp quyền hành.

Đàng khác, trong khi trung ương bận tâm duy trì ngôi báu, thì các địa phương tìm cách ly khai. Lý do thúc đẩy hành động này hẳn không gì khác là sự khát vọng độc lập, thống trị…, nhưng cũng vì lý do tự vệ nữa. Quả thế, trước nạn xâm lăng của ngoại bang, trung ương nhiều khi làm ngơ không tiếp viện. Vì dưới mắt họ, thà để quân Man di chiếm các thị trấn rồi điều đình sau, hơn là cấp quân sĩ cho các thị trấn đó để chúng có dịp nổi loạn. [2]

Tình hình kinh tế và tài chánh bi đát không kém. Để đài thọ cho các kinh phí khổng lồ về hành chánh và quân sự, chính quyền đã đặt ra một kỹ thuật đánh thuế rất tinh xảo, trong khi mức sản xuất kém dần. Dân đô thị lo ăn chơi, tắm suối nước nóng và đi hí trường; dân thôn quê bỏ việc đồng áng để tránh thuế quá nặng; giới công nghệ và thương mại cũng hành động tương tự, cả giới trung lưu và thượng lưu cũng muốn đào nghiệp. Nhà cầm quyền phải tổ chức các “phường” (caste) để thúc bách mọi công dân ở lại hàng ngũ của mình, nhưng vô hiệu.

Cũng nên xét đến yếu tố tâm lý và luân lý đã đưa đế quốc đến suy tàn. Những cuộc “thánh chiến” giữa công giáo, dị giáo và lạc giáo Arius đã làm sứt mẻ tình huynh đệ đồng bào rất nhiều, còn ảnh hưởng đến tiềm lực chiến đấu chống ngoại xâm. Niềm tin tưởng vào sự trường tồn của đế quốc cũng gây một tâm trạng ỷ lại, không lo đề phòng. Sự bất mãn của nhân dân đối với chính quyền vì sưu cao thuế nặng, đã khiến nhiều người hoan hỉ khi quân Chính phủ rút lui trước sức mạnh của quân “giải phóng”.

Trước một tòa lâu đài đồ sộ nhưng rạn nứt như vậy, thiết tưởng một sự đụng độ trung bình cũng đủ gây ra những đổ vỡ, xáo trộn khôn lường.

2. Tính chất và những giai đoạn của cuộc xâm lăng

Cuộc xâm lăng của Man dân không phải là một sự toa rập giữa các dân tộc nhược tiểu, để đồng loạt tấn công đế quốc. Người ta từng nghĩ đến một “phe Trục” của Man di, chính họ cũng đánh đuổi lẫn nhau, và mỗi sắc dân đều lo tự vệ để được yên thân. Các chiến lược gia Roma hiểu như vậy, nên đã khéo lợi dụng làm cho chúng tiêu diệt nhau. Sự thực, đã từ lâu Man dân muốn tìm đất để định cư và sinh sống, mà phần đất đế quốc Tây phương hấp dẫn hơn cả, vì đất mầu mỡ phì nhiêu, khí trời dịu mát, trung tâm Roma là nơi danh tiếng huy hoàng, đàng khác quân lực ở đây rất kém, biên thùy lại mênh mông khó canh phòng.

Người ta cũng từng hình dung những biển người di dộng, ào ào như thác nước, làm ngập lụt cả đế quốc. Quân số của “địch” không quá đông như vài sử gia Roma thổi phồng. Khi quân Vandal qua Phi châu (429), họ có 80.000 kể cả đàn bà con trẻ, số người cầm võ khí vào khoảng một phần tư. Quân Alaric, người đầu tiên xâm nhập Roma (410), lúc đông nhất là 40.000, kể cả hàng binh và nô lệ. Những giai đoạn chính của cuộc xâm lăng tóm tắt dưới đây.

Trước khi hoàng đế Theodosius băng hà (395), đã có những vụ xâm nhập lẻ tẻ để cướp bóc. Marcus – Aurelius (161-180) suốt đời phải tuần phòng dọc biên giới để chống xâm lăng. Về việc tử trận của Decius (251) và Valens (378) khi giao tranh với dân Goth, các sử gia ghi nhận là hai ông bất cẩn và khinh địch, hơn là tại thực lực của đối phương. Năm 274, Aurelianus phải mở cửa cho dân Goth vào miền Dacia (phía bắc sông Danube). Dầu sao, cho đến năm 16, bờ lũy ở biên giới vẫn còn bảo vệ được.

Trước khi băng hà, Theodosius chia đế quốc cho hai hoàng tử trẻ tuổi: Honorius (11 tuổi) bên Tây, và Arcadius (18 tuổi) bên Đông. Tại triều đình, các phe lo tranh giành ảnh hưởng, và Tây phương không bỏ mộng xâm lấn Đông phương. Đó là cơ hội để những cuộc tấn công của Man dân trở thành nặng nề hơn: những làn sóng xâm nhập đầu tiên đã diễn ra. Năm 405, quân Suevo dưới quyền chỉ huy của Radagasius (+ 406) chiếm thành Florencia, gây tan hoang khắp Bắc Ý và làm cả Tây phương kinh hoàng, trước khi bị Stilicon đánh tan.[4]

Đêm 31.12.406 là đêm lịch sử hãi hùng: chiến tuyến sông Rhin bị chọc thủng. Từ bờ biển Baltic và rừng German, sắc dân Franc, Burgundo, Suevo, Herulo, nhất là Vandal và Alano, tức những sắc dân hung bạo và thiện chiến nhất, vượt biên giới đế quốc tràn vào xứ Gallia, làm tan hoang cả một miền phì nhiêu phong phú. Quân Vandal, Suevo và Alano còn kéo nhau đâm thẳng xuống bán đảo Iberica tức Tây Ban Nha. Trong khi đó, quân Goth từ miền Đông kéo sang xứ Ý Đại Lợi. Ngày 23.8.410, Alaricus vua Goth tiến vào thành Roma sau ba lần công hãm, phá phách khắp nơi, trừ vương cung thánh đường hai thánh Pherô và Phaolô. Alaricus mất năm đó tại Cosenza. Ataulfus (410-415) lên thay, làm hòa với Honorius và với Placida em gái của Honorius, rồi đem quân sang miền Nam xứ Gallia (Aquitaine), lập nước Visigot trên bán đảo Iberica.

Bốn mươi năm sau, Attila vua Huno (432-453), sau khi đánh bại nhiều vua chúa Tây phương cũng như Đông phương, xâm nhập đánh phá nhiều đô thị xứ Gallia, nhưng đã tha cho thành Lutecia (Paris ngày nay) do sự can thiệp của thánh nữ Geneviève (422-502). Năm 451, Aetius, Meroves và Theodoricus hiệp lực đánh tan quân Huno lại Catalaunica (gần Châlon). Năm sau, Attila kéo quân xuống Ý Đại Lợi đe dọa “làm cỏ” thành Roma. Đức Thánh Cha Leô Cả phải đích thân can thiệp và yêu cầu ông rút lui, kinh thành muôn thuở mới thoát gót giầy sắt Huno. Cuộc viễn chinh của Attila tuy rầm rộ (quân số tới nửa triệu), nhưng không làm xáo trộn cục diện của đế quốc Roma như nhiều sắc dân khác, vì Attila đã vội chết ngay trong đêm (453) lễ thành hôn với Ildica người German. Cơ nghiệp của ông ở miền sông Danube bị cắt mảnh.[3]

Quân Vandal, sau một thời gian ở Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Gensericus (428-477) vượt xuống Phi châu năm 428. Một cuộc trả thù tàn sát người công giáo diễn ra rất dã man do người Vandal theo giáo phái Arius, được người Mauro và giáo phái Donatus hùa theo. Cuộc bách hại kéo dài cho tới khi nước Vandalia sụp đổ năm 543. Năm 455, Gensericus đem quân chiếm thành Roma, một lần nữa đế đô nhờ bàn tay can thiệp của đức Thánh Cha Leô Cả mới khỏi bị phá.

Sau đợt xâm lăng lần thứ nhất này, các sắc dân Man di dần dần định cư và xây dựng vương quốc, hoặc tự trị hoặc liên minh với đế quốc. Dân Breton ở miền Tây Bắc Gallia (Armorique); dân Franc chiếm Đông Bắc Gallia; Burgundo ở Helvetia; Visigot, Alano và Suevo ở miền Nam Gallia và bán đảo Iberica; Vandal trấn đóng Bắc Phi. Thực quyền hoàng đế Roma (Valentinianus 425-455 và Romulus Augustulus 455-476) chỉ còn ở Ý Đại lợi. Những cuộc hôn nhân, thương thuyết, làm cho người Man di gần gũi với đời sống chính trị của đế quốc nhiều hơn; ngôi hoàng đế Roma ngày càng gần tay họ.[4]

Kể từ năm 476, lịch sử bước sang một khúc rẽ khi Odoacrius, nguyên là một sĩ quan của Attila người Skyro, lãnh đạo quân Herulo nổi dậy chống vị nhiếp chính Oreste (cha của Augustulus) lật đổ Romulus Augustulus, và lên ngai báu với danh hiệu Rex Gentium (vua các dân tộc), nhưng vẫn duy trì tổ chức của đế quốc cũ. Vương quốc Herulo không được lâu dài, vì năm 489-490 Theodoricus vua Ostrogot (474-526) đem quân vào đất Ý, giết được Odoacrius (493) và cầm quyền trên 30 năm. Là người thông minh, khí phách, lại được những vị đại thần công giáo như Boecius, Cassiodorus trợ lực, Theodoricus cố gắng dung hòa hai đám người cũ (Roma), mới (Goth) trên bình diện văn hóa, luật pháp, hành chánh và cả tôn giáo. Công việc của ông thu được nhiều thành quả tốt đẹp, nhưng vì những mặc cảm của thuộc hạ, nhất là sau biện pháp thiển cận của hoàng đế Đông phương Justinus I (518-527) đòi loại trừ phái Arius khỏi cơ cấu chính quyền, khiến Theodoricus vào cuối đời đã nổi giận chống người công giáo: Boecius bị giết năm 524.

Sau khi Theodoricus mất, nước của ông bị phân tán, những ông vua kế nghiệp (Theodatus, Vitiges, Totila) quá yếu kém đã bị quân Byzantin của Justinianus I (527-565) tiêu diệt, và Ý Đại Lợi trở thành một tỉnh của đế quốc Đông phương (554). Năm 534, dân Vandal ở Phi châu phải đầu hàng Justinianus vì quá suy nhược sau khi mất những lãnh tụ tài ba. Họ còn tuyệt chủng, vì bị cô lập giữa đám người Roma không đội trời chung với Man dân. Bắc Phi, Ý Đại Lợi và một phần Tây Ban Nha thoát ách Man di. Nhưng chỉ được một thời gian 30 năm, vì khi Justinianus nhắm mắt, những sắc dân khác dữ tợn và lạc hậu hơn, tiến vào đất Ý, thì không còn một lực lượng nào chống lại được nữa. Văn minh Roma đến hồi diệt vong [5].

Thật vậy, ngay dưới triều Justinianus I, xứ Gallia từ năm 496 đã bị một sắc dân mới, hoàn toàn chưa biết văn minh Latinh, nắm giữ, đó là dân Franc do Clovis (481-511) lãnh đạo. Ông thôn tính tất cả phần đất của người Alaman, Burgundo, Visigot, lập nên triều đại Meroves thống trị Tây Âu cho đến năm 751. Năm 568, Justinus II nghe gièm pha cách chức tướng Narses đang trấn thủ Ý Đại Lợi. Narses tức giận mộ quân Lombardo (râu dài) để làm phản. Lập tức Alboin vua Lombardo đem quân tràn vào, Ý Đại Lợi vô chủ chống trả yếu ớt. Alboin lập quốc ở đây, lấy Pavia làm lãnh đô. Đạo Công giáo thiệt hại nặng nề: 90 tòa giám mục bị thiêu hủy.

Trước trung tuần thế kỷ V, đảo Britannia là đất cư ngụ của dân Breton, Scot và Celtic. Dân Breton bị Scot quấy phá, phải cầu cứu “anh em” Saxon. Hengist và Horsa đem quân Saxon từ lục địa sang đánh dân Scot, và ở lại lập nước Kent (455). Dân Saxon kéo nhau sang đông hơn và lập thêm ba nước Sussex, Wessex và Essex. Sang thế kỷ VI, đến lượt dân Anglo dưới sự lãnh đạo của Yda chiếm miền Trung, lập thêm ba nước nữa: Northumbria, Estanglia và Mercia (547). Bảy nước họp thành liên bang (heptarchie) dồn dân Breton sang miền Tây ít phì nhiêu.

Tây phương từ nay do những người “xa lạ” cầm quyền, đế quốc Roma Tây phương sụp đổ hoàn toàn; liên lạc Đông Tây cũng chấm dứt từ đó.

3. Tâm trạng Man dân đối với người Roma

Hình như có hai tâm trạng khá khác biệt nổi bật ở nơi các sắc dân Man di, khi lọt vào khung cảnh đời sống văn minh Roma: một nhóm tỏ ra bực tức, khinh bỉ, tham lam; nhóm khác bỡ ngỡ và thán phục. Dân Suevo của Radagasius và những sắc dân từ bờ sông Maine và Danube xâm nhập các đô thị cổ kính giầu có của đế quốc có bẩm tính tham lam, trộm cướp, ưa thích phá phách chém giết người.[6] Sắc dân Vandal cũng một tâm trạng giống vậy, tuy chừng mực hơn. [9] Rồi cũng một tâm trạng đó biểu lộ nơi quân Huno khi giầy xéo xứ Gallia, người Saxon khi xâm chiếm đảo Britannia, người Franc khi chiếm đóng xứ Rhenani và Belgica, người Alaman từng quật phá cả mồ mả, sau cùng là dân Lombardo và Slavo. [7]

Tuy nhiên, có những dân thường xuyên bang giao với đế quốc, đó là sắc dân Goth. Mặc dầu bẩm sinh vô kỷ luật và hiếu chiến, họ cũng ra chiều đứng đắn, nghiêm trang khi được khoác trên mình một vinh dự. Các lãnh tụ của họ rất ham chức tước trong quân giai; họ dễ dàng tin theo tôn giáo (bè Arius) của chủ, nhiều đô thị như Roma, Ravenna, Constantinopoli đối với họ như những thành thánh. Do đấy, người ta không lạ khi thấy Athanaricus (+ 381), vua Goth, lấy làm vinh dự được sống dưỡng già tại triều đình Theodosius I. Tiếc một điều là dân Goth cũng tự kiêu, ích kỷ, tìm tư lợi và sự an toàn cho mình như các sắc dân khác. Hành động của Alaricus I cũng như Odoacrius cho ta thấy rõ điểm đó. Sử gia Orosius có nói đến đường lối chính trị của Ataulfus vua Goth. Ông này có hoài bão đem Đế chính chủ nghĩa Goth thay thế cho đế chính Roma, nhưng thất bại vì tính tình hiếu chiến của đồng bào ông, nên ông lại mơ ước một chính trị dung hòa, trong đó người Goth sẽ lợi dụng các truyền thống của văn minh Roma.[11] Đó cũng là sự mơ ước của Theodoricus I.

Trong khi quân Vandal tỏ ra hết sức kiêu căng và dã man đối với người chiến bại,[8] như ở Phi châu họ dùng thổ dân Mauro vào chính sách diệt chủng Roma, thì các vua Goth lại tỏ ra khôn ngoan sáng suốt về giá trị văn minh Roma, biết cảm phục pháp luật, biết sử dụng người Roma tài giỏi.[13] Theodoricus không bao giờ có thái độ của kẻ chiến thắng, ông luôn tin mình là một ông vua hợp hiến. Các ông vua này đều thừa hiểu muốn có sức mạnh, cần phải sống đoàn kết và hòa đồng Roma với Goth. Nhưng Roma khinh bỉ và căm thù Man di, trong khi người Goth vẫn giữ tập tục riêng, ngôn ngữ German, giáo thuyết Arius, và cho đấy là những dấu chỉ của kẻ chiến thắng. Bởi đó, thường xảy ra những vụ dấy loạn mỗi khi một hoàng hậu có tinh thần cởi mở (như Amalasonte, con gái của Theodoricus, hoàng hậu của Theodotus; Brunehaute, hoàng hậu của Sigebert), muốn cho con mình theo học văn hóa Latinh.

Sự cố chấp của hai dân tộc nhất định không chịu hòa đồng để sống chung với nhau, là cả vấn đề của thời đại Man di này. Vấn đề không thể giải quyết, nếu sau cùng việc hôn nhân và uy tín của đạo Công giáo không dẹp đi được sự tự tôn mặc cảm về chủng tộc. Bởi vì người Goth mặc dầu rất kiêu hãnh về dòng máu thuần khiết và anh hùng của họ, họ vẫn đòi bất cứ bằng giá nào phải được kết hôn với những gia đình quí tộc Roma. Ataulfus kết duyên với Galla Placida, em gái của Honorius, và tổ chức lễ cưới rất trọng thể tại Narbonne (416), là một tích điển hình. Đến sau, con của Gensericus tức Hunericus vua Vandal (+ 484) kết hôn với công chúa của Valentinianus III. Cả Attila cũng đòi kết duyên với Julia Honoria, em gái của Valentinianus III. Về phía hàng quí tộc Roma cũng có sự mong ước tương tự. Những vụ kết hôn này, cho dầu đôi khi có sự lường gạt nhau đi nữa, vẫn là cơ hội tốt để hai chủng tộc xích lại gần nhau về tâm trạng cũng như về tinh thần, gây ảnh hưởng trong ngành giáo dục thế hệ trẻ và dọn đường cho việc theo đạo Công giáo sau này.

II – THÁI ĐỘ CỦA GIÁO HỘI ĐỐI VỚI MAN DÂN

1. Người Roma nghĩ gì về Man dân

Người Roma phải chăng đã cảm nghĩ rằng đây là một cuộc chiến tranh bi thảm, một mất một còn, giữa hai chủng tộc không thể đội trời chung? Phải chăng người Roma tất cả đều ngao ngán đến kinh tởm, khi phải tiếp xúc với Man di? Phải chăng họ giận điên lên khi phải mang ách thống trị của những kẻ chiến thắng “đáng ghét” này ?[14] Có một số sách vở để lại, khiến người ta nghĩ như thế. Prudentius, người Tây Ban Nha, coi Man di không hơn con vật; Sidonius Apollinarius giám mục thành Auvergne, dùng những danh từ kinh tởm khi diễn tả sự ăn uống no say của các kẻ ngồi ăn cùng bàn mà ông buộc lòng phải tiếp. Đứng trước sự tấn công ồ ạt của kẻ xâm lăng, người ta nghe rõ tiếng hô hào của thánh Ambroxiô, như muốn động viên cả đế quốc và Nước Trời, rồi những tiếng ta thán não nùng của thánh Gieronimô, nói lên sự bất lực một cách thảm bại trước một tai ương vô cùng khủng khiếp. [15] Nhiều nhà hùng biện, nhiều thi sĩ, nhiều vật kỷ niệm (huy chương, bi ký) đã không quên diễn tả người man di như những kẻ thù xấu xa cần phải tiêu diệt. Một văn hào như Orosius cũng còn tỏ ra thích thú, khi nói đến vụ Arbogast chọc tiết 10.000 quân Goth. [16]

Có điều người ta nhận thấy những lời ta thán đó, nhiều hay ít, hoảng hốt hay bình tĩnh, là tùy tâm trạng và cũng tùy ở nơi cư ngụ của mỗi tác giả. Khi thành Roma bị đánh phá, thánh Âutinh ở Phi châu đã không cảm kích mãnh liệt như thánh Gieronimô, ngài suy nghĩ bình tĩnh về sự sụp đổ của đế quốc Roma. Nhưng vào năm cuối cùng của đời thánh nhân (430), khi những đoàn kỵ mã Vandal giầy xéo đất Phi Châu và nhất là khi thành Hippone của ngài chịu tàn sát ghê rợn, thì vị chủ chăn này mới cảm kích lo Âu và đau buồn không kém thánh Gieronimô khi khóc than thành Roma bị phá.[17]

Chiến tranh là vậy. Nhưng có phải vì nhũng nhiễu loạn và tàn phá đến mức độ khủng khiếp ấy, mà người ta không còn biết nhận xét nữa không ? Người ta có thể lẫn lộn Radagasius với Ataulfus, hoặc Theodoricus với Attila được không? Phải chăng trong mọi trường hợp, Man dân trước mắt người Roma chỉ là những kẻ thù không đội trời chung, và chỉ là những bọn ức hiếp đáng ghét bỏ ? Không ai quên được tấm lòng quảng đại và ưu ái của hoàng đế Theodosius I đối với các binh sĩ Man di trong quân đội ông; và ở đây cũng nên nhắc lại hình ảnh của Paulin thành Pella. Là người xứ Aquitaine thuộc hàng quí tộc, con cháu của các nhà hùng biện và thi sĩ, Paulin rất am hiểu giá trị văn minh Roma. Là người phải chịu nhiều đau khổ vì cảnh nhà tan cửa mất, nhưng nhờ có đức tính hiền hòa và nhẫn nại, ông đã tìm cách thích ứng với tình thế mới. Không gì làm ông oán hận hay xa cách người Goth. Ông tiếp xúc thân mật với họ, ông ca tụng đức tính vô tư, lòng hào hiệp của họ đối với ông.[18] Còn nhiều sự kiện, nhiều tích truyện khác đáng ngạc nhiên hơn thế nữa. Văn hào Salvianus trong thời gian cư ngụ tại Marseille, đã viết nhiều bài ca tụng đức tính của người Man di.

Tuy nhiên, thánh Ambroxiô cũng có lý khi ngài kết án những linh mục và giáo dân trong những tỉnh bị chiếm đóng, đã bỏ y phục Roma và phục sức theo lối Goth. Hoàng đế Theodosius I phải ban hành một đạo luật khoan hồng đối với những người dân trong xứ Britania liên kết với “quân xâm lăng” Anglo-saxon. Sự thực là tinh thần quốc gia dân tộc, nếu còn mạnh ở nơi một số người có lương tâm Kitô giáo hoặc Thần giáo (thánh Ambroxiô, Rutilius Namantianus, Claudianus), thì cũng đã bắt đầu giảm dần tại những miền bị đe dọa hoặc, đã về tay “địch quân” rồi.

Chúng tôi ghi lại đây sự nhận xét của thánh Gieronimô khi nói về dân chúng miền Pannonia như sau: “Đừng kể một số người già cả còn thì tất cả những ai dưới thời lưu đày hoặc chiếm đóng, đều không tỏ ra hối tiếc sự tự do mà họ không hề biết đến” (Ep 123,17). Orosius một sử gia nổi tiếng khách quan. viết: “Có nhiều người Roma thà được sống nghèo khổ nhưng độc lập với Man di, hơn là chịu sưu cao thuế nặng trong xã hội Roma”.[19] Salvianus còn viết rõ ràng hơn nữa: “Dân nghèo đầy thất vọng chỉ mong chờ kẻ thù đến, họ cầu xin Thiên Chúa sai Man di đến với họ”.[20]

Cũng nên biết rằng người Roma thường mặc cảm sợ sệt hơn là oán ghét Man di. Tất cả đều phải chịu đựng những cuộc tàn sát, cướp phá, lưu đày. Giới trí thức và hàng quí tộc khổ nhục nhiều hơn vì những tư cách quê mùa, thiếu giáo dục của những “ông chủ mới” không ai muốn tiếp nhận. Nhưng giai cấp trung lưu và hạ lưu lại không cảm kích vì sự cách biệt về phong tục và ngôn ngữ đến như thế. Tác giả cuốn Kêu gọi các Dân tộc (De vocatione omnium gentium) đã tỏ ra bình tĩnh, khi diễn tả những cuộc nhiễu loạn đang từ từ đi đến:

 “Trong thời bình, bao kẻ đã giãn việc chịu phép Rửa tội, thì nay sự sợ hãi thúc bách họ đi tìm nước tái sinh … Điều mà lời khuyên răn không thể đạt được ở nơi những tâm hồn ươn lười nguội lạnh, thì sự đe dọa của chiến tranh và tai biến dã làm được. Những người con của Giáo hội, tù nhân của kẻ xâm lăng, dã thuyết phục được các lãnh tụ của họ theo Phúc âm Chúa Kitô; và họ trở thành những thày dạy đức tin cho các kẻ mà họ phải làm tôi tớ vì công lệ của chiến tranh. Nhiều người Man di khác, trong thời gian trước đây phục vụ đế quốc Roma, đã học được ở nơi chúng ta nhiều điều, nay trở về với xứ sở họ mang theo một nền giáo dục Kitô giáo. Vậy không gì có thể ngăn cản được hiệu quả của Ân sủng, bởi lẽ nhờ có ân sủng mà những xung đột đưa tới thống nhất, những tai họa biến thành linh dược và chính những nguy hiểm cũng như sợ hãi thúc đẩy Giáo hội trên đường tiến bộ”. [21]

2. Sự can thiệp của hàng Giáo phẩm

Giờ ra tay can thiệp của Giáo hội đã điểm. Trong các cuộc xâm lăng, quân Man di đi tới đâu đều coi tất cả những gì có bóng dáng Roma là thù địch, không phân biệt tôn giáo hay chính trị, chúng đốt phá đô thị, làng mạc, thánh đường, tu viện, càn quét dân lành, khiến mọi người chỉ biết bỏ chạy, cam chịu số phận. Hàng giáo sĩ cũng phải chịu chung số phận: tù đày hoặc làm tôi. [22] Các vị tỏ ra bất lực trước cảnh thiêu hủy thánh đường, cướp phá tài sản Giáo hội, cùng những cách đối xử tàn tệ, dã man đối với chức bậc trong Hội thánh. Việc phượng tự phải ngưng, trật tự không còn nữa. Đó là tình trạng đầu thế kỷ V tại miền Bắc Gallia và xứ Rhenani, cũng như ở Britannia, Tây Ban Nha và Phi châu, rồi ở Illyria và Ý Đại Lợi.

Trước cảnh xáo trộn bất ngờ, phản ứng của hàng giám mục tất nhiên là khác nhau. Đọc lại bút tích của nhiều đấng thánh, như thánh Gieronimô, thánh Ambroxiô…, người ta thấy có những lời than tiếc, trách móc, trước những tàn phá khiến bao người vô tội bị giết, bao giáo sĩ phải tù đày, bao thánh đường bị triệt hạ hay bị tục hóa. Lòng ái quốc mãnh liệt lắm lúc thúc đẩy các ngài dùng những danh từ thậm tệ để chỉ đám người man rợ. Thánh Gieronimô gọi họ là “dã thú”. Thánh Ambroxiô cho họ là những quân tham lam và nhục dục, chứ không có tâm tình của con người. Tuy nhiên, chúng ta thấy có nhiều vị giám mục khác thực tế hơn. Với tư cách chủ chăn, các ngài tìm hết cách bảo vệ thành trì, hoặc bằng điều đình, hoặc bằng quân sự.

Thánh Germanô thành Auxerre (+ 448), bấy giờ đã gần 70 tuổi, trên đường truyền giáo từ Britannia trở về, vừa bước chân lên đất quê hương đã được tin đồng bào miền Tây Gallia lọt vào tay phá hoại của quân Alano. Thánh nhân liền đích thân giáp mặt viên lãnh tụ ngài yêu cầu, ngăm đe…, và kết quả quân sĩ Alano bằng lòng rút lui.[23] Cũng trong hoàn cảnh tương tự, năm 452 thánh Giáo hoàng Leô liều mạng đi tìm Attila trên bờ sông Mincio để điều đình, và Attila đã chịu triệt thoát, để lại những cái liếc nhìn kinh thành Roma hoa lệ giầu sang một cách thèm thuồng. Ba năm sau, cũng trường hợp ấy thánh nhân ra đón và điều đình với Gensericus vua Vandal tại cửa thành.[24]

Những hành động can đảm anh hùng như thế cần phải có nhẫn nại và hy sinh. Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng các giám mục đi gặp các kẻ chiến thắng chỉ là để xin sự khoan hồng hay đầu hàng. Các ngài còn đóng vai trò lãnh tụ. Là những người bảo vệ các đô thị theo đúng nghĩa, các ngài lo việc tiếp viện, chỉ huy công cuộc phòng thủ, đề phòng hỗn loạn, lên án các vụ khủng bố. Trong thời xâm lăng lần thứ nhất, khi tất cả các đô thị lớn của miền Nam Gallia trở thành đống tro tàn do những bàn tay dã man của Man di, thì thành Toulouse lại thoát được tai ương chung do sự khéo léo của thánh Euxuper, giám mục thành đó. [25] Với một lòng dũng cảm không kém, thánh Lupô dưới thời Altila, cũng đã tỏ ra là vị cứu tinh của thành Troyes. Hành động của thánh Aignan có lẽ quyết liệt hơn cả, khi thành Orléans bị quân Huno bổ vây, thánh nhân đã cầm cự cho tới khi tướng Aetius kịp đem quân Roma tới cứu viện.[26]

Đó là vai trò của các giám mục nổi tiếng trong giai đoạn nhiễu loạn này. Với khả năng sẵn có, các ông nắm vững được quần chúng, khuyến khích và an ủi họ, cứu giúp dân vô tội. Các ngài còn làm cho những người man rợ tàn bạo nhất đón nhận quyền uy của Kitô giáo và thiên chức cao trọng của bậc linh mục. Hàng ngày các vị phải tốn nhiều công để chặn lại những khốn khổ sập đến, và làm giảm đi những khốn khổ đang có. Thánh đan viện phụ Severin (+ 507) suốt đời đã đóng vai trò ấy. Làm tông đồ xứ Noriea, thánh Severin trong 30 năm lo bảo vệ dân chúng sống trong vùng từ Salzach đến rặng Alpes. Xứ Norica bấy giờ bị quân Ruges chiếm đóng, hoàng hậu là một tín đồ giáo phái Arius. Nhưng thánh nhân luôn bênh vực quyền lợi của dân công giáo, nâng đỡ thân phận họ, đòi các ông hoàng trong xứ phải tôn trọng.[27]

Khi tình thế lắng dịu, các giám mục miền Tây Gallia còn phải lo đến việc hồi hương, hoặc trao đổi tù binh giữa người Burgundo và Visigot. Việc chuộc lại các kẻ bị bắt làm tôi sẽ là một trong những công cuộc lớn lao của Kitô giáo thời đó. Sự phục hồi cho họ các quyền lợi gia đình hoặc tôn giáo, cũng như sự nâng đỡ họ về vật chất, đều là những mối lo Âu của hai thánh Giáo hoàng Leô và Gregori.[28]

Sự việc đã rồi ! Người Man di dầu sao đã trở thành những “chủ nhân ông”! Sau những phút tiếc xót Roma huy hoàng tráng lệ, người ta đành để Roma sa đọa và mê tín được tống táng luôn trong dịp này. Hội thánh nghĩ tới cuộc “chinh phục” đám người chiến thắng, mà Chúa Quan phòng gởi đến.

Còn Tiếp


[1] F. Mourtet: op. cit., Q. III, tr 130-131.

[2] Xem F. Mourret: op. cit., Q. II, tr 387-389 [4] Thánh Âutinh: De Civiltate Dei, V, 22.

[3] Xem F. Mourret : op. cit., Q. II, tr 483-484.

[4] Xem Lot, Pfister và Ganhof: Hist. du moyen âge, t. I, trong Histoire générale (Glotz), Paris 1928 – L. Halphen: Les Barbares, Paris 1930.

[5] Xem F. Martroye: L’Occident à l’époque byzantine: Goths et Vandales, Paris 1903.

[6] Orosius: Hist. VII, 37: “Không thích danh vọng và chiến lợi phẩm cho bằng chém giết” (Non tantum gloriam aut praedam quam inexsaturabili crudelitate ipsam caedem amaret in caede). [9] Prosper : Chronic. 455.

[7] Về người Saxon, xem Gildas: De excidia Britann – Về người Franc, xem F. Loth: Invasions Germaniques, tr 190 – Về dân Alaman, xem Eugippius: Vie de Saint Séverin c. 27 và 40.

[8]Ta đã quyết định tiêu diệt tên tuổi và nòi giống chúng bay, mà chúng bay còn dám mở miệng xin sự gì nữa !”. Câu nói của Gensericus trả lời người Roma trong Victor de Vite: Hist. persec afric. I, 5. Gensericus còn đe dọa những linh mục nào xin được ở lại Phi châu.