LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 8, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

3. Công cuộc truyền giáo ở Anh Cát Lợi và Ái Nhĩ Lan

Theo Tertullianus thì Phúc âm được rao giảng tại Britannia từ thế kỷ II. Trong công đồng Arles (314) và công đồng Rimini (359) đã có mặt nhiều giám mục Breton. Khi dân Saxon và Anglo tràn sang Britannia, thì những người công giáo Breton rút sang miền Cornubia (miền Đông) và Armorique (bên Gallia). Tại những nơi này, họ lập thành cộng đoàn riêng không liên lạc với “bọn xâm lăng” cho tới đầu thế kỷ VII. Dân công giáo Breton không lo truyền giáo cho người Anglo-Saxon. Công việc này chỉ được thực hiện dưới thời thánh Gregori Cả (590-604).

Vừa lên ngôi Giáo hoàng, thánh Gregori đã tiếp sứ thần từ Anh Cát Lợi (Britannia) qua, trình bày việc dân Anglo-saxon muốn theo đạo Công giáo. Phái đoàn này có lẽ do hoàng hậu công giáo Bertha, cháu vua Clovis, vợ vua Ethelbert xứ Kent. Việc đầu tiên đức Gregori Cả đặt ra, là đào tạo ngay tại Roma trong các đan viện những thanh niên AngloSaxon bị bắt làm nô lệ ở Marseille nay được trả tự do, để họ trở về giảng đạo cho quê hương. Nhưng ý định không thành, nên mùa xuân năm 596, đức Thánh Cha chỉ định thánh Âutinh (= 605) cùng với 40 đan sĩ qua Anh Cát Lợi. Ban đầu, Âutinh và các bạn nghe nói về những khó khăn và nguy hiểm của cuộc hành trình nên sợ hãi, phải chịu bỏ dở công việc, trở về Ý Đại Lợi, khi vừa bước chân lên miền Nam Pháp quốc. Nhưng đức Thánh Cha an ủi, khuyến khích, và đặt thánh Âutinh làm đan viện phụ. Âutinh và các đan sĩ lại lên đường, khi tới miền Bắc nước Pháp được thêm một số linh mục nhập đoàn. Lễ Phục sinh năm 597, thánh Âutinh và đồng bạn tới đảo Thanet, gần thành Ramsgate. Tại đây, đoàn truyền giáo được vua Ethelbert tiếp đón tử tế và ban quyền giảng đạo trong nước.[36]

Trước khi đáp tàu qua Anh Cát Lợi, thánh Âutinh đã được tấn phong giám mục, nên khi tới nơi, ngài khởi sự ngay việc rao giảng Tin Mừng cho dân Anglo-Saxon trong xứ Kent, và lập tòa giám mục tại kinh thành Canterbury. Việc truyền giáo đem lại nhiều kết quả mỹ mãn: Ngày áp lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống (13 tháng 6) năm 597, vua Ethelbert chịu phép Rửa cùng với 18.000 người. Nghe tin ấy, đức Thánh Cha hết sức vui mừng, gởi thêm nhiều thừa sai, cùng ban nhiều chỉ thị rất khôn ngoan. Sau đó ngài thiết lập hàng giáo phẩm Anglo-Saxon, với hai tòa tổng giám mục Canterbury và Eboraci (York ngày nay), và 12 tòa giám mục dưới quyền một tổng giám mục.

Các chỉ thị của thánh Gregori Cả gởi cho thánh Âutinh năm 601 về cách đối xử với dân AngloSaxon, có giá trị chung cho việc truyền giáo ở khắp nơi, nghĩa là phải hành động từ từ và khôn ngoan, thích nghi với các phong tục địa phương, đưa họ tới sự hiểu biết đời sống công giáo. Ngài viết: “Không nên phá các chùa chiền; chỉ cần đập vỡ những ngẫu tượng trong đó. Hãy rảy nước thánh vào các nơi ấy, hãy xây bàn thờ và đặt xương thánh lên trên. Nếu là ngôi nhà kiên cố, chỉ cần chuyển việc thờ các Thần sang việc phượng tự Thiên Chúa. Người dân… sẽ dễ dàng họp tại nơi mà họ đã quen lui tới”.[37]

Từ xứ Kent, đạo Công giáo tràn sang các xứ Anglo-Saxon khác, nhất là Essex. Năm 604, thánh Âutinh, tổng giám mục Canterbury, thiết lập thêm hai địa phận London và Forrense, cùng đặt 2 giám mục Mellito và Just cho hai nơi đó. Thánh Mellito khuyên được nhà vua theo đạo, cùng rửa tội rất nhiều người. Thánh Paulin, tổng giám mục Eboraci, nhận sứ mạng cảm hóa dân xứ Northumbria, năm 627 đã rửa tội cho vua Edwin (617-633). Thánh Felix truyền giáo cho nước Estanglia và thánh Birin nước Wessex; cả hai nước theo đạo hết: Wessex năm 634, Estanglia năm 658.

Công cuộc truyền giáo gặp khó khăn hơn cả trong xứ Mercia và Sussex. Mercia kết nạp được một khối dân Breton theo Thần giao sống cách biệt và thù địch. Nhưng rồi tình thế thay đổi, thượng bán thế kỷ VII hai cha con Oswald và Oswy hạ được hai vua Penda và Peada; công cuộc truyền giáo được trao cho các tu sĩ đan viện Lindisfarn từ Ái Nhĩ Lan sang, trong đó có thánh Aidan (+ 651). Đạo Công giáo ở Mercia trở nên thịnh vượng từ năm 655. Trong khi đó, dân Saxon ở Sussex vẫn chưa chịu nghe theo Tin Mừng. Việc truyền giáo ở đây bằng cách thu phục nhân tâm một cách ôn hòa và khéo léo, bấy giờ được đặt dưới sự bảo trợ của các vua Northumbria, là công cuộc của thánh Aidan và thánh Wilfrid. Thánh Wilfrid (+ 709) rửa tội cho nhà Vua, và dân Sussex ồ ạt theo đạo trong những năm từ 680 đến 685. [1]

Như vậy, sau một thế kỷ rao giảng Tin Mừng, hầu hết dân Anglo-Saxon trở thành công giáo. Hơn thế nữa, nhiều đan viện được thiết lập như Malmesbury, Wearmouth, Yarrow, Ripon, làm nơi đào tạo những nhà truyền giáo cho Trung Âu và Đông Âu sau này.

Dân Scot (Celtic) trên đảo Ái Nhĩ lan được nghe Phúc âm từ thế kỷ IV do người Breton hoặc người Gaulois quen đi lại buôn bán ở đây. Ái Nhĩ Lan (Eireland) năm 431 được đức Thánh Cha Celestin I sai thánh Palladi sang truyền giáo, sau khi truyền chức giám mục cho thánh nhân tại Roma. Nhưng giáo dân lúc ấy ít và cuộc đời tông đồ của thánh Palladi chỉ vỏn vẹn có một năm, nên kết quả không là bao. Vì thế thánh Patriciô mới thật là vị tông đồ của xứ Ái Nhĩ Lan. [2]

Thánh Patriciô sinh năm 385 tại Killpatrick gần Dumbarton, xứ Tô Cách Lan (Scotland). Hồi 16 tuổi, Patriciô bị bọn cướp bắt và dẫn qua Ái Nhĩ Lan cùng với nhiều người khác, làm nô lệ và chăn cừu bò; trong thời gian này Patriciô theo đạo Công giáo. Năm 407, thánh nhân trốn sang xứ Gallia ở lại đây lâu năm, chăm lo học hành và cầu nguyện tại đan viện Lérins. Có lẽ cuộc hành tinh năm 429 sang Britannia, đã làm ngài nghĩ tới việc rao giảng Phúc âm cho dân Scot. Để dọn đường truyền giáo, thánh giám mục Germanô thành Auxerre đã truyền các chức và tấn phong giám mục cho Patriciô.

Khi đức cha Palladi qua đời (431), thánh Patriciô đến miền Bắc Ái Nhĩ Lan cùng với mấy đồng bạn hồi năm 432, giảng đạo cho những tù trưởng các bộ lạc, vì nếu họ theo đạo sẽ lôi cuốn tất cả. Thánh nhân dùng tài hùng biện đối thoại với các lãnh tụ, tranh luận với các thày bói toán, phù thủy, còn tỏ ra rất khôn khéo trong việc thu phục hàng trí thức (filid, thi sĩ), tức những người có nhiều uy tín và ảnh hưởng trong nước. Vừa được một số người theo đạo, thánh nhân nghĩ ngay việc mua đất xây thánh đường, và phong chức cho một bạn đồng hành để coi sóc giáo đoàn bé nhỏ đó. Cuốn Tổng yếu Giáo lý (Sommaire de la doctrine chrétienne) do ngài biên soạn, được dùng vào việc dạy các tân tòng; ngài còn cổ võ ơn thiên triệu giáo sĩ và tu sĩ.

Thánh Patriciô là một tông đồ gương mẫu, trong trắng, khiêm tốn, đầy nghị lực, nhưng cũng rất mềm dẻo. Ngài ưa dùng phương pháp khuyến dụ để cảm hóa các tâm hồn, hơn là gây xáo trộn các tập tục địa phương.[3] Thánh nhân qua đời năm 461, khi đã thiết lập tòa giám mục Armagh, sau trở thành tòa tổng giám mục xứ Ái Nhĩ Lan. Bấy giờ dân Scot tuy chưa theo Công giáo hết, nhưng Phúc âm đã được rao giảng khắp nước, nhất là ở các tỉnh Leinster, Ulster, Meath, Connaught. Dân Scot, tức Ái Nhĩ Lan ngày nay, tôn kính thánh Patriciô như vị đại tông đồ và anh hùng đất nước. Các môn đệ của thánh nhân như thánh Benignô, Finnian, Brendan, Enda, Kevin, Comgall đều theo đuổi công việc của thày, và tổ chức Giáo hội Ái song song với các tổ chức xã hội.

Khi ra mắt trong lịch sử thế kỷ VI, Giáo hội Ái Nhĩ Lan đã có một đặc điểm nổi bật, do vai trò quan trọng của bậc đan sĩ. Ảnh hưởng của thánh Patriciô được thấy rõ ở đây: tuyệt đối khinh chê mọi thú vui nhục dục, để chỉ chú tâm vào việc chiêm niệm, ưa thích hy sinh và cầu nguyện, tinh thần truyền giáo nơi xa lạ. Rất nhiều đan viện nổi tiếng được thiết lập trên hòn “đảo các thánh” này, như Bangor, Killarney, Clonard, Kildare, Iona, Lindisfam…, cung cấp hàng đoàn thừa sai nhiệt thành cho Âu châu đại lục, mà chúng tôi sẽ nói trong chương sau.

Chương Sáu

SỰ NGHIỆP CÁC DÒNG TU THỜI TRUNG CỔ (t.k. VII-XII)

Làn sóng Man di tuy làm tan vỡ các cơ cấu xã hội, chính trị các nước Tây phương, nhưng đã không phá nổi nền tảng kiên cố của Giáo hội. Tuy nhiên, nó cũng gây cho Hội thánh nhiều vết thương trầm trọng: một sự khủng hoảng ảnh hưởng tới cuộc sinh hoạt tinh thần người công giáo. Trước những phá phách một cách man rợ, nhiều đoàn thể xuất hiện tự hiến thân cho công cuộc giáo dục và cải hóa. Trước hết là để các dân đã có một nền văn minh cổ kim khỏi quên đi những chân lý mà họ đã hấp thụ và được hưởng cho tới ngày đó, sau là để ngăn cản những dân tộc mới được cảm hóa, đừng quay trở lại cuộc đời Man di xưa.

Người ta không bao giờ dám phủ nhận những công ơn của hàng giáo sĩ thời Mérovingien. Người ta cũng không thể quên được những hành động của các thánh giám mục trong việc chống lại một chế độ hà khắc và độc đoán, nghiêm khắc với một hàng giáo sĩ ít học và bê bối. Dầu vậy, vẫn còn cần phải có một công cuộc tham gia mạnh mẽ và lâu dài, nhất là không ràng buộc với thế tục, cho một xã hội yếu kém về phương diện văn hóa cũng như đạo đức. Công cuộc đó chính là của các dòng tu trong những thế kỷ đầu thời Trung cổ.[4]

I – BẬC TU HÀNH THỜI THƯỢNG CỔ

1. Các thày khổ tu Ai Cập (thế kỷ III-IV)

Bậc tu hành không phải mới có từ thời Trung cổ, nhưng đã xuất hiện từ khi Giáo hội được thành lập. Trong Tân ước, đã có những giáo dân ao ước sống trọn lành, cố gắng thực hiện bài giảng trên Núi của Chúa. Đời sống tu hành bắt nguồn từ Phúc âm, bởi lẽ mục đích của nó là bước theo cuộc đời Chúa Giêsu. Sách Tông đồ Công vụ thuật lại: “Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung, đất đai của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình… Đoàn lũ những kẻ tin chỉ có một lòng, một linh hồn. Không một người nào nói của gì là của riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung” (Cv II, 44-45 và IV, 32). Trước thời bách hại đạo, các nhà tu hành không những đã có mặt ở Ai Cập, mà còn ở nhiều nơi khác bên Đông phương, như Syria, Cappadocia. Khi cuộc bách hại bùng nổ, các vị bó buộc phải rời khỏi đô thị di tản vào sa mạc, hoặc lên miền sơn cước. Kể từ đấy bắt đầu xuất hiện những hình thức ẩn tu, khổ tu, biệt tu hoặc cộng tu. Và rồi, với giòng thời gian, đời tu trở thành một nếp sống vững chắc và nêu gương, được Giáo hội nhìn nhận và đặc biệt đề cao. Cuối thế kỷ III, đời sống đan tu ở Ai Cập thật phồn thịnh. Thánh Phaolô (234-341) và thánh Antôn (251-356) là những người tiên phong, thu hút được rất nhiều môn đệ, biến Thebaida thành một “thiên đàng Sa mạc”. Các đan sĩ tìm vào đó để tu thân luyện đức, mỗi người ở một lều riêng và chẳng lệ thuộc vào một thứ kỷ luật tập thể nào. Các đồ đệ của thánh Antôn ở Thebaida tuy làm việc chung, có tinh thần chung, nhưng vẫn sống trong những lều biệt lập và cũng không có một bộ luật thành văn, hay nói đúng hơn: chính thánh Antôn là hiện thân của lề luật, là tôn chỉ của các nhà tu hành.

Sang thế kỷ IV, thánh Pacomiô (200-346) mới thiết lập tại Tabennisi (Thebaida Thượng), một đan viện đầu tiên có nếp sống cộng đoàn. Với nếp sống này, các đan sĩ phải tuân theo một kỷ luật được quy định rõ rệt: lao tác tay chân, học Kinh Thánh, phục quyền chỉ đạo của một bề trên. Bộ luật này vì do một đấng thánh kém khả năng văn hóa viết, nên có nhiều đoạn lu mờ, nguy hiểm cần được sửa lại. Công việc đó, thánh Basiliô (329-379) đã đảm nhận. Thánh nhân đưa ra những tiêu chuẩn rõ rệt giúp thực hiện đức tuân phục, khiết tịnh và nghèo khó. Ngài quan niệm tu viện là một đại gia đình, trong đó mỗi phần tử phải mưu cầu công ích, chứ không hoạt động riêng lẻ.

Hạnh tích các nhà tu hành Ai Cập loan truyền khắp nơi. Đời sống đạo đức, khổ hạnh, kèm theo những việc hành xác rùng rợn, những phép lạ, những truyền kỳ người ta thêu dệt thêm, đã gây ảnh hưởng lạ lùng, một sức hấp dẫn phi thường. Có lẽ vì thế, vào cuối thế kỷ IV Ai Cập chứng kiến một cảnh tượng trái ngược, là sa mạc đông người hơn thành thị. Những vùng đất hoang vắng đều bị các thày tu chiếm đóng.[2]

Tưởng không nên bỏ qua yếu tố tâm lý và văn hóa của các tu sĩ thời đó. Phần lớn các đan sĩ vùng Tiểu Á và Ai Cập thế kỷ IV và V là những nông dân chất phác, khiêm tốn, học thức rất tầm thường, nhiều người còn chưa biết đọc biết viết. Tuy có đức tin và một lòng sốt sắng hăng nồng, nhưng vì trình độ văn hóa thấp kém, nền giáo lý của các đan sĩ nhiều khi không vượt quá trình độ sơ đẳng. Hơn nữa, vì ảnh hưởng khí hậu và tính tình, tâm lý các đan sĩ thường có vẻ thiếu quân bình. Cái gì cũng muốn đẩy cho đến mức tuyệt đối, cực đoan trong việc tìm chân lý, đua nhau phạt xác nhiều lúc đến ngông cuồng thức đêm, ngủ ngồi vài chục năm, sống trên cột suốt đời, như thánh Simeon Cột (+ 460) ở gần thành Antiokia.

Chính vì vậy, khi các bè rối mới xuất hiện ở Đông phương, người ta thấy từng đoàn thày tu vác dáo mác, gậy gộc quyết ăn thua với “quân rối đạo”.

Nhưng đến khi lạc giáo lọt vào trong tu viện rồi, thì các thày tu này cũng tỏ ra rất bướng bỉnh với những xác tín riêng của mình. Giữa lúc các đan viện ở Đông phương bị lạc giáo lũng đoạn, thì ngọn trào tu hành bắt đầu dâng cao ở Tây phương.[5]

2. Đời sống đan tu ở Tây phương (thế kỷ IV-VI)

Trung tuần thế kỷ VI, thánh Hilariô (315-367) sau thời gian tu luyện khổ hạnh ở Tiểu Á, đã trở về Tây phương mang theo sứ mạng cao cả là truyền bá lý tưởng tu trì cho trời Âu. Thánh nhân thiết lập đan viện Trèves, rồi đến thánh Eusebiô thành Vercellis. Đan viện Aquilea là nơi đào tạo những vị thánh như Greronimô, Chromacô. Ở Roma, thánh nữ Marcella quy tụ được một số chị em sống chung, khấn trinh khiết, chuyên cần cầu nguyện ngay giữa lòng thủ đô. Thánh nữ Victrix cũng thiết lập ở Rouen một “nữ tu hội “ (chorus virginum) và thu hút được nhiều chị em. Nói đến bậc nữ tu, người ta không thể quên thánh Ambroxiô (340-397) trong công cuộc phục hưng đời sống nữ tu hành. Người ta còn tìm thấy ở xứ Liguria cũng như ở nhiều hoang đảo trên biển Adriatic những vị ẩn tu biệt lập sống xa sinh hoạt, không tên tuổi, để dễ bề chiêm niệm và tu đức. Tất cả đều mô phỏng cuộc sống của các đan sĩ Tiểu Á và Ai Cập.

Cuối thế kỷ IV thánh Martin (316-397), môn đệ thánh Hilariô, thiết lập hai đan viện Ligugé (360) và Tours (373). Trong thời này, khắp xứ Gallia đầy dẫy tu viện. Tại Phi châu, tòa giám mục của thánh Âutinh (354-430) ở Hippone cũng được biến thánh một đan viện rồi các môn đệ của ngài đi thiết lập những tu viện ở Thagasta và Hadrumat.[6]

Sang thế kỷ V, khoảng năm 410 Cassianus lập tu viện Saint-Victor ở Marseille. Nhưng công việc lớn lao nhất của Cassianus là đưa ra một đường lối tu trì thích hợp với hoàn cảnh Tây phương hơn. Ông biết thanh lọc nhưng lập dị trong đời sống tu hành Ai Cập, để chi giữ lại phần tinh túy. Ông đề cao giá trị nhân đức vâng phục, nhưng không bao giờ chủ tâm bóp chết nhân vị. Ông khuyến cáo các tu sĩ rèn luyện ý chí vững mạnh để chống lại kiêu căng, biếng nhác và những khuynh hướng tội lỗi. Tiết độ, tuân phục, tỉnh thức, đó là những nét chính trong thuyết tu đức của Cassianus. Tác phẩm Những cuộc đàm thoạt (Conférences, 426-429) của ông được giới tu sĩ Tây phương dùng làm sách giáo khoa lâu năm.[7]

Cassianus đưa ra một đường lối tu đức; nhưng lý tưởng đời tu đâu có phải chỉ để “làm thánh” mà thôi, vì thế trong thời Man dân xâm lăng, người ta thấy xuất hiện ba “hình thức” tu trì, với những thiên chức khác nhau:

  1. Hình thức trí thức muốn biến đan viện thành một học viện, như đan viện Vivarium ở Calabrio do Cassiodorus thiết lập (540), nơi có một thư viện quan trọng bậc nhất vào cuối thời Trung cổ. Nhưng sáng kiến này không được hưởng ứng, vì lẽ thời ấy người ta chưa thưởng thức nổi cái thú đèn sách.[8]
  2. Hình thức đạo đức đặt việc “phượng tự Thiên Chúa” lên hàng đầu, và chuyên lo “tẩy luyện linh hồn”, dựa theo lề luật cao cả và khôn ngoan của thánh Biển Đức. Lối sống này cũng ở Ý vào tiền bán thế kỷ VI.[9]
  3. Hình thức chí nguyện với những đặc điểm cương yếu, là học hỏi Thánh Kinh, tuân phục và tiết độ. Lérins, một quần đảo nhỏ ở ngoài khơi xứ Provence (Pháp), là quê hương của lối tu hành này, đã có từ năm 410. Lérins bấy giờ được coi là trung tâm đào tạo những nhà thần học, giảng thuyết, những nhân vật lãnh đạo Giáo hội Gallo-Roman, như thánh Honoratô, thánh Cesariô, Faustus Riez. [8] Đây có lẽ là nơi, mà xưa kia các tu sĩ từ Anh Cát Lợi và Ái Nhĩ Lan đã tìm đến để tu nghiệp”.

3. Tinh thần lề luật thánh Biển Đức.

Suốt thế kỷ IV và V, nếp sống tu trì đã phổ biến rộng rãi ở Tây phương, nhưng còn trên đường thí nghiệm. Chưa có một bộ luật nào đáp ứng với điều kiện tâm lý, địa dư của người Tây phương. Công việc khó khăn này Thiên Chúa đã dành cho thánh Biển Đức Nurcia (480-547).

Thánh Biển Đức là một công dân thành Roma, từ nhỏ đã được hấp thụ một nền giáo dục hoàn bị. Chán cảnh xa hoa trụy lạc của kinh thành, lại thêm ảnh hưởng của bà chị là nữ thánh Scholastica, Biển Đức bỏ học trốn đến Eufid, rồi đi sâu vào rừng Subiaco. Tại đây đời sống thánh thiện của nhà lưu hành gây được nhiều ảnh hưởng lớn lao, số người tình nguyện xin làm môn đệ mỗi ngày thêm đông. Nhưng ít lâu sau, vì xích mích với vị linh mục sở tại, thày trò phải cuốn gói dắt nhau lên đỉnh núi Cassino (529). Chính nơi đây, thánh nhân ghi lại thành lề luật những gì, mà thày trò đã thể hiện trong cuộc sống. Nhưng cuốn lề luật đó chưa được người đời biết đến. Mãi đến đầu thế kỷ VII, thánh Giáo hoàng Gregori Cả (590- 604), sau khi được mục kích đời sống của một số đan sĩ từ núi Cassino


Còn Tiếp

[1] Bêđa. op. cit., II, 9-16; III, 17-24 – Aigrain, trong Histoire de L’Église (Fliche – Martin), Q. V, tr 285-289 và 301-307.

[2] Xem F. Kenney: The sources for the early History of Ireland, I, Columbia 1929 – L. Gougaud: Les Chrétiens celliques, Paris 1911.

[3] J.B. Bury: The life of St. Patrick, Lon don 1905.

[4] Sách tham khảo: G. Besse: Les moines d’Orient antérieurs au Concile de Chalcédoine – J. Brémond: Les Pères du Désert – F. Martinez: L’ascétisme chrétien, 1913 – U. Berlière: L’ordre monastique des origines au XXe siècle, 1924 – M. Viller La spiritualité des premiers siècles chrétiens, 1930 – Labriolle, trong Hist. de L’Église (Fliche – Martin) Q. III, tr 300-369. [2] J. Brémond: Les Père du Désert – Labriolle, trong Histoire de l Église (Fliche – Martin). Q.III, tr 300-369

[5] A.J. Festugière: Les moines d’Orient. Paris 1961, Q.III, tr 2339.

[6] Xem A.M. Jacquin: Histoire de l’Église, Q.I, tr 595-600.

[7] Xem bản dịch Pháp văn của Dom Pichery.

[8] M. Roger L’enseignement des Lettres classiques d’Ausonne à Alcuin, 1905, tr 175- 187.

[9] Xem Dom F. Cabrol Saint Benoit, 1933 (“Les Saints”)