LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – SỐ THÁNG 9, 2018

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP
Tiếp Theo

4. Cuộc bách hại ác liệt nhất dưới triều Dioclelianus, Galerius và Maximinus Daia (đầu thế kỷ IV)

Trong 40 năm tương đối thái bình, dân Kitô hữu tự do hội họp, số người theo đạo mỗi ngày thêm đông, nhất là ở Đông phương. Nhiều người nắm giữ địa vị cao cấp trong triều đình hay ở các tỉnh và có ảnh hưởng khá lớn; họ được công khai giữ đạo. Prisca, hoàng hậu của Diocletianus, Valeria công chúa của ông và là hoàng hậu của Galerius, cả hai có cảm tình với người Kitô hữu và ủng hộ đạo, người ta còn nói rằng Constancius bên Tây phương đã có ý định theo đạo. Những nghi thức tôn thờ bái lạy hoàng đế như một thần minh, do Diocletianus và Galerius chủ trương, người Kitô hữu nhất định chống đối. Lập trường vững chắc của Giáo hội và thái độ thẳng thắn của giáo dân, Diocletianus không phải là không biết. Nhưng ông không tin rằng Kitô hữu là một lực lượng làm cản trở nền thống nhất quốc gia hoặc gây chia rẽ. Tuy ông độc tài, nhưng không quá đa nghi như Domitianus, cũng không quá độc ác như Nero, ông lại càng không cuồng tín bảo vệ một thứ tôn giáo như Septimus-Severus. Vì thế, theo sử gia Lactantius, nếu không có Galerius thúc đẩy Diocletianus, thì cuộc bách hại đầu thế kỷ IV đã không xảy ra.

Galerius vốn là người thô bạo dữ tợn, tuy có bà vợ thiện cảm với Kitô giáo, nhưng bà mẹ ông là người rất mê tín và ghét đạo. Bị ảnh hưởng của mẹ, lại là người chuyên quyền khét tiếng, ông quyết không dung tha người Kitô hữu bất tuân lệnh ông. Một vài hoạt động khiêu khích và thiếu khôn ngoan của ít người giáo dân đã làm ông thêm tàn bạo. Một số sĩ quan theo chủ trương cứng rắn của phái Montanus, đã công khai từ chối những huy chương được trao tặng, chỉ vì có ảnh các thần linh. Cuộc bách hại mở đầu trong hàng ngũ quân đội thuộc quyền. Viện lẽ nâng cao tinh thần kỷ luật và ái quốc, năm 298 ông ra lệnh cho tất cả các quân nhân trong khu vực ông phải tuyên thệ trung thành nhân danh các thần linh. Nhiều quân nhân Kitô hữu phải đào ngũ, một số can đảm chống đối bị tử hình. Bên Tây phương, Maximianus cũng theo chính sách của Galerius. Thời này, ở Roma có sĩ quan cao cấp Sebastin bị bắn tên đầy mình và chịu trảm quyết. Ở miền Valais, tướng Mauritius cùng với Exuper và Candidus dẫn đầu cả đạo quân Thebain hiên ngang xưng đạo, để tất cả cùng chịu chết.

Nhưng cho đến lúc này, cuộc bách hại còn hạn hẹp trong hai khu vực của Maximianus và Galerius, và chỉ giới quân nhân bị bắt bớ. Galerius đã nhiều lần thúc giục Diocletianus ra chiếu chỉ cấm đạo toàn quốc. Nhưng vì là người không ưa đổ máu nên Diocletianus ngần ngại chưa muốn nghe, khiến

Galerius phải dùng đến mưu kế xảo quyệt. Năm 302, Galerius trình bày cho Diocletianus về con số đông đúc Kitô hữu rải rắc khắp nơi, với lối thờ tự chống lại các thần linh là mối đe dọa lớn. Ông còn nhờ đến tài ba của triết gia Hierclas, toàn quyền xứ Bithynia, làm hậu thuẫn. Ông này viết cuốn Sự thật gởi người Kitô hữu (Sermo veridicus ad Christianos) toàn những lời lẽ vu cáo ghê sợ. Thày cúng Tangis ở Antiokia cũng tiếp tay. Trong buổi lễ xem bói bằng ruột súc vật thấy không có gì cả, Tangis nói là vì người Kitô hữu có mặt đã làm dấu bùa thập giá cản trở phép của thần linh. Diocletianus lo sợ, bèn sai người đi hỏi thần Apollo ở Mileto. Galerius xếp đặt sẵn để thày sãi trả lời là Apollo tuyên sấm: “Có những người rải rác khắp mặt đất đã ngăn cấm ta không được tiên báo về tương lai”. Diocletianus hỏi thượng viện, họ cũng chủ trương cấm đạo. Thế là ngày 24.2.303, một chiếu chỉ được ban hành: cấm người Kitô hữu hội họp, triệt hạ các thánh đường, đốt Thánh Kinh, các công chức phải thề bỏ đạo; nhưng ông không cho phép đổ máu.

Galerius không hài lòng với cuộc bách hại ôn hòa này. Ông tìm cách biến nó thành bách hại đẫm máu và ác liệt nhất từ xưa đến nay, bằng cách âm mưu phóng hỏa một vài nơi trong đế đô Nicomedia. Diocletianus hoảng sợ, tưởng một cuộc phản loạn của Kitô giáo. Nhiều chiếu chỉ khác được công bố nhằm vào các tầng lớp trong Giáo hội theo đường lối của Decius, trừ chủ trương dụ dỗ bỏ đạo. Người Kitô hữu bị kết án ngay và bị giết tập thể từng 60 hay 100 người: hai anh em Cosmas và Đamian quê xứ Ả Rập được phúc tử đạo ở thời này (295). Bên Tây phương, Constantius Chlorus vì có cảm tình với Kitô giáo nên chỉ thi hành chiếu chỉ lấy lệ: triệt hạ một vài thánh đường. Nhưng trong khu vực thuộc Maximianus, cuộc bách hại ác liệt không kém bên Đông phương. Ở Roma, đức Thánh Cha Marcellin (296-304) phải hy sinh. Nhưng thời danh hơn cả là hai trinh nữ Agnes (303) ở Roma và Lucia (304) ở Syracusa.

Ngày 1.3.305, một biến cố quan trọng: Diocletianus và Maximianus thoái vị, để hai ông phụ tá Galerius và Constantius Chlorus lên ngôi hoàng đế thượng vị. Người ta cho là do áp lực của Galerius, nhưng hình như vì Diocletianus đã già yếu, chán chính trường, muốn được sống an nhàn tại cung điện Spalato. Từ đây, bên Tây phương dưới quyền Constantius Chlorus, rồi con ông là Constantinus, Giáo hội trở lại bình an. Nhưng ở Đông phương, nơi có Maximmus Daia được chọn làm phụ tá, cuộc bách hại trở thành dã man hơn; nhất là trong những vùng thuộc Maximinus Daia còn thêm tính cách bạo dâm. Nhiều trinh nữ phải lao đầu vào chỗ chết, để bảo vệ đức trinh khiết, như nữ thánh Pelagia mới 15 tuổi nhảy từ mái nhà cao xuống chết. Cũng thời kỳ này, người ta nhắc đến cuộc tử đạo của trinh nữ Catharina thành Alexandria (308).

Năm 308, thấy bên Tây phương có ba hoàng đế: Constatinus, Maximianus và Maxentius, Galerius cũng đặt thêm hoàng đế phụ tá Licinius. Sau đó, ông bị một thứ bệnh lở loét ghê tởm không thuốc nào chữa được. Nhận là bàn tay của Chúa bên Kitô giáo phạt, ông muốn hối cải để hy vọng được tha thứ và lành bệnh, bằng cách ra một chỉ dụ tha đạo ngày 30.4.311.[1] Hoàng đế phụ tá không thể làm trái ý, phải tha cho một số anh hùng xưng đạo còn đang bị giam giữ.

Cũng năm 311 Galerius chết, Maximinus Daia đàn áp Licinius để nắm trọn quyền, và mở lại cuộc bách hại dã man. Lần này không tìm cách tiêu diệt Giáo hội chỉ nguyên bằng sát hại giáo dân hoặc bắt đi các hầm mỏ, nhưng còn phát động một phong trào mạt sát và bôi nhọ Giáo hội, nhằm lung lạc tinh thần các tín hữu. Cuốn Pilatus Công vụ (Cv Pilati) của ông tung ra là vì mục đích ấy ông cũng không quên rằng đầu não của Giáo hội là hàng Giáo phẩm, vì thế ông hướng cuộc bách hại thời kỳ này vào việc truy nã các giám mục và linh mục. Nhiều vị đã được ghi tên trong sổ tử đạo: Methođiô giám mục thành Olympio, người đã phi bác Porphyr, Petrus tiến sĩ thành Alexandria, Sylyannus giám mục thành Emesa; Lucianus, nhà chú giải Thánh Kinh thành Antiokia. Trong khi đó Maximinus Daia nghiên cứu đường lối tổ chức của Giáo hội để thành lập một hàng tư tế trong các chùa miếu của triều đình.

Nhưng những cố gắng của Maximinus Daia bị ngưng lại vì ôn dịch và nạn đói xảy ra ở khu vực ông. Lòng bác ái hy sinh của Kitô giáo trong thời đói và ôn dịch này đã lấy được cảm tình của dân chúng ngoại đạo. Tất cả những tuyên truyền vu khống và bôi nhọ của nhà vua trở nên vô ích, và dân chúng cũng đã chán ghét những cảnh đổ máu tra tấn dã man đối với đoàn chiên hiền lành và bác ái của Chúa. Tuy nhiên, con người dữ tợn cuồng nhiệt đó vẫn chưa chịu đầu hàng cho tới khi Constantinus Cả đến, đem lại bình an cho toàn thể Giáo hội, và Maximinus Daia chết thảm hại (314).

III CỜ THÁNH GIÁ TRÊN ĐẾ QUỐC ROMA

  1. Sự can thiệp của Constantinus Cả (306-337) với chiếu chỉ Milan (313)

Năm 306 trước khi chết, hoàng đế thượng vị Constantius Chlorus đã trối Constantinus con ông cho quân đội, để họ tôn lên ngôi Augustus. Constantinus là một tướng giỏi, tầm thước cao lớn, nét mặt uy nghi, trí óc thông minh, tuy văn hóa kém vì ông gia nhập quân ngũ từ hồi 15 tuổi. Ông đã bị Galerius nhiều lần muốn thủ tiêu bằng cách cho đua sức với sư tử và ác thú, nhưng lần nào ông cũng thắng vẻ vang. Cũng năm 306 Maximianus trở lại chính trường với con là Maxentius, và đã liên kết với Constantinus để đương đầu với Galerius, con người đáng sợ cho cả ba. Maximianus gả công chúa Fausta cho Constantinus. Nhưng ít lâu sau, Maximianus âm mưu giết Constantinus. Nhờ cô vợ, Constantinus mới thoát chết; Maximianus tự vẫn (310).

Cái chết của Maximianus làm Maxentius thù ghét Constantinus, và tìm liên kết với Maximinus Daia bên Đông Phương, đang kình địch với Licinius là đồng minh của Constantinus. Một cuộc nội chiến chắc chắn sẽ xảy ra, mà kết quả không thể không ảnh hưởng tới nền hòa bình Giáo hội. Năm 312, sau khi củng cố các tiền tuyến đề phòng Man-dân, và thuận gã Constantia em gái mình cho Licinius, Constantinus đem 40.000 quân lính tinh nhuệ mở cuộc Nam tiến, xông vào đất địch có một quân số trên 120.000. Ông vượt qua núi Alpes, chiếm các thành Turin, Milan, Verona… gấp rút tiến xuống Roma. Tin tưởng ở điềm bói toán và muốn thắng vẻ vang, sáng sớm ngày 28.10.312 Maxentius dẫn đại quân ra ngoài thành nghênh chiến. Hai bên gặp nhau bên kia sông Milvio. Vì không thể đương đầu với đoàn quân rất thiện chiến miền Bắc gồm toàn quân Gaulois, German và Breton, quân của Maxentius hoảng sợ bỏ chạy. Cầu sập đổ, Maxentius rơi xuống sông Tiber và chết chìm với toán quân ô hợp. Ngày 2, Constantinus tiến quân vào kinh thành bỏ ngỏ, theo bóng cờ Thánh giá Labarum.[2]

Thắng Maxentius rồi, Constantinus tỏ ra rất thân thiện với Kitô giáo. Ông cho in trên đồng tiền của ông hai tự mẫu Hy Lạp c (khi) và r (rô) chồng lên nhau, để xưng hô danh Chúa Kitô. [3] Ông viết thư cho Maximinus Daia, yêu cầu chấm dứt cuộc bách hại đạo với lời lẽ đe dọa. Ông ra lệnh cho các nhà cầm quyền Phi châu phải trả lại các tài sản đã tịch thâu của Giáo hội, miễn thuế, miễn dịch cho các linh mục. Sau hết, ông quyết định cho các công chức, tòa án, thợ thuyền phải nghỉ ngày chúa nhật. Ở Roma, ông dành một ngân khoản lớn vào việc xây cất hoặc sửa chữa các cơ sở của Giáo hội, như thánh đường Gioan-Latran, Thánh Pherô trên đồi Vatican, Thánh Phao lô Ngoại thành, Thánh Laurensô, Thánh Agnes. Hoàng hậu Fausta cũng dâng cúng đức Thánh Cha Miltiađê (311-314) ngôi đền Latran để thiết lập Cung điện Giáo triều. Tuy nhiên, đối với dân ngoại đạo, Constantinus để họ theo các lễ nghi Thần giáo, và để mặc họ làm tượng, xây chùa kính thờ ông. Ông học đạo, song chưa theo đạo, và vẫn vào chùa Thần giáo. [4]

Đầu năm 313, Constantinus từ Roma đến Milan dự lễ cưới của Licinius với Constantia, được cử hành rất long trọng. Sau đó cả hai cùng ký chiếu chỉ Milan: chủ trương tự do tín ngưỡng; ra lệnh trả lại Giáo hội tất cả các cơ sở hội họp hay thờ tự và mọi tài sản khác. Triều đình sẽ bồi thường cho những người vì ngay tình đã mua các tài sản đó. [5] Ký xong, Licinius trở về Đông phương cất quân đánh Maximinus Daia và chiến thắng (314). Nắm trọn quyền bên Đông phương rồi, công việc đầu tiên của Licinius là chấm dứt cuộc bách hại và cho thi hành chiếu chỉ Milan, Giáo hội được công nhận và tự do tín ngưỡng được tôn trọng bên Đông phương cũng như ở Tây phương.

Từ năm 314, Licinius trở mặt, thù địch với Constantinus, khiến hai bên tìm đến giải pháp chiến tranh. Licinius bại trận phải nhường cho Constantinus bán đảo Balkan. Để trả thù, Licinius ngấm ngầm bách hại đạo. Dần dần ông gạt người Kitô hữu ra ngoài các cơ quan hành chánh và cấp chỉ huy quân đội. Viện cớ bảo vệ luân lý xã hội, ông cấm giáo dân nam nữ hội họp chung trong thánh đường. Thời bách hại này, người ta ghi tên 40 đấng tử đạo (320) ở Sebasta, xứ Armenia. Các binh sĩ có đạo trong quân đội hoàng gia cương quyết trung thành với vua trên Trời, sau nhiều cuộc tra tấn dã man tất cả bị ném xuống hố nước băng giá cho chết rét. Năm 323, vì một biến cố xảy ra ở biên giới, Constantinus quyết tiêu diệt Licinius. Bị thua ở Andrinopoli, Licinius đầu hàng, nhờ có Constantia bầu cử mới khỏi chết. Sáu tháng sau, Licinius lại bội phản, lần này ông bị án thắt cổ (324). Constantinus làm chủ cả đế quốc.

  1. Giáo hội vinh thắng và thái độ phục vụ của Constantinus Cả

Với chiếu chỉ Milan, Kitô giáo được nhìn nhận là một “tôn giáo hợp pháp” cũng như đạo Mithra hay các đạo Ai Cập khác. Nhưng trên thực tế, chiếu chỉ này còn nói nhiều hơn nữa. Đế quốc đã tự nhận sự nhầm lẫn của mình trong việc bách hại đạo, đồng thời chấp nhận đầu hàng sức mạnh tinh thần của Kitô giáo. Những phao đồn vu cáo hoặc gán tội cho người Kitô hữu vì không thờ các thần linh nên đế quốc không được các thần bảo vệ, nay đảo ngược lại và người ta tự hỏi, phải chăng vì đế quốc bách hại nên “Chúa bên Kitô giáo giận phạt đế quốc”, đã để cho gặp những tai ương như thế. Chiến thắng của Constantinus phải chăng đã minh chứng “Chúa bên Kitô giáo quyền thế hơn” các thần linh của đế quốc.

Triều đại Constantinus mở đầu giai đoạn vinh thắng của Giáo hội. Giáo hội phải mất 3 thế kỷ với bao xương máu mới có một chỗ đứng công khai trong đế quốc, và không đầy sau 2 thế kỷ Giáo hội sẽ xóa bỏ Thần giáo để tiến tới Kitô hóa đế quốc. Phúc âm trên con đường chinh phục trong giai đoạn này chỉ có một lần gặp sự chống đối mạnh mẽ của Thần giáo dưới đời Julianus bội giáo” (361363) Trong 25 năm trên ngai hoàng đế thượng vị, Constantinus đã đem hết tâm lực để phụng sự Giáo hội. Ông phục vụ Giáo hội thế nào. Chúng ta cần phải hiểu tâm trạng cũng như hành động của ông.

Constantinus là con người có tính tình phức tạp và mâu thuẫn, hoạt động của ông cũng thế. Ông là một tướng chỉ huy can đảm, nhưng lại dễ bị ảnh hưởng và thiếu bền chí; là người hiền lành dễ dãi, nhưng khi trái ý có thể trở thành hung ác đổ máu; kiêu căng thích danh vọng nhưng cũng biết khiêm nhường nhận lỗi. Đối với Giáo hội, ông có thái độ tôn trọng và thành thực phục vụ như người ta thấy sau khi ông thắng Maxentius, và nhất là từ khi ông làm chủ đế quốc. Năm 315 ông viết: “Tôi hoàn toàn tôn trọng Giáo hội Chúa Kitô”, và 20 năm sau: “Tôi tuyên xưng lòng tin ở đạo Thánh Chúa vượt trên các đạo khác… không một ai chối cãi tôi là đầy tớ trung thành của Chúa”. [6]

Tháng 7 năm 326, khi từ Đông phương trở về Roma, Constantinus nghi ngờ một cuộc phản loạn đang âm mưu tổ chức. Có người cho rằng Fausta đã ngầm báo cho Constantinus biết hoàng tử Crispus con của bà vợ trước, người được dân chúng mến phục do những chiến công giúp cha đánh Licinius (323), đang tìm cánh để phản, Fausta làm thế để trừ Crispus và giành ngôi báu cho con mình. Nghe Fausta nói, Constantinus giết Crispus. Thái hậu Helena quở trách, hối hận quá ông giết luôn cả Fausta. Con người dã man và ác nghiệt của Constantinus đã nổi dậy. Giáo lý tình thương chưa thấm nhuần vào con người ông, ông còn đứng ngoài đạo Phúc âm, tuy vẫn xưng mình là người Kitô giáo. Có lẽ để đền tội cho con mình, Helena sau đó đã hành hương Đất thánh và tìm Thánh giá. Thánh nữ cho xây một Đền thờ ngay chỗ tìm thấy Thánh giá trên đồi Calvary, để lại một phần Thánh giá ở đấy, còn một phần đưa về cho con. Để tỏ lòng tôn kính Thánh giá Chúa, Constantinus bãi bỏ tử hình thập ác.

Sau hai tội giết con, giết vợ, Constantinus rất hối hận và quyết tâm chuộc tội Trong 10 năm vào cuối đời, ông đã phục vụ Giáo hội và sống xứng đáng người Kitô giáo. Nhận thức mình được Chúa ban quyền để phụng sự Chúa cũng như để làm ích cho quốc dân, ông lo bảo vệ Hội thánh, phổ biến luật Chúa và xây dựng hòa bình. Theo tinh thần nhân đạo Kitô giáo, ông ra lệnh không được đóng dấu bằng sắt nung đỏ trên mặt người nô lệ và người bị kết án; ông cũng lo nâng cao đời sống dân nô lệ, tuy chưa dám bãi bỏ chế dộ dã man đó. Ông chỉnh đốn đời sống gia đình và giảm quyền hành quá đáng của người cha, thêm những luật chống ngoại tình, đa thê, mãi dâm… Dần dần luân lý Kitô giáo ảnh hưởng sâu xa vào đời sống xã hội Roma. Cả các ngày lễ Thần giáo cũng được thay thế bằng những lễ Kitô giáo như Giáng sinh, Phục sinh, Hiện xuống. Các giám mục và linh mục được mời vào ban cố vấn trong triều đình và cơ quan hành chánh, để tinh thần Phúc âm được thấm nhuần vào luật pháp quốc gia.[7] Đi xa hơn nữa, ông hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo không những trong đế quốc mà cả những nơi Giáo hội đang muốn cảm hóa Man dân. Nói tóm, ông nhận thức trách nhiệm của ông là Kitô hóa đế quốc. Trong một cuộc hội họp các giám mục, ông tuyên bố: “Các vị là giám mục bên trong Giáo hội, còn tôi là giám mục bên ngoài”.

Hành động như thế, Constantinus là người khai sinh ra đường lối chính trị lẫn lộn đạo đời, nó sẽ trưởng thành dưới triều Charlemagne (771-814) và kéo dài suốt thời Trung cổ. Nếu đôi lần nó có lợi cho Giáo hội, thì nhiều khi lại gây khó khăn cho Đạo Chúa, vì thế quyền thường lấn át thần quyền hoặc thần quyền quá cậy dựa vào thế quyền, nên làm mất tính chất thiêng liêng của mình. Dầu sau, thời kỳ này Constantinus vẫn tiếp tục phục vụ Giáo hội trong một đường lối không có gì đáng lo ngại. Ông tôn trọng tự do tín ngưỡng, những bài trừ mê tín, bói toán, dị đoan và lối thờ cúng dâm ô của Thần giáo; ông thủ tiêu các sách vở xúc phạm đến Kitô giáo; và khi lạc giáo Arius nổi lên, ông đã dùng quyền lực để dẹp đi.

Sự lo sợ tục quyền can thiệp vào thần quyền được giảm đi phần nào khi Constantinus quyết định rời đế đô từ Roma sang Byzantin và đổi tên là Constantinopoli. Ngày 11.5.330, những cuộc liên hoan tổ chức linh đình mừng đế đô mới. Người ta đưa ra nhiều lý do thúc đẩy Constantinus có hành động này, như để chống Man di, thương mại Đông phương thịnh vượng hơn, người Roma ít ủng hộ ông, Roma nhắc nhở ông những tội giết con giết vợ, Roma có nhiều di tích của Thần giáo. Nhưng ông không ngờ rằng làm như thế sẽ chia đế quốc làm hai, và đi đến chỗ chia rẽ cả về văn hóa: Latinh và Hy Lạp. Năm 333, ông còn tự tay phá đổ nền thống nhất mà ông đã mất bao công lao để xây dựng, khi chia đế quốc cho ba con: Constantinus II (337-340) con cả, được Tây phương (Gallia, Tây Ban Nha và Britannia); Constantinus II (337-361) [8]con thứ, cai trị Đông phương (Tiểu Á và Ai Cập); Constans I (337-350) con út, đảm nhận miền Trung (Illyria, Ý Đại Lợi và Phi châu); rồi cả hai người cháu đã lớn cũng được chia phần: Dalacus nhận xứ Thracia, Macedonia và Hy Lạp, Hannibal được Pont và Armenia.

Năm 337, Constantinus lâm trọng bệnh, khi gần chết ông xin chịu phép Rửa. ông cởi bỏ hết phẩm phục nhà vua để được chết trong chiếc áo tinh trắng của người tân tòng. Ông trút hơi thở cuối cùng năm đó, ngày 22 tháng 5 nhằm lễ Hiện xuống, thọ 58 tuổi. Cùng với làn nước Rửa sạch mọi tội lỗi cho ông trước khi chết, trong lịch sử Giáo hội người ta vẫn thường bỏ qua những lỗi lầm, những tội ác của ông, để ghi nhớ ông là người đã đem lại hòa bình cho Hội thánh, chấm dứt 250 năm bách hại, và tận tình phục vụ Giáo hội : đem luật Chúa thấm nhuần vào đời sống xã hội, đem ánh sáng Phúc âm đến với Man dân.

  1. Đời sống Giáo hội sau 250 năm chịu bách hại

Trước hết, người ta không khỏi ghê rợn và thương tâm mỗi khi nghĩ đến cảnh tra tấn dã man, đầu rơi máu chảy, cảnh xã hội loạn ly, gia đình tang tóc. Thêm vào đó, nhất là đối với các bậc lãnh đạo tinh thần, sự đau lòng trước những tội chối Đạo, phạm thánh của nhiều người, đặc biệt những người lẽ ra phải là những chiến sĩ vô địch của Chúa Kitô. Còn gì nữa? Còn cái cảnh điêu tàn hoang phế. Thánh đường bị tịch thâu, đồ thờ bị đốt phá, không còn lễ nghi phụng vụ, không còn hoạt động bác ái, vì chẳng còn ai chủ sự hay điều khiển, hết mọi người đều sợ hãi ẩn trốn. Chủ chăn không có hoặc vắng mặt, đời sống kỷ luật do đấy trở thành lỏng lẻo, nhiều vụ tranh chấp xảy ra, bè phái kết đảng (lạc giáo Novatus, Donatus), khiến Giáo hội sau này phải mất nhiều năm mới dẹp yên.

Đối với các thế hệ sau, những trang sử bi hùng trên là những bài học quí báu, những tấm gương sáng của các anh hùng tử đạo. Các ngài là những đấng thánh có thần thế trước mặt Thiên Chúa “danh thơm các ngài sẽ lưu truyền muôn thế hệ” (Hc XLIV, 14).

Nói về phương diện lịch sử hay chính trị, thường người ta cho cái thảm kịch này là kết quả của sự xung đột giữa hai chủ thuyết: tôn chỉ cố hữu của đế quốc Roma và tinh thần Phúc âm của Hội thánh, tức thành trì Thiên Chúa và không bởi thế gian.[9]

Sự xung đột như thế có thể nói đã nằm sẵn trong nguyên nhân. Nhưng hậu quả xảy ra có đến độ phải bi đát và đẫm máu đến như thế không ? Chúng tôi không tin như vậy. Chính các bạo vương đã tạo nên cảnh bi đát đẫm máu đó. Tại sao đế quốc Roma không có một thái độ khoan dung đối với Kitô giáo, như đế quốc sau này đã đối xử với đạo Bacchus và Isis ? Đế quốc đã tha cho người Do Thái khỏi phải tham dự những lễ nghi tế thần, tại sao không tha cho người Kitô hữu ? Có lẽ trong trường hợp này cần phải can đảm quảng đại hơn: phải dẹp đi những thiên kiến của quần chúng, phải kiềm hãm sự ganh ghét của sư sãi. Và nếu trong thế kỷ II, một ông vua nào đã can đảm đứng lên hủy bỏ cái chiếu chỉ sát nhân của Nero, chúng tôi tin chính ông vua đó đã cứu nhân loại khỏi một cuộc đổ máu hãi hùng, và đã cứu chính đế quốc Roma khỏi tình trạng khủng hoảng làm tiêu hao sinh lực, và quốc gia đã có thể không tan vỡ. Vì lẽ cuộc bách hại mà người Kitô hữu là nạn nhân, đã làm cho quân lực cũng như guồng máy hành chánh Roma mất đi rất nhiều tay chân đắc lực trong một thời mà, theo như Celsus xác nhận, hết mọi người không trừ ai phải đoàn kết chặt chẽ.

Các cuộc bách hại đã không đạt mục đích, bởi vì trong khi người ta muốn phục hồi nền thống nhất quốc gia, thì chính cuộc bách hại đã gây thêm nội biến và chia rẽ. Trước những cuộc bắt bớ này, người Kitô hữu buộc lòng phải bỏ trốn, tức là làm tan vỡ nhiều cơ cấu xã hội. Thay vì tiêu diệt Kitô giáo người ta đã vô tình làm cho Tin Mừng phổ biến rộng rãi. Ngay sau các cuộc bách hại, người ta nhận thấy Giáo hội có mặt khắp nơi: không một thành phố nào mà không có bóng tín đồ Kitô giáo. Bên đông phương, ở Ai Cập và Tiểu Á có nhiều giáo đoàn đông đúc và thịnh vượng; bên Tây phương, sầm uất hơn cả là Ý Đại Lợi và Phi châu. Không tài liệu nào để lại một con số đích xác, nhưng rất có thể hồi thế kỷ IV, Giáo hội chiếm 1/3 dân số đế quốc. Hình như đế quốc thời đó 100 triệu người thì số giáo dân là 30 triệu. [10] Đấy còn chưa kể những giáo đoàn ở ngoài đế quốc, tại xứ Ả Rập, Persia, Ấn Độ, Ethiophia, v.v…

Sự kiện đáng chú ý là sau thời bách hại, công cuộc truyền giáo lan rộng tới các vùng quê. Trong mấy thế kỷ đầu, việc rao giảng Tin Mừng chỉ hạn hẹp trong các đô thị lớn, nằm trên những trục giao thông thuận tiện, rồi mới tới các thành phố nhỏ, nhưng vẫn chưa về đến các vùng quê hẻo lánh. Danh từ pagarius (paien): người “dân quê”, cũng có nghĩa là “dân ngoại”. Lý do cản trở một phần cũng vì sự giao thông khó khăn, nhưng nhất là vì óc mê tín dị đoan. Bước sang thế kỷ IV, Giáo hội được bình an và rảnh tay hơn, nên các chủ chăn đã nghĩ đến họ. Ở miền Bắc Ý, thánh Virgiliô giám mục thành Trento đã sai nhiều nhà truyền giáo vào các làng mạc, vào cả những miền rừng núi hiểm trở. Trong xứ Gallia, thánh Victri thành Rouen giảng đạo cho dân Flamand, nhưng đáng để ý hơn cả là thánh Martin (397), giám mục thành Tours. Thánh nhân thiết lập tu viện đầu tiên trên đất Gallia tại Ligugé (360) và nhiều tu viện khác. Với con số đan sĩ đông đúc, ngài hoạt động khắp các vùng quê. Khi thánh nhân qua đời, rất nhiều làng mạc xứ Gallia đã được nghe Tin Mừng, nhiều họ đạo được thiết lập. [11]

Tổ chức giáo quyền thời này cũng hoàn bị hơn. Đại Công đồng Nicea (325) mở đầu cho đợt tổ chức chung các Giáo hội, đã đặt ra những nguyên tắc căn bản cho hàng Giáo phẩm. Bậc giáo sĩ được tách biệt khỏi giáo dân đã có nhiều thời giờ làm nhiệm vụ thiêng liêng, các vị được miễn thuế và miễn dịch. Về vấn đề độc thân ngay từ thế kỷ đầu đã được khuyến khích, nhưng chưa có luật buộc. Từ thế kỷ IV, luật này bắt đầu áp dụng ở nhiều nơi: Công đồng Elvira (Tây Ban Nha) năm 300, Công đồng Nicea năm 325, Công đồng Roma năm 386, Công đồng Trullo (Constantinopoli) năm 692, đều có những luật về đời sống độc thân giáo sĩ, nhưng không như nhau. [12] Nhiều nơi có những luật ấn định tuổi tác để được tấn phong : phó tế 30 tuổi, linh mục 35 tuổi, giám mục 40 tuổi. Đức Thánh Cha Anastasi (399-401) cấm phong chức linh mục cho người có tật xấu thể xác, và cấm các giám mục truyền chức cho những người thuộc giáo phận khác, khi chưa nhận được tờ Dimissoria do giám mục của đương sự gởi đến.

Thời này, đời sống cộng đồng hàng giáo sĩ không còn chặt chẽ như xưa. Trước kia, các linh mục là những nhân viên phụ tá của giám mục luôn sống bên cạnh ngài. Từ đây, số giáo dân thêm đông và lãnh vực cũng mở rộng hơn, người ta chia mỗi thành phố ra nhiều giáo xứ, và trao mỗi giáo xứ cho một vài linh mục coi sóc. Địa vị phó tế, tuy đứng sau linh mục, nhưng xét về một vài phương diện lại quan trọng hơn. Trước hết vì con số hiếm hoi, theo truyền thống là 7, trong khi số linh mục không hạn định, do đó họ có thể tự coi mình là số người được chọn lọc. Đàng khác, các thày có nhiều quyền hành trên thực tế, vì nắm giữ tất cả vấn đề tài chính, mà của cải thuộc Giáo hội lúc đó khá nhiều, nhân viên dưới quyền các thày cũng không phải ít. Nhưng đứng đầu trong giáo phận là giám mục, trông coi tất cả mọi công việc thuộc phạm vi thiêng liêng cũng như vật chất. Được hoàng đế kính trọng, các giám mục có nhiều uy thế đối với quần chúng. Việc chỉ định các ngài bấy giờ chưa trực tiếp do Tòa thánh Roma, nhưng thuộc hội đồng giám mục trong giáo tỉnh, qua sự đề cử của hàng giáo sĩ và giáo dân. Con số giáo tỉnh thời đó là 120, trùng hợp với 120 tỉnh trong đế quốc. [13]

Đứng về phương diện đạo đức và phụng vụ, người ta thấy có những phát biểu khác xưa. Bước sang thế kỷ IV, các cuộc bách hại đã hết, lòng đạo đức không có dịp được minh chứng bằng máu với những gương hy sinh can đảm biểu dương bên ngoài, vì thế thiên về đời sống nội tâm nhiều hơn, nhất là đời sống bí tích. Tính cách tái sinh của phép Rửa được đề cao, việc rước lễ hằng ngày được khuyến khích, phong trào học Thánh Kinh lan tràn mạnh mẽ và làm nền tảng cho đời sống đạo đức. Trong những bài giảng thuyết của các giáo phụ, Lời Chúa được trưng dẫn rất nhiều, minh chứng giáo dân thời ấy thông thạo Thánh Kinh. Lòng sùng kính các mầu nhiệm của Chúa được cổ võ, nhất là những mầu nhiệm bị lạc thuyết phủ nhận. Lòng tôn sùng các thánh cũng được nêu cao, đặc biệt đối với các thánh tử đạo và tu hành. Còn sự tôn sùng Đức Maria được phát biểu rất dồi dào, qua nhiều tác phẩm văn chương Kitô giáo, đáng chú ý hơn cả là những thi ca của thánh Ephrem (373).

Đặc điểm trong sự biểu lộ lòng tôn sùng của thế kỷ IV này, là những cuộc hành hương và tôn kính hài cốt các thánh. Roma là một trung tâm hành hương chính, nhất là dịp lễ kính hai thánh Tông đồ Pherô và Phaolô hoặc một vị tử đạo nổi tiếng. Đức Thánh Cha Đamasô (366-384) khuyến khích các cuộc hành hương bằng cách tu sửa những hang Toại đạo. Ở Đông phương, giáo dân đổ về Gierusalem, nơi ghi lại những kỷ niệm cuộc đời Chúa Cứu Thế, nhất là từ khi thái hậu Helena tìm thấy Thánh giá Chúa và xây dựng nhiều thánh đường.[25]

Tuy nhiên, bên cạnh những giáo dân sốt sắng đạo đức, không thiếu những người khô khan nguội lạnh, đức tin yếu kém. Ngay cả trong hàng giáo sĩ, nhiều vị thân cận với triều đình đã nhiễm phải lối sống xa hoa, làm gương xấu. Đi ngược với đời sống khô khan sa sút lại có một số người quá cứng rắn và cố chấp trong việc giữ đạo. Tinh thần cực đoan làm họ nhìn các anh em khác như những con người

[1] Eusebius: op. cit., VIII, 17.

[2] Eusebius trong: Vita Constantini, I, 28 cho biết khi Constantinus bắt đầu giao tranh với Maxentius, ông khấn “Chúa bên Kitô giáo” và bỗng nhiên giữa ban ngày, ông thấy hiện ra ở nền trời Tây phương hình Thánh giá sáng chói với hàng chữ viết bằng Hy ngữ “Với dấu này, ngươi sẽ thắng”. Từ đây, Constantinus làm cờ hiệu Labarum có hình Thánh giá, cầm đi trước các đạo quân.

[3] Lactantius trong: cuốn Vita Constantini có viết: Một đêm trong giấc mộng, Constanunus được Đấng Kitô ra lệnh bảo các quân sĩ viết hai tự mẫu Hy Lạp c (Khi) và r (Rô) chồng lên nhau trên cờ : Labarum và trên các thuẫn của quân sĩ, hai tự mẫu đó dùng làm hoa tự chỉ Chúa Kitô (KHRistos)

[4] Về thái độ của Constantinus đối với tôn giáo, xem Palanque trong: Histoire de l’Église (Fliche-Martin), Q. III. tr 24-33 và Lietzmann: Histoire de l’Église ancienne. Q. III, tr 149-161.

[5] Xem Palanque: op. cit., Q. IV. tr 21-24.

[6] D. Rops : L’ Eglise des Apôtres et des Martyrs, Paris 1948, tr 486.

[7] Lactantius trong: cuốn Vita Constantini có viết: Một đêm trong giấc mộng, Constanunus được Đấng Kitô ra lệnh bảo các quân sĩ viết hai tự mẫu Hy Lạp c (Khi) và r (Rô) chồng lên nhau trên cờ : Labarum và trên các thuẫn của quân sĩ, hai tự mẫu đó dùng làm hoa tự chỉ Chúa Kitô (KHRistos)

[8] Hai giám mục Osio thành Cordoba và Eusebius thành Nicomedia là những cố vấn rất thân tín của Constatinus.

[9] Xem Fustel de Coulanges : La cité antique, V, III và Hist. des Institutions, Q. II tr 64 : “Chính vì tôn chỉ này mà Kitô giáo đã phải hy sinh nhiều đấng Tử đạo: mỗi trận chiến là một thắng lợi cho Kitô giáo”

[10] D. Rops: op. cit., tr 565.

[11] D. Rops: op. cit., tr 566-570

[12] Xem E. Vacandard: Célibat ecclésiastique, trong: Dict. de Théol, Cath

[13] D.Rops: op. cit., tr 570-573. [25] D. Rops: op. cit., tr 582-591.

Còn Tiếp