LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – Số tháng 9, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP – Tiếp Theo

3. Tinh thần lề luật thánh Biển Đức.

Suốt thế kỷ IV và V, nếp sống tu trì đã phổ biến rộng rãi ở Tây phương, nhưng còn trên đường thí nghiệm. Chưa có một bộ luật nào đáp ứng với điều kiện tâm lý, địa dư của người Tây phương. Công việc khó khăn này Thiên Chúa đã dành cho thánh Biển Đức Nurcia (480-547).

Thánh Biển Đức là một công dân thành Roma, từ nhỏ đã được hấp thụ một nền giáo dục hoàn bị. Chán cảnh xa hoa trụy lạc của kinh thành, lại thêm ảnh hưởng của bà chị là nữ thánh Scholastica, Biển Đức bỏ học trốn đến Eufid, rồi đi sâu vào rừng Subiaco. Tại đây đời sống thánh thiện của nhà lưu hành gây được nhiều ảnh hưởng lớn lao, số người tình nguyện xin làm môn đệ mỗi ngày thêm đông. Nhưng ít lâu sau, vì xích mích với vị linh mục sở tại, thày trò phải cuốn gói dắt nhau lên đỉnh núi Cassino (529). Chính nơi đây, thánh nhân ghi lại thành lề luật những gì, mà thày trò đã thể hiện trong cuộc sống. Nhưng cuốn lề luật đó chưa được người đời biết đến. Mãi đến đầu thế kỷ VII, thánh Giáo hoàng Gregori Cả (590- 604), sau khi được mục kích đời sống của một số đan sĩ từ núi Cassino tị nạn đến Roma, mới nhận ra sự phong phú lạ lùng trong lề luật của họ và tuyên dương nhân đức phi thường của tác giả. Từ đấy lý tưởng Biển Đức bắt đầu phổ biến trên thế giới.[9] Vì tính cách quan trọng và giá trị của cuốn lề luật này, nên tìm hiểu sơ lược nội dung của nó.

Thánh Biển Đức kết án lối hành xác vô điều độ của các nhà tu hành thời trước. Theo ngài, các tu sĩ phải có đủ sức khỏe để cầu nguyện và làm việc. Mọi chi tiết trong cuộc sống đều có luật lệ dự trù và hướng dẫn rõ rệt: ăn uống, ngủ nghỉ, áo quần, nơi ở, tất cả đều được xếp đặt chu đáo. Sống tiết độ trọng hơn hành xác.

Công tác của các tu sĩ thời này nói chung, thường không phải là việc trí óc, mà là lao tác tay chân. Dầu vậy, thánh Biển đức cũng buộc các tu sĩ phải biết đọc biết viết và mỗi ngày ít nhất có 3 hay 4 giờ đọc sách. Để giữ bầu khí thinh lặng, các thày không bao giờ giải trí chung, nhưng lúc làm việc được phép trao đổi ý kiến, nếu cần. Mỗi đan viện là một đơn vị tự trị tự túc bên cạnh đan viện phải có một trường học nhỏ, một bệnh viện, một quán trọ.

Đan viện được tổ chức như một gia đình. Để duy trì nếp sống, an vui, thịnh vượng, thánh nhân nhấn mạnh vào nhân đức thanh bần và vâng phục. Tất cả quyền bính tập trung trong tay viện phụ, và mọi người có nhiệm vụ tuyệt đối vâng lời. Dĩ nhiên, đó không phải là một thứ bạo quyền, vì viện phụ phải xem mọi tu sĩ như con cái.

Nói tóm, lề luật thánh Biển đức xác định một chương trình thường nhật cho mọi hoạt động thể xác cũng như tinh thần. Nó nói đến tất cả những gì cần thiết cho sức khỏe cơ thể và lành mạnh tinh thần, tất cả những gì phù hợp với đời sống thiêng liêng: chủ trương thực tế, quân bình, trật tự, kỷ luật, đạo đức, đấy là tất cả tinh thần của lề luật Cassino, mà đặc tính của nó, theo thánh Gregori Cả, là triết trung (discrétion).

Thánh Âutinh (+ 605) và các đồng bạn, tông đồ nước Anh, sáng lập tu viện Canlerbury, rồi đến thánh Bonifaciô (+ 755) và các thừa sai sống đời đạm bạc và cần lao ở Fulda, đều là những tu sĩ sống theo lề luật thánh Biển Đức. Với những thành quả ấy người ta đã có thể phán đoán được giá trị của một giáo thuyết. Lề luật thánh Biển đức với tính chất thống nhất và triết trung, không phải chỉ là một tác phẩm hướng dẫn đời sống thiêng liêng mà thôi, nhưng nó còn được coi như là một chính sách khai hóa, một căn bản cho trật tự và ổn định, một gương sáng khêu gợi sự ham thích làm việc, yêu mến cái hay cái đẹp, đi liền với sự bỏ quên mình, đặng chuyên tâm vào việc phượng thờ Thiên Chúa một cách sốt sắng xứng đáng.

Không những là một tài liệu quí báu của nền văn minh tôn giáo, lề luật thánh Biển đức còn là một trợ lực do Chúa Quan phòng dành cho Giáo hội Roma. Trong thời Âu châu bị xáo trộn bởi những cuộc xâm lăng của Man dân, các tu sĩ Biển đức bất cứ thuộc quốc tịch nào, đều hướng về Roma và nước Ý. Đan viện Cassino bấy giờ là nhà mẹ, Roma là quê hương tinh thần. Các tu sĩ mau mắn vâng lệnh đức Thánh Cha như tuân phục các viện phụ. Sự trung thành của các đan sĩ Biển đức đã duy trì được các truyền thống của Roma và giúp cho các hoạt động của Giáo hoàng được hữu hiệu. Khi ngăn cản các Giáo hội địa phương đừng lao mình vào phong trào đòi tự trị tức là các đan sĩ này đã cứu Giáo hội Tây phương tránh được tình trạng

loạn ly.[10]

Sang thế kỷ thứ VIII tinh thần Cassino đụng đầu với tinh thần Bangor (Ái Nhĩ Lan) của thánh Columban. Tinh thần Bangor nhiệm nhặt, chay tịnh lao lực, phạt xác, siêng năng xưng tội, trường hợp phạm trọng tội còn phải chịu hình phạt thể xác; tinh thần Cassino kém nhiệm nhặt nhưng kỷ luật hơn, đọc Kinh nguyện chung được coi là trọng hơn sống khổ hạnh. Cả hai đã giúp vào việc tạo nên một đường hướng trung dung cho nhiều dòng tu sau này ở Tây phương.[11]

II – CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CỦA CÁC DÒNG TU

1. Thánh Columban và các tu sĩ Ái Nhĩ Lan, Anh, Pháp truyền giáo ở Tây Âu (thế kỷ VII)

Thế kỷ VI và VII là giai đoạn oanh liệt nhất của các nhà tu hành Ái Nhĩ Lan.[12] David Menevia và thánh Kentingern đã dem Tin Mừng đến cho hai xứ Galles và Tô Cách Lan, thánh Aidan là vị tông đồ thứ nhất của dân Saxon. Thế rồi nhiều đan viện nổi danh như Bangor (555), Iona (563), Lindisfarn, cử từng đoàn truyền giáo tới các miền duyên hải Anh quốc và Pháp quốc, còn sang tận những vùng đất Thần giáo Hà Lan và Đức quốc.

Các nhà truyền giáo này chia từng nhóm 12 người, mặc đồ rừng đầu cạo trọc kiểu Celtic, vai mang bị da đựng một bộ Thánh Kinh và một chén lễ, sống nghèo khó và rất khổ hạnh. Trong số này có nhiều vị nổi tiếng, như thánh Firmian hoạt động ở miền Bắc Ý, thánh Fridoald, thánh Kilian sang tận Đức quốc, và nhất là thánh Columban (540615).

Thánh Columban sinh tại Leister (ngoại Ô Duhlin) và là tu sĩ Bangor. Thánh nhân được cử sang lục địa cùng với nhiều đồng bạn, hoạt động trong vùng núi Vosges, đi sâu vào rừng Annegray, thiết lập đan viện Luxeuil (590). Đến sau, vì không thể chiều ý vua Thierry II (595-613), thánh nhân phải rồi khỏi miền Vosges. Ít lâu sau, ngài xuất hiện ở Bregenz trên bờ hồ Constancia, rồi đi lập đan viện Bobbio trên đất Ý (612), và từ trần ở đó.[13]

Linh đạo của thánh Columban đã trở thánh hiến chương cho ruột số lớn tu viện thời Mérovingien. Đan viện Luxeuil từng là trung tâm huấn luyện các nhà truyền giáo thời đó, với những đại diện đáng kể, như thánh Acariô (+ 639) tông đồ dân Vermand, thánh Philibert (+ 685) tổ phụ nhiều tu viện nổi tiếng trong xứ Neustria ở Jumièges và Noirmoutier. Khi ở Bregenz, thánh Columban đã trao cho thánh Gall (+ 646) nhiệm vụ cảm hóa dân Helvetian (Thụy Sĩ), và lập một đan viện (614) mang tên Saint-Gall cũng trên bờ hồ Constancia. Còn đan viện Bobbio nhận sứ mạng truyền giáo cho dân Lombardo, và đóng vai hòa giải Giáo hội Aquilea.

Ba đan viện Luxeuil, Bobbio, Saint-Gall không bao lâu trở thành những học viện nghiên cứu thánh khoa, sưu tầm và lưu trữ các cảo bản và những danh phẩm giáo khoa thời Thượng cổ. Chung quanh những đan viện mẹ này, còn mọc lên rất nhiều tu viện con, nhất là ở Pháp quốc, sống theo tinh thần Luxeuil, tức tinh thần thánh Columban: đức tin sắt đá, chí hướng tông đồ và hứng thú trong việc lao tác, khẩn hoang.[1]

Thế kỷ VII là thế kỷ Kitô giáo được bành trướng rộng khắp Tây Âu. Nhờ hoạt động hăng hái của các giám mục và sự trợ lực của các vua dân Franc, Tin Mừng được rao giảng khắp vương quốc nhà Mérovée. Những miền theo Thần giáo trong thời Man di xâm lăng, nay lại được nghe giảng Phúc âm. Thánh Emmeran (+ 652) giám mục thành Ratisbon khôi phục xứ Bavaria, thánh Kilian xây dựng cơ sở tại Wurzburg, thánh Pirmiô (+ 753) truyền giáo cho Alsace và Palatinat.

Công cuộc truyền giáo đạt thành công và thu lượm được nhiều kết quả, nhất là ở Bắc Pháp và Bỉ quốc. Tại các miền này, lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả vẻ vang của thánh Acariô (+639), Giám mục thành Tournai, và nhất là thánh Amanđô (620-676).[15] Thánh nhân là một nhà truyền giáo can đảm, dám mạo hiểm xâm nhập lãnh thổ dân Slavo ở Trung Âu, và có lẽ còn đến với dân Basco ở Aquitaine nữa. Nhưng trung tâm hoạt động của ngài vẫn là lưu vực sông Escaut, trong các thành Tournoi, Gand, Anvers. Thánh nhân thật xứng đáng mang danh tông đồ Bỉ quốc. Cũng như thánh Emmeran, không phải là người Ái Nhĩ Lan nhưng đã được thấm nhuần tinh thần truyền giáo của Luxeuil.

Cuối thế kỷ VII, các nhà truyền giáo AngloSaxon xuất hiện. Đời sống tu hành của Giáo hội trẻ trung này, con thiêng liêng của thánh Gregori Cả, phát triển mạnh mẽ nhất là về phương diện trí thức. Những đan viện Malmesbury, Wearmouth và Yarrow, dưới thời Aldhelmo, Benedict Biscop và Ceolfrid, rồi thánh Bêđa Venerabilis (673-753), đã đạt tới trình độ trí thức cao nhất trong làng văn học Tây Âu đương thời.[16] Nhưng đời sống trí thức vẫn không hề làm cản trở chí hướng tông đồ của các vị. Với đức tính kiên nhẫn của một dân tộc thích khắc phục khó khăn, các vị đã xung phong hoạt động tại những vùng đất nguy hiểm ở Hà Lan (Frisa) và Đức quốc.

Sự giao thương bằng đường biển đã tạo cơ hội cho các nhà truyền giáo tiếp xúc với dân Hà Lan. Trên đất này, sự khởi công của thánh Amanđô trước đó không lâu đã gặp nhiều gian nan, nay lại được thánh Winfrid, rồi môn đệ của ngài là Willibrord bắt đầu lại, dưới sự bảo trợ của đan viện Ripon và giáo phận York. Hơn 30 năm sau (679-715), một giáo đoàn được thành lập và trở nên thịnh vượng, đó là địa phận Utrecht (695).

Một cánh đồng truyền giáo bao la rộng mở để đón nhận ánh sáng phúc âm, Kitô giáo bắt đầu tiến tới Đan Mạch. Người ta tưởng chỉ ít lâu sau đã có thể thiết lập một vòng đai bao vây xứ Saxonia theo Thần giáo. Nhưng sự vùng dậy bất ngờ của Thần giáo đã dập tắt mọi hy vọng. Tuy nhiên, đất Hà Lan vẫn còn mang những vết tích sự nghiệp của các đan sĩ Anglo-Saxon, mà sau này Winfrid, một nhà truyền giáo nổi tiếng tức thánh Bonifaciô, sẽ tái lập và mở rộng thêm biên cương cũ.

2. Thánh Bonifaciô và công cuộc truyền giáo tại Đức quốc (thế kỷ VIII)

Thánh Bonifaciô (680-755) là vĩ nhân của Hội thánh thế kỷ VIII. Ngài có tình thần tông đồ cao độ, đức tin kiên trì, giàu lòng bác ái, ưa hoạt động, óc tổ chức, nhiều sáng kiến. Giang sơn của nhà Carolingien có được là nhờ công lao của vị tông đồ này. Thánh nhân đã cứu hầu cả Tây Âu khỏi hai tôn giáo man rợ Thor và Woton. Uy thế của ngài bao trùm khắp nơi; trong khi đó, vị đại tông đồ luôn sống khiêm tốn và trung thành với lời dạy bảo của Tòa thánh.

Để thực hiện ước nguyện tận hiến cho sứ mạng tông đồ, thánh Bonifaciô đã phải chiến đấu rất nhiều. Dân tộc được thánh nhân đặc biệt chọn lựa là dân Đức, một dân mà ngài có liên hệ và thông thạo ngôn ngữ. Vì thế, sau khi đặt xong nền móng cho Giáo hội Hà Lan (Frisa), thánh Bonifaciô liền tiến sang xứ Hesse và Thuringia. Trước khi thánh nhân đặt chân tới, Đức quốc chỉ là một cánh đồng sình lầy, núi rừng hoang vu kéo dài tới lận sông Elbe, hầu như không ai dám lui tới, vì dân thì tàn bạo, thành thị không có, đường sá rất ít.

Việc trước hết thánh Bonifaciô phải làm là sửa lại một công cuộc truyền giáo đã được thực hiện một cách thiếu sót trong nhiều vùng, mà nay còn lại nhiều vết tích dị đoan. Công việc này nhằm cứu vớt một hàng giáo sĩ cũng như những giáo dân tân tòng yếu ớt khỏi tình trạng thác loạn, và cất đi nhiều gương xấu nguy hiểm. Sau đó với sự đồng ý của đức Thánh Cha Gregori III, thánh nhân tổ chức hàng Giáo phẩm, phân lãnh thổ Đức thành nhiều địa phận: mỗi giám mục mang trách nhiệm một vùng nhất định, và từ nay giáo dân trực thuộc hàng Giáo phẩm địa phương. Vì tại Đức quốc chưa có nhiều đô thị, nên thánh Bonifaciô phải chọn những địa điểm thuận lợi hơn để đặt giáo phủ. Về vấn đề này, người ta phải phục tài lựa chọn của thánh nhân, vì những giáo phủ, những đan viện được xây dựng tại các địa điểm chẳng bao lâu đã trở thành những trung tâm trọng yếu, những đô thị lớn.

Mặc dầu đã được tấn phong tổng giám mục, nhưng do đặc ân dành cho một số thừa sai thế kỷ trước, và nhất là để hoạt động truyền giáo đắc lực hơn, thánh Bonifaciô không trực tiếp đảm nhận một địa phận nào. Mãi đến năm 745, ngài mới chọn Mainz làm trụ sở. Khi cuộc đời đã về chiều, thánh nhân chỉ còn mong một điều là được qua những ngày cuối cùng tại đan viện Fulda thân yêu, để được an nghỉ tại đó. Không ngờ trong một chuyến đi truyền giáo cuối cùng ở Hà Lan, ngài lọt vào tay người Thần giáo và được phúc tử đạo ngày 5.6.755.[17]

Từ đây, nhờ có thánh Bonifaciô, Kitô giáo mở rộng thêm một vùng rộng lớn từ sông Rhin đến sông Danube và Weser. Thành công này là nhờ ở tài năng đức độ riêng của thánh Bonifaciô, cùng sự hy sinh, tận tụy của nhiều cộng sự viên. Thánh nhân đã nắm được mọi phương tiện cần thiết. Về phương diện thiêng liêng, ngài luôn được sự nâng đỡ của Tòa thánh và anh chị em đan sĩ ở Anh Quốc. Bên cạnh, thường xuyên có sẵn những cố vấn khôn ngoan, giàu kinh nghiệm, như Willibrord và giám mục Daniel thành Winchester. Còn về vật chất thì đủ thứ: tiền bạc, sách vở, áo quần, thuốc men, đều được gởi từ bên kia biển Manche sang. Ngoài ra, thánh nhân còn phải tiếp xúc với những bậc quyền thế, những lãnh tụ Man di, để công cuộc truyền giáo được dễ dàng, mạng sống các thừa sai được bảo đảm.

Thánh Bonifaciô là một nhà lãnh đạo giỏi tâm lý, biết dùng người (bất cứ thuộc sắc dân hay giai cấp nào), biết làm cho họ tin tưởng, cộng tác và theo đuổi một niềm hy vọng với mình. Những người như thánh nữ Lioba, thánh Lullô, Sturmô thật xứng đáng là những cộng sự viên của thánh nhân. Lịch sử truyền giáo Bỉ quốc và Đức quốc cho ta thấy những người đi “càn quét” Thần giáo đã gặp phải biết bao gian nan nguy hiểm: nghèo khổ, ngược đãi, thù địch đến tử dạo nữa.[18] Trong một bức thư, thánh Bonifaciô đã nói lên tinh thần hy sinh cao độ của những cộng sự viên này: “Họ sống rất nghèo, họ có thể kiếm được bánh ăn, nhưng không thể tìm ra áo mặc. Người ta phải giúp đỡ họ như chính tôi đã làm, để họ có đủ can đảm chu tòan trách vụ khó khăn tại vùng đất này”.[19]

3. Thanh gươm của Charlemagne và Kitô giáo tại Saxonia (hậu bán thế kỷ VIII)

Dưới triều Charlemagne (771-814), công cuộc truyền giáo mang một bộ mặt khác hẳn. Sứ mạng tông đồ lúc này được thúc đẩy bởi tham vọng chính trị hơn là do lòng nhiệt thành rao giảng Lời Chúa. Miền đông Bắc sông Rhin kéo dài đến sông Elbe, còn một khối thuộc dân German thù địch với văn minh Latinh và Kitô giáo, những dân cuồng tín anh hùng một cách dã man mà Tacite cách đấy 700 năm đã nói đến, đó là xứ Saxonia, từ Paderborn đến Hamburg.

Sự có mặt của khối Thần giáo Saxon này, là một đe dọa thường xuyên cho các nước chư hầu miền biên giới, và cho những giáo đoàn non nớt thánh Bonifaciô vừa thành lập. Năm 752, trong một cuộc xâm lăng Thuringia, người Saxon đã đốt phá gần 30 thánh đường. Từ khi Charles lên ngôi Vua, những cuộc đụng độ còn quyết liệt và man rợ hơn nữa. Do đó, Charlemagne quyết định dùng mọi biện pháp để thanh toán đám dân Thần giáo này. Nhà vua liên liếp mở những cuộc hành quân gây áp lực và xâm lăng lãnh thổ, song song với công cuộc truyền giáo được trao cho các giám mục ở vùng biên giới. Một đạo luật được ban hành, hủy bỏ những phong tục dị giáo, và kết án tử hình những ai không chịu theo đạo hoặc ngấm ngầm thờ Thần.

Sau cuộc nổi dậy của Witikind, nhà Vua còn có những biện pháp đàn áp nặng nề hơn nữa: tàn sát, trục xuất. Dân Saxon hoàn tòan bị khuất phục. Các tòa giám mục Brême (787), Munster, Werden và Paderborn (804) đánh dấu sự thành lập hàng Giáo phẩm trong xứ Wesfalen và Hannover. Năm 815, đan viện Nouvelle-Corbie được thiết lập có sứ mạng như đan viện Luxeuil và Fulda trước đây.[20]

Nhiều sử gia Đức sau này đã trưng dẫn những cải tiến về luân lý văn hóa, kinh tế, xã hội, để bào chữa cho chính sách “khai hóa” của Charlemagne. Nhưng dầu sao những ân huệ quí báu đó vẫn không thể biện chính cho những hành động của Charles. Người ta tự hỏi, những cuộc nổi loạn sau này, những vụ xung đột đẫm máu do nhóm chủ trương “Rửa tội lại” (Anabaptisme) gây ra như trong thế kỷ XVI, phải chăng không phải là món nợ máu của chính sách nói trên?

Song song với công cuộc truyền giáo ở Bắc Âu, một phong trào Công giáo Tiến hành hoạt động mạnh mẽ, giữa dân Slavo ở Carinthia và dân Avar ở Pannonia. Phong trào này do hai giám mục Virgilius và Amus phát động và được quận công Tassilus bảo trợ. Tại dây, nhờ sự can thiệp của các giám mục, việc sử dụng võ khí không còn được áp dụng nữa. Giám mục địa phận Aquilea viết: “Trong công cuộc truyền giáo, không nên dùng biện pháp nạt nộ hay áp bức, nhưng phải dùng lời giảng khuyên dịu hiền. Không nên trao việc này cho những giáo sĩ thiếu học thức, nhất là kém thần học. Sứ mạng của các linh mục là sống làm sao cho phù hợp với giáo lý mình dạy, phù hợp với việc phượng tự mình cử hành”[21]

Sang thế kỷ IX, dưới triều Louis I (810-840), Kitô giáo đã đâm rễ sâu và vững chắc trên đất Saxonia, và người dân dần quên đi những áp bức, khổ nhục ban đầu. Nhiều tòa giám mục được thiết lập thêm: Hamburg năm 831 và nhờ có thánh Ansgariô (810-865) cùng sự yểm trợ của địa phận Reims, nhiều nhà truyền giáo bắt đầu lọt vào xứ Đan Mạch và Thụy điển, trong khi nhiều thừa sai khác đi về hướng sông Oder.

Tổng kết thành tích của nhà Carolingien ta thấy: Kitô giáo được truyền bá từ sông Rhin đến sông Elbe và lên tận Bắc Hải. Sào huyệt cố thủ của Thần giáo German bị phá hủy; văn minh Latinh và Franc xâm nhập thung lũng Weser và bình nguyên Hannover. Kitô giáo còn chuẩn bị đi sâu vào xứ Silesia, thung lũng sông Save và cả trong xứ Moravia nữa. Tuy nhiên, vì xây dựng bằng võ lực, nên nó chỉ có thể đứng vững nhờ vô lực, điều mà các vua kế nghiệp sẽ không đủ tài lực để theo đuổi. Thế rồi, hồi giữa thế kỷ IX cuộc xâm lăng của quân Normand đã xô đổ tất cả cơ nghiệp đồ sộ này.

Nói đến thời Charlemagne, người ta không thể bỏ qua mà không nói đến phong trào “Trí thức Phục hưng”, một sự nghiệp văn hóa mà Charlemagne đã đoạt vinh dự, do công khởi xướng và bảo trợ, để các vua kế nghiệp đạt tới thành công.[22]

Sau 300 năm bỏ rơi việc học hành, thế kỷ IX báo hiệu sự trở lại những sinh hoạt trí thức, văn chương và nghệ thuật. Không những các thánh khoa được hâm mộ, mà cả thi văn, ca nhạc và hội họa. Người ta lại tìm đến đạo lý của các giáo phụ, Scotus Erigenes dịch tác phẩm của Pseudo-Dionisius Areopagit ra La văn, nhiều giáo sĩ chép lại rất cẩn thận những tuyệt tác văn chương cổ điển. Nhiều cảo bản được trang trí bằng những đại tự lộng lẫy với nhau mầu sắc mạ vàng, tăng giá trị cho các thư viện. Đó chính là kết quả tinh thần học hỏi và sưu tầm của các đan viện ở Anh Quốc từ thế kỷ VII. Người chủ xướng công cuộc rất đáng ca ngợi này là đan sĩ thành York tên Alcuinus (735-804), ông là một thi sĩ, một nhà văn phạm và thần học, được nhà vua tín nhiệm và trọng dụng.

4. Cánh đồng truyền giáo Đông Âu của các đan sĩ (thế kỷ IX-X)

Thế kỷ X đánh dấu một cuộc khủng hoảng ghê sợ trong lịch sử Giáo hội. Nền thống nhất đế quốc của Charlemagne sụp đổ. Tại Roma, ngôi Giáo hoàng bị lấn át, cưỡng đoạt và chế nhạo. Trong khi đó, Islam cai trị Tây Ban Nha, Sicilia, đe dọa cả miền Nam Âu châu, còn quân Normand đã tàn phá các hải cảng quan trọng, và những vùng phì nhiêu nhất của đế quốc: Liége, Cologne và kinh thành Aix-La-Chapelle lần lượt bị thiêu hủy. Anh Cát Lợi và Ái Nhĩ Lan cũng không thoát khỏi những cuộc tàn phá man rợ này. Các tu sĩ ở Jumièges, SaintWandrille, Noirmoutier trong Pháp quốc, và ở York bên Anh quốc, đều phải bỏ đan viện bị phóng hỏa, chỉ mang theo được hài cốt các vị sáng lập. Thêm vào đó, công cuộc truyền giáo cho bán đảo Scandinavia và miền Đông sông Elbe chẳng đem lại một kết quả cụ thể nào.

Giữa những hoàn cảnh bi đát, thất vọng ấy không ngờ đức tin lại lóe sáng tại vùng Đông Nam và Trung Âu châu, tức xứ Styria, bán đảo Balkan và cao nguyên Bohemia.[23] Kitô giáo đã gây được nhiều ảnh hưởng tại miền Nam sông Danube và cả miền đông rặng Carpathes. Trong công cuộc truyền giáo này, các tòa giám mục Ratisbon và Salzburg được coi là những “tiền đồn” và góp phần, nhưng thành công tốt đẹp phần lớn là nhờ sự nâng đỡ của Roma.

Thật vậy, những nhà truyền giáo đầu tiên tại miền Nam Pannonia (Nam Tư ngày nay) là các linh mục Roma do đức Nicolas I (858-867) gởi đến. Còn các thừa sai cho thế giới Slavo, hai anh em thánh Cyrillô (827-869) và Methođô (829-885), là những tu sĩ đan viện Salonic, hình như thuộc quyền giáo chủ Constantinopoli nhưng trong trường hợp khó khăn bao giờ các vị cũng thỉnh ý Roma. Hai thánh nhân được đức Adrian II tấn phong giám mục và đức Gioan VIII ban phép dùng tiếng địa phương trong phụng vụ.

Cyrillô và Methođô quả là những tông đồ của dân Slavo. Khắp nơi đều in dấu chân của hai anh em: miền Nam Nga-La-Tư, Bảo Gia Lợi, Ba Lan, Ukrania… Người ta kể lại hai vị thích đến những vùng nói tiếng Slavo, có giọng như ca hát. Nhưng Moravia và Bohemia mới là nơi các ngài tập trung mọi hoạt động và thu được nhiều kết quả quan trọng nhất, như sự trở lại của vua Radislas (Moravia) và quận công Borgivoi (Bohemia). Tòa giám mục Velehrad (865) là một phần thưởng cho công cuộc truyền giáo này.

Vì không có tài tổ chức như thánh Bonifaciô, nên công việc của hai vị nặng tính cá nhân và kém bên tục. Nhưng bù lại, các vị có tinh thần cởi mở thức thời, biết chấp nhận những giá trị đích thực của mọi nền văn hóa. Chính các vị đã gầy dựng ý thức dân tộc và khởi xướng phong trào văn hóa cho những quốc gia trẻ ở Đông Âu. Hơn nữa, các vị còn dùng mẫu tự Hy Lạp sáng chế ra mẫu tự riêng cho tiếng Slavo,[2] dùng nó để phiên dịch sách Phúc âm, giáo lý công giáo, và biến nó thành ngôn ngữ chính thức của nhiều chi tộc Slavo theo đạo Công giáo.

Trong khi hai vị tông đồ này khéo léo đặt các giáo đoàn ở Moravia và Bohemia dưới quyền của Roma, thì ông hoàng Vladimir xứ Kiev, khi chịu phép Rửa năm 989, lại nhất định theo Byzantin. Một mặt vì lý do chính trị, mặt khác vì những lễ nghi trang nghiêm trong đền thờ Đấng Khôn ngoan (Sainte-Sophie) làm lóa mắt các sứ giả của Vladimir, khiến họ tưởng có Thiên thần từ Trời xuống cử hành lễ nhạc, đồng thời có một cảm nghĩ là phải đặt vận mạng của Giáo hội Nga thuộc ảnh hưởng Constantinopoli.[25]

Thế kỷ X, nhiều xứ Bắc Âu gia nhập Kitô giáo: hai tòa giám mục Bremen và Hamburg có công lớn trong việc truyền giáo này. Năm 948, Aarhus (Đan Mạch) thiết lập thành giáo phủ. Một thế kỷ sau vua, Kanut xây dựng từ bờ biển Anh quốc đến Na Uy một vương quốc duyên hải rộng lớn theo đạo Công giáo.[26]

Cũng thời này, thánh Wolfgang, giám mục thành Ratisbon, đi sâu vào nước Hung Gia Lợi; thánh Adalbert thành Praga lên tận đất Dantzig. Đến lượt hai nước Ba Lan và Hung Gia Lợi gia nhập đại gia đình Công giáo. Thái độ hào hiệp và sáng suốt của vua Otton III (996-1002), sự quan tâm của đức Sylvestrê II (999-1003) đã giúp cho công cuộc này được phát triển, mà không hề có một tham vọng nào về chính trị, tức quyền độc lập của các nước. Thánh quận công Venceslas (924-929) và vua thánh Stephan (997-1038) là những người được ghi danh tánh, trong việc thiết lập những giáo đoàn đầu tiên trong các xứ Bohemia và Hung Gia Lợi. Chính các ngài đã đem ánh sáng Phúc Âm và văn minh Kitô giáo đến với các dân tộc, mà Cổ Âu châu cũng như Cổ đế quốc Roma chưa hề biết đến hoặc chưa đặt chân tới. [27]

Song song với nỗ lực bành trướng bên ngoài, một công cuộc cải hóa “bên trong”, hoạt động ngay trên đất trước kia đã có đạo, cũng rất quan trọng: đó là việc cải hóa dân Normand.[28] Ngay từ năm 878, tướng Gothrum người đan Mạch cùng với 29 lãnh tụ Viking [3] chịu phép Rửa. Đến năm 910, Rollom người Na Uy, sau khi được vua Charles III (898-923) phong làm phó vương xứ Normandie, cũng đã theo đạo cùng với bộ hạ và lập nghiệp trên bờ biển Manche. Nhưng chính bọn họ là những thủ phạm cướp bóc nhiều tu viện và tàn phá nhiều thị trấn. Trước cũng như sau khi theo đạo, họ vẫn là những tay anh chị, những quân cướp biển, giang hồ ngang dọc…, họ chiếm Anh quốc, rồi đảo Sicilia. Tuy nhiên, dẫu sao người Normand vẫn kính trọng giáo lý cao cả mà họ đã lãnh nhận, và luôn nhớ mình là những người con của Hội thánh, vì thế trong một cuộc chiến một vị Giáo hoàng (Leô IX) lọt vào tay họ, nhưng để tỏ lòng trọng kính, họ đã đưa về Benevento. Sau này quân sĩ Normand còn có dịp cứu mạng đức Gregori VII, và con cháu họ đã ra công kiến thiết nhiều tu viện, thánh đường nguy nga đồ sộ, như để đền bù lỗi lầm của tổ tiên.

III HOẠT ĐỘNG TRẦN GIAN CỦA CÁC ĐAN VIỆN

1. Hoạt động kinh tế và xã hội

Không một sử gia nào, kể cả những người ít thiện cảm với Giáo hội, có thể phủ nhận vai trò quan trọng của các dòng tu thời Trung cổ trong việc phát triển kinh tế xã hội. Sự nghiệp của các thày không phải chỉ giới hạn trong phạm vi cứu tế, từ thiện, nhưng còn lo khuếch trương diện tích trồng trọt, gia tăng sản xuất, tham gia vào việc tìm bánh ăn hằng ngày cho dân số Âu châu mỗi ngày thêm đông.

Nối tiếp công cuộc khẩn hoang của các đan sĩ Luxeuil và Biển đức, các dòng tu đã biến nhiều vùng sình lầy, hoang vu tại Pháp, Bỉ, Đức thành những cánh đồng phì nhiêu. Nhiều đồi núi được biến thành những vườn cây ăn trái. Thế rồi, nhiều trung tâm nông nghiệp, nhiều thôn ấp trù mật mọc lên chung quanh các đan viện: rau cỏ, hoa trái, lúa mì, lúa mạch, đều là những nguồn lợi mà các dòng tu đã đem đến cho đời sống thôn quê. Nhờ đó, người dân giải quyết được nạn đói và giảm đi những vụ trộm cướp.

Riêng ở Đức quốc, người ta càng thấy rõ công lao của các đan viện. Theo nhiều sử gia, những vụ cướp bóc, tàn phá xảy ra trong nước Đức ngày xưa là do tình trạng nghèo đói, đời sống giang hồ, không ưa làm việc của người dân tại đây. Trong khi đó, các tu sĩ đã giúp họ sống định cư, khai khẩn đất hoang, mở mang đường sá, xây đắp cầu cống, đặt dựng máy xay…, tạo nên một tình trạng xã hội ổn định, giúp Âu châu tránh được những vụ di dân phá hoại, chuyên reo rắc sợ hãi và đổ nát. Trong những thời chiến kéo dài liên miên, các công trình nói trên vẫn được duy trì nguyên vẹn, vì đã có án phạt những kẻ cưỡng đoạt tài sản của Giáo hội, hoặc ức hiếp những người hiến thân phục vụ Hội thánh.

Theo các sử liệu để lại, thời đó nhiều đan viện rất giàu có, như Lorsch và Pulda trong Đức quốc, Saint-Gall ở Thụy sĩ, Corbie ở Pháp quốc. Cả đến hai đan viện Saint-Denis và Cluny sau này cũng có một bất động sản khổng lồ. Dưới thời nhà Carolingien, các đan viện sống hoàn toàn về nông nghiệp, họ thu thuế thập phân và nhận nhiều tặng vật của dân, nên khi sang thời Capétien, rất nhiều đan viện trở thành đại tư sản”.[30]

Xét theo phương diện kinh tế và xã hội, phát triển kế sinh nhai, xúc tiến nghệ thuật, đặc biệt trong ngành xây cất, thì “chế độ tư bản” của các dòng tu nói đây, tưởng không ai phủ nhận sự cần thiết phải có. Nhờ có nó, các đan viện nói trên mới thực hiện được những công việc như cải tiến công nghệ, khuếch trương thương mại, tổ chức Triển lãm Quốc tế (Triển lãm Lendit tại Saint-Denis), thiết lập xưởng kỹ nghệ và cơ sở tôn giáo. Nhưng đứng trên quan điểm tu đức “chế độ tư bản” đó được coi là không phù hợp với tinh thần nghèo khó và thoát tục. Nhiều giám mục, nhiều đấng thánh tỏ ra nghiêm khắc đối với sự lo lắng về tiền bạc nơi những người, lẽ ra “chỉ chăm lo việc tu đức và tích trữ của cải thiêng liêng”. Tuy nhiên, chúng tôi cũng trưng ra đây lời lẽ của một tu sĩ thông thái đã viết:

“Người ta thường nói sự phóng túng, đã theo tiền bạc du nhập vào các đan viện chúng ta. Trường hợp ấy hẳn không ai chối cãi, nhưng đại để lịch sử còn đấy, để minh chứng rằng không bao giờ các tu viện trở nên sốt sắng bên trong, và làm được nhiều việc thiện bên ngoài, cho bằng khi các tu viện ấy đạt tới sự thịnh vượng về quyền thế và của cải. Ngược lại, sự sa sút về tinh thần thường đi đôi với sự giảm thiểu về của cải vật chất, về sự tiêu pha và mua bán đủ thứ”.[31]
Còn Tiếp


[14] Điểm đặc biệt của người Ái Nhĩ Lan là năng xưng tội và phổ biến những nghi thức sám hối: mỗi tội chịu một hình phạt riêng. Cả giáo dân thường cũng được dạy cách xét mình hàng ngày, và ý thức trách nhiệm của mình đối với Chúa.

[24] Hai anh em thánh Cyrillô và Methođô đã sáng chế mẫu tự, gọi là Cyrillic, để viết tiếng Bảo, Nga và Tắc (Serbe)

[29] Bọn cướp Scandinavian từng đánh phá Âu châu từ thế kỷ IX đến XII. Những lãnh tụ này đã bị Alfred nước Anh đánh bại ở Wessex.

Còn Tiếp