LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Lời Tựa

Tác phẩm chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng quí vị đây, dành cho tất cả những ai muốn có một cái nhìn tổng quát về Lịch sử Giáo hội Công giáo và sự triển nở thiêng liêng của nó, qua các thời đại từ nguyên thủy đến nay.

Đây là bộ sách dành cho tất cả quý vị yêu thích lịch sử, muốn theo dõi những biến chuyển lớn để thêm hiểu biết vận mạng, cũng như trào lưu tư tưởng về tín lý, thần bí và luân lý của Giáo hội Công giáo.

Chúng tôi không có tham vọng, qua bộ sách này, sẽ tường thuật hết mọi biến cố, cũng không dám can thiệp vào những vấn đề còn được bàn cãi. Bộ Lịch sử này, xét về phương diện khoa học, không thể đòi xếp hạng với những bộ sách gồm cả chục quyển to lớn, bàn đến mọi chi tiết về quá khứ của Giáo hội. Vì thế, chúng tôi muốn giữ tính cách đơn giản khi tường thuật để được dễ hiểu. Chúng tôi bỏ qua những nhân vật nổi danh thật sự. Trong khi tường thuật, chúng tôi nhận biết thế nào cũng có nhiều khuyết điểm và thiếu sót, mà chúng tôi hy vọng được quí độc giả phủ chính và tha thứ.

Mục tiêu của tác phẩm này không phải là can dự vào sự rắc rối của những vụ tranh luận về tín lý, những cuộc tranh chấp ngôi vị cá nhân hay đoàn thể, đến độ làm như Lịch sử Giáo hội chỉ là một cuốn sách kể truyện “chiến tranh tự vệ” liên miên và vô vị, chống trả các phe phái hay lạc giáo. Chúng tôi muốn có một quan niệm cao hơn về sứ mạng của Giáo hội. Trước hết, chúng tôi đưa ra ánh sáng cái tiềm lực đã và còn làm cho Giáo hội sống động và uyển chuyển qua các thời đại. Chúng tôi sẽ trưng ra những ảnh hưởng của Giáo hội đối với Châu Âu và Thế giới.

Chúng tôi không thể bỏ qua phần sự nghiệp của nhiều Dân tộc Công giáo trong Lịch sử này. Không phải để ca tụng hay đả kích tính tự ái Dân tộc, nhưng để nêu rõ mỗi quốc gia đã có và còn có thể có sứ mạng phải thi hành; và chính lúc chịu mở cửa đón nhận Kitô giáo là lúc các quốc gia dù lớn dù nhỏ, đặc biệt các quốc gia Tây phương, được dịp may mắn nhất để ý thức về khả năng cũng như phận sự của họ. Khi đề ra cho họ một lý tưởng, tức là Giáo hội đã dành cho họ phương tiện để phát triển và thăng tiến. Chính ở điểm đó, Giáo hội Công giáo đã góp nhiều công vào việc xây dựng văn minh thế giới.

Chúng tôi luôn luôn cố gắng nói sự thật, dù là sự thật phũ phàng. Lịch sử Giáo hội nguyên nó đã làm phong phú đủ, để khỏi cần phải dùng đến những lời lẽ tô điểm làm lệch lạc chân lý. Trong mọi trường hợp, chúng tôi phải trung thực, vì đó là đặc tính quí báu nhất của các nhà hộ giáo. Song điều đó không có nghĩa là chúng tôi phải gò bó trong khi hành văn, hoặc không được phát biểu ý kiến riêng. Đứng trước một sự nghiệp vĩ đại, cao cả của Giáo hội, đứng trước những bậc thánh, những anh hùng hào kiệt, chúng tôi có quyền biểu lộ sự thán phục. Không ai cấm chúng tôi chú tâm vào tính chất thực tại hoặc vĩnh cửu của một số vấn đề, giá trị bất biến của những tấm gương sáng chói.

Quan niệm như thế, chúng tôi hy vọng sẽ làm hài lòng quí độc giả Công giáo. Đối với quí độc giả không Công giáo, chúng tôi xin quí vị đừng quá hoài nghi trước bộ mặt thật của Đạo Công giáo. Sau hết, chúng tôi ước mong được tất cả quí vị ban những lời chỉ giáo hầu giúp chúng tôi bổ túc mỗi lần tái bản.

Lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô năm 1971

Lm. Vinhsơn Bùi Đức Sinh O.P.

Phần Nhất :

THƯỢNG CỔ VÀ TRUNG CỔ

Chương Một :

GIÁO HỘI THỜI SỨ ĐỒ (t.k. I)

Nếu Giáo hội Công giáo định nghĩa là một khối tín hữu vây quanh Chúa Cứu Thế và vâng lời Người, thì Giáo hội đã có từ khi bốn dân chài: Pherô và Anrê, Giacobê và Gioan, đáp lời mời của Chúa Giêsu bỏ thuyền lưới tại hồ Galilea, để trở thành những “ngư ông câu người” (Mt IV, 18-22).

Theo các nhà thần học, Giáo hội được thành lập vào buổi sáng ngày Chúa Thánh Thần Hiện xuống, khi thánh Phêrô và các Tông đồ được tràn đầy ơn Thánh Thần, mạnh dạn làm chứng nhân về sự Chúa sống lại, lên Trời, trước công chúng từ bốn phương kéo về Gierusalem nhân ngày lễ “Ngũ Tuần” (Cv II, 1-4) [1]. Theo các nhà hộ giáo, Phục sinh và Hiện xuống là hai sự kiện quan trọng trong việc khai sinh Giáo hội. Nếu Chúa không sống lại như lời tiên báo, thì các Tông đồ, những chứng nhân của Chúa, sao có thể biến đổi từ người ngu dốt hèn nhát thành những nhà truyền giáo can đảm, nhiệt thành, những nhà hộ giáo khôn ngoan thông minh được.

Nhưng các sử gia, vì chỉ nhìn vào những sự kiện bên ngoài, coi Giáo hội là một thực thể xã hội và tôn giáo, chăm lo việc phượng thờ Thiên Chúa và nghe theo lời giáo huấn của Chúa Kitô, nên chỉ chấp nhận Giáo hội Công giáo có vào khoảng sáu hoặc bảy năm sau cuộc tử nạn của Chúa, và sự thành lập đã được ghi chép trong sách Tông đồ Công vụ. Giáo hội thành lập để nối tiếp công cuộc của Chúa ở trần gian, ban đầu cũng đã sống và lớn lên trong dân Chúa kén chọn với những con người có truyền thống từ bao thế hệ, để từ đây bành trướng khắp thế giới theo như ý muốn của Chúa: “Các con hãy đi rao giảng khắp muôn dân, làm phép Rửa cho chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy cho chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các con” (Mt XXVIII, 19-20).

I- GIÁO HỘI THỜI NGUYÊN THỦY Ở PALESTINA

1. Chúa Giêsu, Đấng sáng lập Giáo hội

Từ khi là một dân tộc được Thiên Chúa kén chọn, người Do Thái, dù là Pharisê, Sađukê hay Esseni [2], đều mang trong mình sự trông đợi Đấng Cứu Thế. Cứ mỗi lần quốc gia họ lâm nguy hoặc dân chúng rơi vào cảnh nô lệ, lòng trông đợi lại nổi lên mạnh mẽ. Qua các thời đại, nhờ sự nhắc nhở của các ngôn sứ, họ càng ý thức rõ rệt hơn về sự chọn lựa mà Thiên Chúa đã giao ước với các Tổ phụ họ.

Lúc này sống dưới ách đế quốc Roma, lòng trông đợi một lần nữa bị kích động mãnh liệt. Dựa theo lời ngôn sứ, họ lý luận: “Thời gian trông đợi đã đầy”, ngôn sứ Đaniel đã chẳng bảo là sau 69 “tuần năm”, các đau khổ của Israel sẽ chấm dứt và Nơi Cực Thánh sẽ đón nhận Đấng Kitô đó sao ? (Đn IX, 20-27), Đấng Cứu Thế sẽ là người thế nào ? Người Do Thái khi ấy không có một quan niệm rõ rệt và còn sai lầm nữa. Sống trong cảnh nô lệ áp bức, hầu hết họ cho rằng Đấng Cứu Thế sẽ là vị anh hùng cứu quốc, trong tay có cả trăm ngàn binh sĩ. Ngài sẽ báo thù cho dân Ngài, “đập tan các thù địch như đập bình gốm”. Ngài sẽ thống trị muôn dân, mở đầu cho một thời huy hoàng của Israel. Như vậy, họ đã quên đi lời ngôn sứ Isaia nói về Chúa Cứu Thế sẽ phải chịu đau khổ và nhục nhã (Is LIII).

Giữa lúc dân Do Thái nóng lòng trông đợi như thế, Đức Giêsu Kitô đã sinh ra ở Belem xứ Judea, triều vua Herodes (?14) vừa ban hành lệnh kiểm tra dân số trong cả thiên hạ. Sau khi sinh ra được ít lâu, Chúa được thánh Giuse và Đức Maria đem đi trốn bên Ai Cập để tránh bàn tay tìm giết của Herodes. Ông này chết, hai ông bà đưa Chúa trở về quê quán, sống đời ẩn dật ở Nazareth bằng nghề mộc. Năm 30 tuổi, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai, nhưng trước đấy, Gioan đã làm Tiền hô dọn đường cho Người. Bắt đầu Chúa giảng Phúc Âm ở xứ Judea, tỏ ra cho dân chúng biết chính Người là Đấng Kitô các ngôn sứ đã loan báo, nhưng họ không tin. Sau khi Gioan bị bắt, Người bỏ Judea sang xứ Galilea, tiếp tục rao giảng Nước Trời, làm nhiều phép lạ, chữa người bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, xua đuổi quỷ ám… Tin Mừng của Chúa được trình bày nhất là trong bài giảng trên núi. Người đem đến cho nhân loại nguồn hạnh phúc thật sự, và luật của Người là luật tình yêu, một tình yêu mới và hoàn hảo.

Qua những bài dụ ngôn về Nước Trời, Chúa cho dân chúng biết Tin Mừng và công cuộc Cứu Thế của Người không hạn hẹp trong vùng Palestina, nó phải tỏa lan đi các nơi và trải qua mọi thời đại. Đó là lý do khiến Người sẽ lập Giáo hội. Ngay từ khi đời sống công khai bắt đầu, Chúa đã để ý kêu gọi nhiều môn đệ. Người chọn lựa tông đồ, ban cho các ông quyền chữa bệnh tật, trừ quỷ ám và sai đi giảng tin lành cho các miền lân cận. Chúa còn đặt Pherô làm tông đồ trưởng: “Con là Pherô, nghĩa là đá, Ta sẽ xây Giáo hội Ta trên đá tảng này, dù quyền lực hỏa ngục có tung ra cũng không thể phá nổi. Ta sẽ trao chìa khóa Nước Trời cho con. Điều gì con cầm buộc ở dưới đất, trên Trời cùng cầm buộc và mọi điều con tháo cởi dưới đất, trên Trời cũng tháo cởi” (Mt XVI, 18-19).

Nghe lời Chúa giảng dạy, thấy phép lạ Chúa làm, dân chúng tin theo rất đông. Thấy mình bị mất ảnh hưởng, nhóm Pharisê ghen ghét Chúa, nhất là khi họ bị Chúa vạch trần sự giả hình và lối sống câu nệ; họ tìm cách làm hại Người. Cả nhóm Sađukê cũng lo ngại trước ảnh hưởng của Chúa trong dân chúng. Họ sợ Người gây phong trào cách mạng chống Roma, mà họ đang là những tay sai trung thành.

Biết rằng cuộc tử nạn gần đến, Chúa loan báo cho các tông đồ biết và dọn lòng các ông đón nhận sự kiện đó. Dịp lễ “Vượt qua” năm cuối cùng, Chúa lên Gierusalem và được dân chúng đón rước rất trọng thể, trong khi ấy những đàn anh lập mưu bắt Người. Ngày thứ năm trước lễ “Vượt qua”, trong bữa tiệc ly, Chúa lập phép Thánh Thể, cũng đêm ấy Giuđa bội phản dẫn lính đến bắt. Đứng trước công nghị Do Thái (Sanhédrin), Chúa bị kết án tử hình. toàn quyền Pilatus (? 39) thấy Người vô tội muốn tha. Nhưng vì nhát sợ trước áp lực của dân chúng có các bậc đàn anh hậu thuẫn xúi dục, Pilatus đã y án tử hình thập ác. Suốt đêm thứ năm và sáng thứ sáu, Chúa bị đánh đập và chịu xỉ nhục trước khi vác thập giá lên núi Calvary. Chiều thứ sau, lúc tắt thở trên Thánh giá, màn ngăn cách Nơi Cực Thánh trong Đền thờ xé ra làm hai, báo hiệu thời Tân Ước trong lịch sử.

Chúa Giêsu đã chết, nhưng khi còn sống Người đã tiên báo sau ba ngày sẽ sống lại. Lời đó Chúa đã thể hiện, và trong 40 ngày ở lại trần thế, Người hiện ra với các tông đồ, các môn đệ và nhiều người khác. Người hứa sai Thánh Thần đến với họ, làm họ trở nên những chứng nhân, không phải chỉ ở Palestina mà còn cho tận cùng trái đất. Đồng thời Chúa đặt thánh Pherô đứng đầu đoàn chiên, tức Giáo hội của Người: “Con hãy chăn các chiên con và chiên mẹ của Ta” (Ga XXI, 17). Sau đó, Chúa lên Trời.

Sau khi được chứng kiến Chúa về Trời, các tông

đồ và môn đệ, khoảng 120 người, trở lại Gierusalem hội nhau trong nhà tiệc ly để cầu nguyện, trông đợi Chúa Thánh Thần; Đức Maria cũng có mặt với họ. Ngay từ ban đầu, Pherô đã ý thức trách nhiệm làm đầu Giáo hội của Chúa. Ông đề nghị tìm người thay thế Giuđa, tên bội phản nộp Thầy. Trong số những chứng nhân cuộc đời Chúa, Matthia đã trúng thăm để liệt vào hàng 12 tông đồ. “Bỗng từ Trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh lùa vào nhà, nơi các tông đồ và môn đệ đang hội họp. Rồi mọi người thấy những hình lưỡi lửa tản ra, đậu trên đầu mỗi người. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói những tiếng lạ, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv II, 2-4). Giáo hội khai sinh từ đấy.

2. Giáo đoàn nguyên thủy Gierusalem

Hôm ấy lễ “Ngũ tuần” dân Do Thái hội nhau ở Gierusalem để mừng lễ rất đông. Nghe biết có điềm lạ, họ kéo nhau đến xem và gặp Pherô đang giảng: “Đức Giêsu Nazareth Đấng mà Thiên Chúa đã minh chứng bằng nhiều phép lạ … Đấng mà các ông đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh treo thập ác. Người đã được Thiên Chúa cho sống lại, và chúng tôi là chứng nhân … Người đã ban Thánh Thần xuống cho chúng tôi như các ông thấy và nghe (Cv II, 22-23, 32-33). Mọi người lấy làm lạ vì các tông đồ nói nhiều thứ tiếng khác nhau và khi nghe các ông giảng, dù họ là người nói tiếng Partha hay Ai Cập, Cyrène hay Roma đều hiểu hết. Lời giảng và dấu lạ ấy đã làm họ xúc động và 3.000 người tin theo : đó là giáo đoàn nguyên thủy.

Luca trong Tông đồ Công vụ đã ghi lại những sự kiện quí giá về Giáo Hội thời nguyên thủy. Cộng đồng nguyên thủy ở Gierusalem có một tổ chức vừa theo khuôn khổ Do Thái vừa có những đặc tính mới mẻ và riêng biệt của Kitô giáo. Cộng đồng mới này chưa tách biệt khỏi hội đường Do Thái, họ vẫn nhiệt thành tham dự các lễ bái ở Đền thờ và các buổi họp ở hội đường; nhưng họ cũng những buổi họp riêng “bẻ bánh” và cầu nguyện, nghĩa là cử hành Tiệc Thánh. Tình yêu liên kết họ thành một trái tim và một tâm hồn, họ cố thực hiện lời Chúa: “Người ta sẽ nhận ra các con là “môn đệ” của Thày vì thấy các con yêu thương nhau” (Ga XIII, 35). “Họ bán tài sản đem nộp cho các tông đồ để phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo sự cần thiết. Họ đồng tâm nhất trí ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh ở nhà, họ cùng nhau dùng bữa trong tình huynh đệ” (Cv II, 45-46). Phép lạ Pherô chữa người què ở cửa Đền thờ đã làm cho người ta để ý đến các tông đồ và Giáo hội phôi thai. Bài giảng của vị tông đồ trưởng đã thu hút thêm nhiều người, con số kẻ tin Chúa lên tới

5.000. Công nghị Do Thái lo ngại, bắt giam Pherô và Gioan. Trước một phiên tòa, hai ông can đảm minh chứng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. “Đấng mà họ đã đóng đinh và Thiên Chúa đã cho sống lại”. Bị đe dọa không được tiếp tục giảng, hai ông thẳng thắn trả lời: “Trước mặt Thiên Chúa, phải nghe lời các ông hay vâng lời Thiên Chúa, điều nào phải lẽ? Xin các ông xét. Phần chúng tôi, điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi không thể không nói ra!” Dầu vậy, công nghị Do Thái cũng phải tha cho hai tông đồ về, vì sợ dư luận quần chúng sau phép lạ mới xảy ra (Cv IV, 1-22).

Các tông đồ tiếp tục rao giảng Tin Mừng; việc này đã dẫn các ông vào ngục một lần nữa, nhưng ban đêm Thiên thần đến đưa các ông ra khỏi ngục. Hôm sau. công nghị bỡ ngỡ thấy các ông đang giảng ở Đền thờ. Bị điệu ra tòa, Pherô thay mặt các chứng nhân can đảm tuyên bố: “Phải vâng phục Thiên Chúa hơn loài người. Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã cho Đức Giêsu sống lại … mà chúng tôi đây là chứng nhân”. Công nghị nghe, rất uất hận muốn giết ngay các ông, nhưng Gamaliel can thiệp. Các tông đồ tuy thoát chết, song trước khi được tha về các ông đã phải một trận đòn ghê sợ (Cv V, 27-40).

Giáo đoàn nguyên thủy mỗi ngày thêm đông. Lúc này vẫn toàn là người Do Thái, có người sinh trưởng ở Palestina nói tiếng Hy Bá (Do Thái), có người sinh quán ở những khu phân tán (diaspora) trong các miền thuộc đế quốc Roma, nói tiếng Hy Lạp. Nhóm người này phàn nàn vì trong việc phân phát của vật chất, quả phụ của họ bị bỏ rơi. Thấy thế, các tông đồ đề nghị đặt chức Phó tế, để trông coi vấn đề vật chất. Giáo dân chọn bảy người và các tông đồ đặt tay truyền chức cho họ. Trong số có hai nhân vật lỗi lạc là Stêphan và Philipphê quê ở vùng phân tán, có tài giảng thuyết và không bị trói buộc bởi những thành kiến quốc gia như những người Do Thái sinh trưởng tại Palestina.

Stêphan mở đầu một cuộc hộ giáo dựa theo Thánh Kinh, và kết luận bằng những lời lên án dân Do Thái: “Vì các người cứng đầu cứng cổ, lòng chai dạ đá, nên các người luôn luôn chống Chúa Thánh Thần”. Những lời lẽ can đảm này đã đem lại cho thày Stêphan cái chết vì đạo đầu tiên như một phần thưởng. “Nghe những lời ấy người Do Thái nghiến răng căm giận Stêphan, lại được nhà cầm quyền Roma làm thinh, họ ném đá ông cho đến khi chết” (Cv VI VIII).

Cái chết của Stêphan năm 34 mở đầu cuộc bách hại Giáo hội ở Palestina. Saolô quê thành Tarses là người hăng say bắt đạo hơn cả. Nhiều giáo dân phải bỏ Gierusalem tản cư về các vùng quê ở Judea hay Samaria, đi tới đâu họ truyền đạo tới đó. Như thế cuộc bách hại đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Kitô giáo, đem vào cộng đồng nguyên thủy những phần tử mới, đó là những anh em Dân Ngoại, tức không phải Do Thái.

3. Giáo hội của các Dân tộc

Thày phó tế Philipphê mở đầu cuộc truyền giáo ở Samaria. Với lời giảng hấp dẫn kèm theo nhiều phép lạ minh chứng, số người tin theo rất đông. Trên đường đi Gaza, thày rửa tội cho viên thái giám của nữ hoàng xứ Ethiopia. Ở Cesarea, nhà của thày trở thành nơi hội họp của giáo đoàn mới. Việc thâu nhận những thành phần mới này vào Giáo hội đã gây ra một vấn đề. Có cần phải chịu phép Cắt bì để được gia nhập Kitô giáo, như đã được vào dân Do Thái không ? Vấn đề khá quan trọng về giáo thuyết, vì nếu Cắt bì là điều bó buộc thì hóa ra đức tin Kitô giáo không đủ để cứu rỗi, nhưng nếu Cắt bì không cần nữa tức là bỏ rơi Do Thái giáo trong thực hành. Đàng khác, nếu Kitô giáo đòi những ai theo đạo phải Cắt bì, chắc chắn nhiều người vì kỳ thị Do Thái sẽ không chấp nhận điều kiện đó. Còn các tông đồ, tuy Chúa đã dạy phải đi truyền giáo cho muôn dân, nhưng các ông vẫn chưa dứt bỏ hết những quan niệm có tính chất quốc gia về Do Thái về Nước Trời. Pherô, vị tông đồ trưởng, cũng thấy rất khó giải quyết, song Chúa đã can thiệp.

Vào khoảng năm 40, cuộc bách hại lần đầu, Pherô đi thăm các giáo đoàn mới. Thánh tông đồ trước hết đến Lydda, rồi Joppea, chữa nhiều bệnh tật và cho một bà ở Joppea sống lại. Sau đó, thánh nhân lên Cesarea, thủ phủ xứ Palestina, tại thành này một sĩ quan Roma tên là Cornelius và cả gia đình xin học đạo. Ông là người đạo hạnh tử tế, kính sợ Thiên Chúa, nhưng là người dân ngoại. Theo luật Cựu ước thì “người Do Thái không được tiếp xúc với người ngoại”, nhưng thánh Pherô đã được mặc khải cho biết “không còn kể ai là ô uế hay không sạch”. Thánh nhân giảng dạy về cuộc đời Chúa Giêsu và phép Rửa tội. Trong khi giảng, các kẻ nghe được Chúa Thánh Thần đánh động và xuống ơn. Ông kết thúc bài giảng: “Những anh em này đã chịu Chúa Thánh Thần như chúng ta, vậy thì ai có quyền cấm lấy nước mà rửa tội cho họ?” Rửa tội cho Cornelius là một việc làm khác thường, nghĩa là không qua con đường Do Thái giáo (Cắt bì). Cộng đồng Do Thái ở Gierusalem xôn xao bàn tán, khiến thành Pherô phải giải thích cho họ: “Tôi biết Thiên Chúa không thiên tư ai, song bất luận dân nào, hễ kính sợ Ngài làm việc phúc đức, đều đẹp lòng Chúa và được đón nhận” (Cv X. 24-48). Nhưng vấn đề chưa giải quyết dứt khoát cho tới khi Phaolô được chọn làm tông đồ dân ngoại, và Cộng đồng Gierusalem được triệu tập (49).

Phaolô, thuở nhỏ mang tên Saolô, sinh khoảng năm 8 tại Tarses, một thương cảng phồn thịnh thuộc ảnh hưởng văn minh Hy Lạp. Thân phụ ông là người thành Giscalat (Galilea), cả hai cha con gốc Do Thái có quốc tịch Roma, thuộc phái Pharisê, sinh sống về nghề dệt. Hồi 15 tuổi, Saolô đã tỏ ra thông minh và được gởi đi Gierusalem theo học Gamaliel, một giáo sư nổi tiếng. Vốn tính nóng và nhiệt thành lại được giáo dục trong môi trường đạo hạnh khắc khổ nên khi thấy một tôn giáo lạ vừa xuất hiện, ông đã vội coi các tín đồ là những quân dấy loạn, mà vị Giáo chủ là người bi kết án tử hình thập ác. Trong buổi hành hình thày phó tế Stêphan, Saolô không tích cực tham gia, nhưng đã nhận đứng giữ áo cho kẻ ném đá vị Tử đạo tiên khởi. Và sau đó, ông quyết ra tay tiêu diệt bọn mà ông kêu là “phiến loạn”.

Nghe biết Damas có nhiều “tổ” Kitô giáo, Saolô tình nguyện dẫn đầu toán lính võ trang của công nghị Do Thái đi dẹp. Lúc đó vào khoảng gần trưa một ngày mùa hạ năm 35, “khi Saolô gần tới Damas, bỗng có ánh sáng bởi Trời bao phủ ông: ông ngã xuống đất. Có tiếng phán: Saolô, Saolô, tại sao ngươi tìm bắt Ta ? – Thưa ngài, Ngài là ai? Ta la Giêsu ngươi đang bắt bớ. Song hãy đứng dậy vào thành; có người sẽ nói cho ngươi phải làm gì” (Cv IX 3-6). Saolô đứng dậy, mắt mở nhưng không thấy gì. Ông được dẫn vào thành, ở đó ba ngày liền không ăn uống. Một người đạo đức tên là Anama được Chúa sai đến khuyên bảo, chữa mắt và rửa tội cho Saolô.

Ngay sau đó, Saolô đi tiếp xúc với giáo đoàn Damas, vào giáo đường rao giảng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Điều đó làm nhiều người bỡ ngỡ và không tin, có người tìm bắt ông, song ông trốn vào sa mạc Ả Rập, để qua một thời gian tĩnh tâm cầu nguyện và học hỏi thêm về chân lý mới (Gl I, 11-12,17). Ba năm sau, Saolô trở lại Damas, rồi đánh liều đến Gierusalem, nhưng chỉ được tiếp nhận một cách lạnh nhạt vì còn bị nghi ngờ. Barnabê, người bạn học của ông, phải đứng ra bảo lãnh để ông được gặp Pherô và Gioan. Trong một cầu nguyện tại Đền thánh, Saolô ngất trí xem thấy Đấng phán rằng: “Mau lên, hãy ra khỏi Gierusalem ngay, vì họ chẳng nhận ngươi làm chứng về Ta” (Cv XXII, 18). Các bạn hữu khuyên ông trở về Tarses. Bị người ta không hiểu mình, Saolô vẫn cương quyết làm “Phát ngôn nhân” của Chúa Giêsu. Vì ông còn nhớ mãi lời Chúa phán: “Cứ đi, Ta sai ngươi đến cùng dân ngoại ở phương xa” (Cv XXII, 21). Saolô nghe bạn hữu khuyên trở về quê hương (năm 38), hoạt động truyền giáo trong các vùng thuộc Cilicia và Syria.

Barnabê ở Antiokia, nhân một cuộc viếng thăm các giáo đoàn, có đến gặp Saolô. Barnabê thấy cần phải dùng vị tông đồ trẻ tuổi thông minh, nhiệt thành và quả cảm này vào môi trường hoạt động rộng lớn hơn, nên đã đưa Saolô về Antiokia thủ phủ xứ Syria, nơi tập trung đủ sắc dân, ngôn ngữ và tôn giáo. Quả nhiên, nhiều người tin theo, giáo đoàn Antiokia mỗi ngày thêm đông: “Chính tại đây, lần thứ nhất các tín hữu được mang danh Kitô hữu” (Cv XI, 26). Trong khi đó, các giáo đoàn ở Judea lâm cảnh khó khăn, nạn đói hoành hành,

Agrippa được đặt làm vua Judea và Samaria (4144) là người từ lâu có ác cảm với Kitô giáo: ông giết Giacobê Tiền (42) anh Gioan, và còn đòi xử tử Pherô bấy giờ đang bị giam trong ngục. Chính lúc ấy, Barnabê và Saolô từ Antiokia tới Gierusalem thăm và an ủi các anh em. Nhưng thánh Pherô, sau khi được Thiên thần cứu cho vượt ngục đã trốn khỏi Gierusalem (Cv XII, 6-17).

II- THÁNH PHAOLÔ TRÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO

1. Hành trình thứ nhất (45-49) của thánh Phaolô và Công đồng Gierusalem (49)

Di dân Do Thái bấy giờ vào khoảng 3 triệu (đông gấp 4 hoặc 5 lần số người còn ở lại trong nước). Họ là những thành phần đầu tiên của công đồng Kitô giáo và cũng có thể là những thù địch đáng sợ. Hầu hết họ sống về thương mại. Họ được hưởng nhiều đặc ân trong đế quốc Roma, có khu vực riêng, luật lệ riêng, tòa án riêng, tự do tín ngưỡng và lễ bái. Họ luôn giữ sắc thái dân tộc, chống ảnh hưởng của ngoại bang; trung tâm tôn giáo của họ vẫn tại Gierusalem. Chính vì sự quan tâm đến những người anh em Do Thái này, mà Barnabê và Saolô khởi hành chuyển đi lần thứ nhất (Cv XII, 25- XIV, 27). Và cũng từ đây, lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo bắt đầu.

Mùa xuân năm 45, sau khi lãnh nhận sứ mạng, Barnabê cùng với Saolô vâ Gioan Marcô (cháu của Barnabê) lên tàu tại cửa Seleucia. Trước hết tàu cập bến Salamina, đảo Cypro, quê hương của Barnabê. Ở đây, hai tông đồ đàm thoại với người Do Thái trong hội đường. Tới Paphoa, Saolô rửa tội cho Sergius-Paulus, toàn quyền Cypro. Ông này thích khoa bói toán và quỷ thuật, nên có dùng một phù thủy Do Thái tên là Barjesu. Nghe tin có ba nhà truyền giáo làm dấu lạ, Sergius cho mời Barjesu đến tìm cách ngăn cản, bị Saolô, cũng gọi là Phaolô, quở mắng và phạt mù mắt. Được xem nghe các phép lạ và lời lẽ của thánh tông đồ, quan toàn quyền đã tin theo (Cv XIII, 4-12).

Bỏ Paphos, ba vị qua Tiểu Á, lúc ấy là mùa thu năm 45. Tiểu Á hồi đó gồm 17 xứ, dân chúng theo tôn giáo huyền bí dị đoan. Đặt chân lên hải cảng Attalia (xứ Pamphilia), ba thừa sai tiến vào Perga, gặp một thành phố bỏ hoang vì ôn dịch, Phaolô nhất định đi sâu vào nội địa, nhưng Gioan Marcô thấy đường đi gian nguy vất vả, đã xin rút lui về Gierusalem, mặc Phaolô và Barnabê hết sức khuyên can. [3] Sau nhiều ngày đường trường khó nhọc, Phaolô và Barnabê tới Antiokia (xứ Pisiđia). Một chiều thứ bảy, hai tông đồ vào hội đường Do Thái và được ông chủ sự mời lên nói mấy lời. Bài diễn văn đầu tiên của Phaolô đã gây xúc động trong kiều bào Do Thái; nhưng lần thứ hai, một bọn người ngoan cố tìm cách gây rối. Thấy thế, Phaolô và Barnabê quay sang dân ngoại : “Bởi vì anh em chối nghe lời Chúa, nên chúng tôi quay đi với dân ngoại”. Sau một năm hoạt động hai tông đồ thu được nhiều kết quả. Trước sự tiến triển của giáo đoàn, nhóm Do Thái quá khích nhất định phá, hai ông đành phải ra đi.

Đầu mùa thu năm 46 hai tông đồ tới Iconium (xứ Lycaonia), một thành phố nhỏ cách Antiokia 120km. Ở đây hơn một năm, các ông lập được một giáo đoàn đông đúc. Nhưng cuối cùng, cũng bị nhóm Do Thái ác cảm quấy rối định ném đá, hai ông phải bỏ trốn sang Lystra và Derba cách Iconium khoảng 40km. Vì hai thành phố nhỏ này không phải là nơi thương mại, nên không có người Do Thái; dân chúng sống nghề chăn nuôi và đặc biệt sùng bái thần Jovis và Mercurius. Tới Lystra, hai ông may mắn bắt liên lạc với một gia đình Do Thái độc nhất, tức gia đình của Timotheô, một thiếu niên ngoan ngoãn hiền lành. Tuy sống trong khung cảnh ngoại giáo, Timotheô cũng được bà mẹ dạy cho biết Thánh Kinh, nhưng chưa chịu Cắt bì. Nhà của Timotheô được dùng làm trụ sở cho hai nhà truyền giáo.

Trong một buổi giảng dạy ở Lystra, Phaolô chữa lành một người bất toại từ khi mới sinh. Cho Barnabê là thần Jovis và Phaolô là thần Mercurius giáng thế, dân chúng cấp báo cho sư sãi các chùa mang ít vật đến sát tế. Hai tông đồ phải hết sức can ngăn, họ mới thôi. Tình hình tiến triển đang có lợi cho các ông thì một nhóm Do Thái từ Antiokia và Iconium đến phá. Bị bọn chúng tuyên truyền phỉnh gạt, dân chúng đổi lòng tìm bắt Phaolô, đưa ra ngoài ném đá. Tưởng ngài đã chết, họ bỏ về. Khi trời tối, giáo dân đến mai táng mới biết thánh tông đồ còn sống. Bỏ Lystra, hai ông qua Derba ở đấy chừng một năm và lập được một giáo đoàn thịnh vượng.

Trên đường trở về, hai tông đồ viếng thăm các giáo đoàn đã thiết lập và tổ chức cho có cơ sở vững chắc. Đi đến đâu, các ông cũng được an ủi thấy giáo dân nhiệt thành giữ đạo. Các ông chọn những người đạo đức sáng suốt, đặt tay ban quyền Linh mục và trao trọng trách chỉ huy giáo đoàn. Khi qua Perga, thấy dân chúng đã trở về làm ăn đông đúc, hai tông đồ ở lại giảng dạy ít bữa trước khi xuống Attalia lấy tàu về Antiokia. Về tới nhà, “các ông họp giáo dân tường thuật cho họ nghe bao nhiêu công việc Thiên Chúa đã dùng mình làm và sự dân ngoại đón nhận Tin Mừng”.

Những kết quả hai tông đồ thu hoạch được trên đất dân ngoại đã gây nhiều phản ứng. Ở trong xứ Judea người ta xôn xao bàn tán, rồi những người vô trách nhiệm đến tận Antiokia hạch lạc về sự trở lại của dân ngoại, họ nói: “Phép Rửa không thành, nếu không chịu Cắt bì trước”. Với những người Do Thái mới trở lại và có óc thủ cựu ấy, hai tông đồ đã tranh luận nhiều buổi, nhưng vô ích. Cuối cùng, giáo đoàn Antiokia cử Barnabê và Phaolô đi Gierusalem gặp các tông đồ, để giải quyết dứt khoát vấn đề quan trọng này.

Công đồng Gierusalem được triệu tập năm 49, đặt dưới quyền chủ tọa của thánh Phêrô. Trong Công đồng, Phaolô và Barnabê thuật lại chuyến đi truyền giáo lần thứ nhất với những kết quả tốt đẹp đã thu lượm được. Các ông nói thêm: “Chúng ta không nên ngăn cản bất cứ ai muốn tin theo, cũng không nên bỏ dở công cuộc bắt đầu mà chúng ta đã được chứng kiến nhiều sự lạ lùng”. Pherô đồng ý nói: “Chính nhờ ơn Chúa Giêsu Kitô mà chúng ta tin chúng ta được cứu rỗi, thì họ cũng thế”. Sau đó, với tư cách tông đồ trưởng, thánh Pherô tuyên bố quyết định không buộc những người dân ngoại gia nhập Kitô giáo phải mang “ách” luật Môisen. Giacobê Hậu, lúc ấy đứng đầu giáo đoàn Gierusalem, vốn có tiếng bảo thủ với lễ nghi cổ truyền Do Thái, cũng lên tiếng ủng hộ quyết định của Công đồng, chỉ đòi phải kiêng đồ cúng, máu và thịt những vật chết ngạt, cùng sự gian dâm. Một Thông điệp được gởi đến dân ngoại ở Antiokia, Syria và Cilicia (Cv XI, 1-29; Gl II, 1-10). Vấn đề được giải quyết và Công đồng thứ nhất của Giáo hội đã giải phóng anh em Dân ngoại. Từ nay, với hoạt động của Phaolô, Giáo hội sẽ rộng tay đón nhận họ từ các nơi tràn đến.

2. Hành trình thứ hai (50-52) của thánh Phaolô

Sau Công đồng Gierusalem, Phaolô trở về Antiokia, đề nghị với Barnabê một chuyến đi thứ…

Còn Tiếp