LINH HƯỚNG

Lm. Lê Công Đức

trích dịch từ J. AUMANN, Spiritual Theology, Continuum

Linh hướng là nghệ thuật hướng dẫn linh hồn tiến tới, từ bước đầu của đời sống thiêng liêng cho đến những tầm cao hoàn thiện Kitô giáo. Linh hướng là một nghệ thuật theo nghĩa rằng đó là một khoa học thực hành, được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan siêu nhiên, áp dụng vào một trường hợp cụ thể những nguyên tắc thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo. 

Nó hướng về sự hoàn thiện của đời sống Kitô hữu, nhưng sự hướng dẫn này phải được thực hiện cách tiệm tiến, nghĩa là, phù hợp với khả năng và nhu cầu của linh hồn tại một thời điểm nhất định. Việc linh hướng nên bắt đầu ngay khi linh hồn quyết tâm theo đuổi con đường hoàn thiện Kitô giáo và nên tiếp tục qua các giai đoạn của hành trình ấy.

Đành rằng có nhiều cá nhân đã nên thánh mà không cần có vị linh hướng – điều này cho thấy thực hành linh hướng không tuyệt đối cần thiết – nhưng nói chung, những ai đạt tới hoàn thiện đều cũng đã cần lời khuyên và sự hướng dẫn của một vị linh hướng. Trong ý định quan phòng của Thiên Chúa, việc linh hướng – cách này hay cách khác – là việc cần thiết trong thực tế để đạt được sự hoàn thiện Kitô giáo.

Vị linh hướng có cần phải là một linh mục không? Chúng ta có thể trả lời không chút lưỡng lự rằng thường thì vị linh hướng nên là một linh mục. Có nhiều lý do cho điều này.

Trước hết, linh mục thường có vốn hiểu biết – cả về lý thuyết lẫn thực hành – cần thiết cho việc hướng dẫn các linh hồn. Thứ hai, chức năng của vị linh hướng có liên hệ mật thiết với tác vụ của cha giải tội. Lý do thứ ba nằm ở ân sủng nhận được trong chức linh mục. Thứ tư, trong thực hành của mình, Giáo hội cấm bất cứ ai không phải linh mục, ngay cả các bề trên dòng tu, chất vấn người ta về những vấn đề thuộc lương tâm.[1]

Tuy nhiên, trong trường hợp riêng nào đó, việc linh hướng có thể được thi hành bởi một người khôn ngoan và có kinh nghiệm mà không phải là linh mục. Có nhiều bằng chứng trong lịch sử Giáo hội

về những sự hướng dẫn như thế do các hoàn cảnh đặc biệt đòi hỏi; chẳng hạn, một số vị ẩn tu trong sa mạc và các tu sĩ đầu tiên không phải là linh mục, và sự hướng dẫn được cung cấp bởi Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Inhaxiô Loyola trước khi chịu chức linh mục, Thánh Catarina Siena, Thánh Têrêsa Avila, vv. Sứ vụ hướng dẫn thiêng liêng cho người khác nhận được từ đâu? Nếu đây là trường hợp của một linh mục, ngài nhận quyền này từ Thiên Chúa và từ Giáo hội khi ngài được truyền chức linh mục, trong đó ngài có nhiệm vụ thánh hóa các linh hồn qua thừa tác vụ linh mục của mình. Nhưng việc hướng dẫn cách riêng một linh hồn nào đó được đặt nền trên hai yếu tố thiết yếu: sự tự do chọn lựa của người thụ hướng và sự tự do chấp nhận của vị linh hướng. Không có quyền lực nhân loại nào có thể buộc một ai đó phải nhận sự linh hướng của một vị hướng dẫn nào đó. Cả các tu sĩ và các chủng sinh cũng luôn được bảo đảm tự do trong vấn đề chọn vị linh hướng cho riêng mình. Khi một giám mục cử một linh mục làm cha giải tội cho các tu sĩ (việc này nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc xưng tội hằng tuần của các tu sĩ), thì điều đó không có nghĩa là bắt buộc người tu sĩ phải nhận linh mục ấy làm vị linh hướng của mình.[2] Công việc của cha giải tội không nhất thiết trùng hợp với công việc của vị linh hướng.

Về phần vị linh hướng, ta cần nhìn nhận rằng khi vị mục tử và các linh mục được chính thức trao bổn phận săn sóc các linh hồn tại một giáo xứ nào đó thì, theo lẽ công bằng, vị ấy có bổn phận ngồi tòa giải tội bất cứ khi nào các tín hữu của mình yêu cầu cách chính đáng. Trong trường hợp khẩn cấp, do đức ái đòi buộc, mọi cha giải tội đều có bổn phận nghe các tín hữu xưng tội.[3] Việc linh hướng theo nghĩa chặt của từ ngữ này, ngay cả trong những trường hợp nó được thi hành trong tòa giải tội, vẫn là một chức năng hoàn toàn phân biệt với việc ban bí tích hòa giải. Vì thế, không có luật nào, dù thiên luật hay luật Giáo hội, áp đặt lên linh mục bổn phận phải thi hành chức năng linh hướng theo nghĩa chặt. Một linh mục luôn luôn có tự do để nhận hay từ chối một chức năng như vậy, ngay cả dù ngài có thể làm rất tốt công việc ấy nếu ngài chấp nhận nó.

Vì việc linh hướng rất thường diễn ra trong khi xưng tội, nên cũng cần chỉ ra sự khác biệt giữa việc giải tội và việc linh hướng. Mục đích của việc linh hướng là hướng dẫn một linh hồn tời sự hoàn thiện của đời sống Kitô hữu, và do đó vị linh hướng thiết yếu phải là một vị thầy, một cố vấn, một người hướng dẫn. Cha giải tội, đàng khác, trước hết là một thẩm phán giữ quyền ở tòa trong và có thể, trong những giới hạn của quyền tài phán của mình, đòi buộc hối nhân một bổn phận nghiêm ngặt. Sứ mạng căn bản của cha giải tội là tha thứ tội lỗi nhân danh Thiên Chúa, và để làm điều này đôi khi ngài cần phải buộc hối nhân phải làm gì đó để sự xá giải của bí tích này có hiệu lực. Vị linh hướng thì không có quyền tài phán thuộc tòa trong; ngài không có quyền buộc một bổn phận trên người thụ hướng, trừ phi đương sự tự nguyện hứa vâng phục vị linh hướng của mình; vị linh hướng cũng không lấy việc tha tội làm mục đích, bởi mục đích của ngài là giúp linh hồn ấy hoàn thiện dần dần trong viễn tượng nên thánh.

Ở đây nổi lên câu hỏi liệu vị linh hướng có cần hay có nên đồng thời là cha giải tội thông thường của người thụ hướng. Câu trả lời là: điều đó không thiết yếu, nhưng như vậy thì thuận tiện. Ta không thể nói rằng vị linh hướng phải tất yếu là cha giải tội, vì hai chức năng ấy khác nhau và có thể tách rời nhau [4] Hơn nữa, rất có thể một linh mục đóng vai trò cha giải tội rất tốt nhưng lại không có những năng lực cần thiết cho việc hướng dẫn riêng biệt một linh hồn. Nhưng vì mối liên hệ mật thiết giữa hai chức năng giải tội và linh hướng, sẽ đáng khuyến khích nếu có thể được thì cùng một người đảm nhận cả hai việc này. Có một số lý do ở đây: nó trao nhiều thẩm quyền hơn cho vị linh hướng; nó cho phép tiến hành việc linh hướng trong tòa giải tội; nó giúp vị linh hướng hiểu biết kỹ lưỡng hơn về linh hồn người thụ hướng.

Chúng ta đã đề cập rằng một số linh mục có thể là những cha giải tội rất tốt nhưng không phù hợp để làm vị linh hướng. Điều này có nghĩa rằng công việc linh hướng đòi hỏi những năng lực nhất định. Một số khả năng cần thiết cho công việc linh hướng nói chung; một số năng lực khác thì đòi hỏi nơi con người của vị linh hướng. Loại thứ nhất gọi là các khả năng kỹ thuật, loại thứ hai có thể gọi là các khả năng luân lý.

CÁC KHẢ NĂNG KỸ THUẬT CỦA VỊ LINH HƯỚNG

Về những khả năng này, có lẽ không có tác giả nào trình bày rõ ràng và chi tiết cho bằng Thánh Têrêsa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá. Thánh Têrêsa nêu rõ rằng một vị linh hướng tốt phải là một người hiểu biết, khôn ngoan và có kinh nghiệm. Thánh Gioan Thánh Giá cũng khẳng định rằng một vị linh hướng phải hiểu biết, khôn ngoan và có kinh nghiệm, và ngài nhấn mạnh khía cạnh kinh nghiệm.

HIỂU BIẾT

Vị linh hướng phải có sự hiểu biết quảng bác. Bên cạnh một kiến thức sâu sắc về thần học tín lý (nếu không có sự hiểu biết này, vị linh hướng có thể mắc sai lầm trong những vấn đề thuộc đức tin) và về thần học luân lý (là điều kiện cần để có thể chu toàn chức năng của một cha giải tội), vị linh hướng cần có một sự hiểu biết rộng rãi về thần học khổ hạnh và thần bí. Ngài cần hiểu biết, chẳng hạn, giáo thuyết thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo, nhất là liên quan tới những vấn đề như bản chất của sự hoàn thiện, bổn phận phấn đấu để nên hoàn thiện, các trở ngại cho sự hoàn thiện, các loại thanh luyện, và các phương tiện để tiến đức một cách tích cực. Ngài cần có một sự hiểu biết chi tiết về các cấp độ cầu nguyện, các thử thách mà Thiên Chúa thường gửi đến khi linh hồn tiến lên từ một cấp độ cầu nguyện thấp hơn tới một cấp độ cao hơn, những ảo tưởng và những tấn công của ma quỉ mà linh hồn có thể gặp phải.

Ngài cũng cần am hiểu về tâm lý để nhận ra những tính tình và tính cách khác nhau, những ảnh hưởng tác động trên nhân cách con người, các tình cảm và vai trò của chúng trong đời sống của cá nhân. Ngài cũng phải biết ít nhất là các nguyên tắc căn bản của sự bất bình thường về tâm lý và tâm thần, nhờ đó ngài có thể nhận ra tình trạng mất quân bình tâm thần và những rối loạn thần kinh hay cảm xúc.

Một linh mục cần nhận ra rằng nếu ngài không thích hợp để hướng dẫn một linh hồn nào đó thì ngài phải khuyên đương sự tìm đến một vị khác có sự hiểu biết cần thiết. Một linh mục phải chịu trách nhiệm lớn trước mặt Thiên Chúa nếu cố hướng dẫn một linh hồn trong khi ngài thiếu sự hiểu biết thích đáng. Trong thời của chúng ta hiện nay, với những hiểu biết rộng hơn về các vấn đề tâm thần, vị linh mục cần được cảnh giác cách đặc biệt rằng liên quan đến lãnh vực tâm thần học và các phương pháp trị liệu riêng của ngành y khoa này, ngài chỉ là một “người mù” và không có khả năng xử lý các vấn đề tâm bệnh. Nếu ngài nghi rằng một hối nhân đang có vấn đề tâm bệnh, ngài phải hướng dẫn đương sự tìm đến một bác sĩ tâm thần có chuyên môn, cũng như ngài kỳ vọng các bác sĩ tâm thần sẵn sàng chuyển các bệnh nhân có vấn đề tâm linh đến các giáo sĩ vậy.

KHÔN NGOAN

Đây là một trong những khả năng quan trọng nhất của một vị linh hướng. Nó bao gồm ba yếu tố chính: khôn ngoan trong phán đoán, rõ ràng trong lời khuyên, và kiên quyết trong thuyết phục sự vâng phục. Nếu một vị linh hướng thiếu khôn ngoan, ngài cũng thường thiếu một số nhân đức khác nữa. Khôn ngoan cho phép người ta hành sử đúng trong một hoàn cảnh cụ thể. Việc linh hướng không liên quan tới giáo thuyết tổng quát về thần học linh đạo, cũng không liên quan tới những vấn đề lý thuyết mà người ta có thể tưởng tượng ra, nhưng nó liên quan tới một linh hồn cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể tại một thời điểm nhất định hay trong một giai đoạn nhất định của tiến trình trưởng thành thiêng liêng.

Vị linh hướng không có bổn phận đưa ra những quyết định liên quan tới giáo thuyết nói chung; đa số người ta có thể tìm được những câu trả lời loại này trong bất cứ thủ bản thần học linh đạo chuẩn mực nào. Vai trò của vị linh hướng là nhận ra những hoàn cảnh cụ thể của một trường hợp cụ thể và đưa ra lời khuyên cần thiết vào lúc đó. Để có thể đưa ra một lời khuyên khôn ngoan, vị linh hướng phải có sự thấu cảm nhờ đó ngài có thể đặt mình trong những tình huống cụ thể ấy và phải biết kiên nhẫn để chăm chú lắng nghe. Về những yếu tố khác nhau phá bĩnh sự khôn ngoan, thường thấy nhất là: thiếu hiểu biết về các giai đoạn khác nhau của đời sống khổ hạnh và thần bí, thiếu hiểu biết về tâm lý con người, có những định kiến liên quan tới những bậc sống nào đó hay những thực hành đạo đức nào đó, thiếu khiêm nhường, quá hăng hái đưa ra sự phán xét.

Đặc tính thứ hai của sự khôn ngoan nơi vị linh hướng, đó là sự rõ ràng trong việc trao lời khuyên cho người thụ hướng và trong việc nêu những qui tắc ứng xử. Để có thể đưa ra những hướng dẫn rõ ràng, vị linh hướng cần có sự rõ ràng trong chính suy nghĩ của mình. Khi nói chuyện với người thụ hướng, ngài cần tránh mọi kiểu nói mập mờ hay bất quyết, trái lại phải luôn luôn dùng những cách nói cụ thể và rõ ràng. Ngài phải giải quyết các vấn đề cách gãy gọn chứ không đi hàng hai, và nếu cần, ngài phải dành thời gian để suy xét trước khi đưa ra quyết định. Nếu người thụ hướng nhận thấy rằng vị linh hướng không chắc chắn về quyết định của chính vị ấy, thì anh ta sẽ mất tin tưởng, và việc linh hướng sẽ không có hiệu quả.

Hơn nữa, vị linh hướng cần luôn luôn thành thật, thẳng thắn, và không có chút động cơ vị kỷ nào. Sẽ là một sai lầm tai hại nếu vị linh hướng muốn tránh gây khó chịu cho người thụ hướng nhằm phòng tránh việc anh ta bỏ mình và tìm đến với một vị linh hướng khác. Những linh mục quá chú tâm lôi cuốn và giữ nhiều người thụ hướng với mình thì, bằng chính sự kiện ấy, các vị đang tự chuốc lấy thất bại trong tư cách là linh hướng. Vị linh hướng phải không bao giờ quên rằng mình hành động nhân danh Chúa Thánh Thần trong việc hướng dẫn các linh hồn, và rằng mình phải nhiệt tâm gặp gỡ các linh hồn ấy với sự hiền hòa và thông cảm, nhưng đồng thời cũng phải với sự cương nghị và hết sức thẳng thắn.

Vị linh hướng cũng phải lưu ý để mình không trở thành người bị lèo lái. Một số người rất có tài trong việc ‘cố thủ theo cách của mình trong mọi sự’, và ngay cả vị linh hướng cũng có nguy cơ bị thao túng bởi khả năng này của họ. Vì thế, khi vị linh hướng chắc chắn về quyết định của mình và về con đường nên theo, ngài phải nói rõ ý nghĩ của mình một cách không mập mờ. Phải thuyết phục người thụ hướng rằng chỉ có hai sự chọn lựa: hoặc vâng lời hoặc tìm một vị linh hướng khác.

Nhưng vị linh hướng cũng không được quên rằng ngài không bao giờ đòi hỏi một linh hồn bất cứ gì không phù hợp với bậc sống hay ơn gọi của linh hồn ấy, hoặc không phù hợp với khả năng hay hoàn cảnh hiện thời của linh hồn ấy. Ngài phải nhận ra rằng có một số điều có thể được yêu cầu đối với các linh hồn đã tiến đủ xa nhưng không thể đòi hỏi những người mới bắt đầu chập chững; cũng vậy, một số điều có thể thích hợp với một linh mục hay một tu sĩ nhưng không thích hợp đối với một giáo dân. Sự nghiêm khắc quá đáng sẽ chẳng đem lại gì ngoại trừ gây hoảng sợ cho các linh hồn và có thể làm cho người ta từ bỏ con đường hoàn thiện. Vì thế, có rất nhiều sự khác biệt giữa sự cương nghị trong yêu cầu người ta vâng phục và sự nghiêm khắc quá đáng vốn có thể làm nhụt chí người ta.

KINH NGHIỆM

Đây là một trong những năng lực quí nhất của một vị linh hướng. Ngay cả dù một vị linh hướng có những giới hạn trong kiến thức và một cách nào đó bị hạn chế trong khôn ngoan, kinh nghiệm của ngài có thể bù đắp đáng kể. Điều này không có nghĩa rằng kinh nghiệm của vị linh hướng thiết yếu phải xuất phát từ đời sống thiêng liêng của chính ngài, vì ngài có thể thu thập được kinh nghiệm từ sự quan sát của mình và từ việc hướng dẫn những người khác.

Liên quan đến kinh nghiệm bản thân của vị linh hướng, nếu đây là vấn đề hướng dẫn một Kitô hữu trung bình, ngài không cần kinh nghiệm nhiều hơn bất cứ linh mục nào trung thành chu toàn các bổn phận của thừa tác vụ thánh chức. Nhưng nếu đây là vấn đề hướng dẫn một linh hồn đã tiến khá xa và đã bước vào các giai đoạn thần bí của đời sống thiêng liêng, thì vị linh mục linh hướng cần có một kinh nghiệm nào đó về những giai đoạn cao hơn trong đời sống thiêng liêng. Nếu ngài thiếu kinh nghiệm này, thì một sự khôn ngoan tinh tế cộng với sự hiểu biết đúng mức về các giai đoạn thần bí cũng có thể giúp ngài làm việc linh hướng trong đa số các trường hợp.

Nhưng duy chỉ kinh nghiệm bản thân thì không đủ để làm cho một người trở thành vị linh hướng hữu hiệu như mong muốn. Có nhiều nẻo đường qua đó Chúa Thánh Thần hướng dẫn các linh hồn tới đỉnh cao thánh thiện. Và sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu vị linh hướng cố dẫn dắt tất cả các linh hồn theo chỉ một nẻo đường và áp đặt lên họ các kinh nghiệm của riêng mình, cho dù những kinh nghiệm ấy tỏ ra tốt cho mình đến mấy đi nữa. Vị linh hướng không bao giờ được quên rằng ngài chỉ là một dụng cụ trong tay Chúa Thánh Thần và rằng công việc của ngài phải hoàn toàn được đặt trong sự qui phục Chúa Thánh Thần. Nếu thiếu hiểu biết về các ân huệ thần linh đa dạng và về vô số những con đường hoàn thiện khác nhau, ngài có thể bắt ép các linh hồn đi trên chỉ một con đường, và như vậy ngài trở thành một vật cản thực sự đối với hoạt động của ân sủng trong linh hồn người ta.

CÁC KHẢ NĂNG LUÂN LÝ CỦA VỊ LINH HƯỚNG

Các khả năng luân lý không thể thiếu nơi một vị linh hướng là: lòng đạo đức, nhiệt tâm thánh hóa các linh hồn, lòng khiêm nhường, và tinh thần vô cầu. Vì ít người có tất cả những khả năng này, nên cũng không có nhiều vị linh hướng xuất sắc. Nhưng không nên nghĩ rằng nếu một người không thể tìm được một vị linh hướng tuyệt vời thì anh ta không thể đạt được sự hoàn thiện. Nếu một linh hồn có lòng khát khao nóng bỏng nên thánh và trung thành phấn đấu để cộng tác với ân sủng mà Thiên Chúa ban cho, thì linh hồn ấy sẽ hoàn toàn có thể nên thánh, ngay cả dù vị linh hướng không có tất cả những khả năng cần thiết. Thật vậy, một linh hồn như thế có thể đạt tới hoàn thiện mà thậm chí không cần có một vị linh hướng. Không phải các vị linh hướng tạo ra các vị thánh; nên thánh chủ yếu là công việc của Thiên Chúa và sự cộng tác của linh hồn.

LÒNG ĐẠO ĐỨC

Thật dễ hiểu tại sao vị linh hướng cần có lòng đạo đức, và Thánh Gioan Thánh Giá nhấn mạnh cách riêng khả năng này.[5] Lòng đạo đức của một vị linh hướng phải được thấm nhuần bởi những chân lý căn bản của đời sống Kitô hữu. Nó phải qui Kitô cách rõ ràng và phải hướng về vinh quang Thiên Chúa. Vị linh hướng cũng phải được thúc đẩy bởi cảm thức sâu xa về ơn gọi làm nghĩa tử của Thiên Chúa, nhờ đó ngài có thể nhìn thấy Thiên Chúa trước hết như một người Cha đầy yêu thương. Ngài cũng phải có một tấm lòng yêu mến đặc biệt đối với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta. Ngài cần thực hành hồi tâm và siêu thoát khỏi những sự phàm tục. Một vị linh hướng được thúc đẩy bởi những cảm thức này sẽ hoàn toàn dễ dàng trong việc hướng dẫn các linh hồn. Ngài sẽ hiểu ngôn ngữ của những người thụ hướng và sẽ có thể đối thoại với họ. Sự hiểu biết của bản thân ngài về Thiên Chúa và về những thực tại thuộc linh sẽ cung cấp cho ngài một sự nhận hiểu mà không một khoa học đắc thủ nào có thể cung ứng. Một lòng đạo đức như thế rõ ràng là khả năng luân lý thứ nhất và nền tảng nhất mà một vị linh hướng cần có.

NHIỆT TÂM THÁNH HÓA CÁC LINH HỒN

Nhiệt tâm thánh hóa các linh hồn là hệ quả đương nhiên của lòng đạo đức nơi vị linh hướng. Nhiệt tâm, như Thánh Tôma giải thích, là hoa quả của một tình yêu mãnh liệt. Lòng yêu mến Thiên Chúa thúc bách chúng ta làm việc cho sự mở rộng Nước Thiên Chúa nơi các linh hồn, và tình yêu đối với các linh hồn giúp chúng ta có thể quên mình và chỉ nghĩ đến việc thánh hóa các linh hồn trong Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Đây chính là nhiệt tâm đã thúc đẩy Thánh Phaolô trở nên mọi sự cho mọi người nhằm để chinh phục mọi người, và cũng nhiệt tâm này đã đem lại cho ngài lòng thấu cảm tuyệt vời nhờ đó trọn vẹn hiện hữu của ngài được gắn kết với người khác trong niềm vui , nỗi buồn hay những khổ đau của họ (1Cr 9,22). Thiếu nhiệt tâm nóng bỏng này, việc linh hướng sẽ mất sức mạnh của nó bởi vì chính vị linh hướng sẽ đánh mất động cơ để kiên trì trong những cố gắng của mình cho dù gặp những khó khăn, và như vậy việc linh hướng sẽ trở thành một gánh nặng phải vác lấy.

Tuy nhiên, nhiệt tâm cũng luôn có nguy cơ biến thành một sự cứng nhắc đầy cố chấp và do đó gây hại lớn cho người thụ hướng. Vì vậy, nó phải được quân bình bằng một tính cách dịu dàng và nhân hậu. Vị linh hướng phải được thúc đẩy bởi cùng những tâm tư như đã thúc đẩy Đức Giêsu Kitô, là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta.

Nếu vị linh hướng quá nghiêm khắc và thiếu khoan nhân, ngài sẽ làm nản chí người thụ hướng và có thể làm cho đương sự rời bỏ con đường nên thánh. Vị linh hướng cần biết thương cảm, nhất là đối với những linh hồn bị cám dỗ nặng nề và cảm thấy khó mở lòng mình ra cho ngài, hay đối với những linh hồn có bản tính yếu đuối và dễ ngả nghiêng. Vì thế lòng nhân hậu của vị linh hướng sẽ giúp ngài đóng vai trò người bạn đường thực sự trong cố gắng xây dựng hình ảnh Đức Kitô nơi các linh hồn được ủy thác cho mình.

KHIÊM NHƯỜNG

Vị linh hướng cũng cần một lòng khiêm nhường thẳm sâu. Có ba lý do cho điều này. Trước hết, Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Tất cả kiến thức và sự khôn ngoan của người ta sẽ có nghĩa gì nếu người ta thiếu khiêm nhường? Thứ hai, Vị linh hướng cần khiêm nhường để ngài biết nghi ngờ chính mình khi cần và không nóng vội giải quyết các khó khăn mà không suy nghĩ trước cách thấu đáo. Lòng khiêm nhường sẽ thúc đẩy ngài nghiên cứu và suy niệm để trao lời khuyên cho những người khác có hiểu biết hơn chính ngài. Bằng cách này ngài sẽ tránh nhiều sai lầm và nhiều sự bối rối thường xảy ra cho những ai do tự mãn mà không biết nghi ngờ chính mình. Thứ ba, trong linh hướng, lòng khiêm nhường sẽ thu hút các linh hồn, trong khi tính kiêu ngạo thì đẩy người ta ra xa. Về mặt này vị linh hướng cũng phải bắt chước Đức Kitô, Đấng nói về chính mình rằng Ngài hiền lành và khiêm hường trong lòng và Ngài chỉ tìm kiếm vinh quang cho Cha.

VÔ CẦU

Cuối cùng, vị linh hướng phải yêu thương các linh hồn một cách vô cầu, nghĩa là ngài không tìm cách hướng dẫn họ vì để thỏa mãn cái gì nơi bản thân hay để nhận được cái gì, nhưng chỉ để dẫn họ đến với Thiên Chúa. Thánh Augustinô quả quyết rằng những ai hướng dẫn đoàn chiên của Đức Kitô như thể đó là đoàn chiên của chính mình chứ không phải của Đức Kitô, thì cho thấy họ đang yêu chính mình chứ không phải yêu mến Chúa. Nhờ một tình yêu vô cầu, vị linh hướng sẽ phòng tránh nhiều cám dỗ có thể nổi lên liên quan đến tính kiêu ngạo và những tình cảm thuộc cảm tính, và ngài sẽ có thể tôn trọng tự do của các linh hồn mà ngài hướng dẫn.

Chúng ta đã đề cập rằng cả vị linh hướng lẫn người thụ hướng đều hoàn toàn tự do. Nếu sự tự do này được tôn trọng, thì vị linh hướng sẽ không bao giờ tỏ ra khó chịu khi người thụ hướng bỏ cuộc với mình, và chắc chắn ngài sẽ không nhìn các vị linh hướng khác như những đối thủ cạnh tranh. Để giữ sự siêu thoát và tính vô cầu này, vị linh hướng sẽ không bao giờ – trong bất luận trường hợp nào – nhận bất cứ quà biếu nào như sự trả ơn cho công việc mà ngài làm cách riêng cho một ai đó, cũng như ngài sẽ không bao giờ áp đặt lên người ta bất cứ loại hy sinh hay khổ chế nào vì ích lợi nào đó của chính ngài.

[1] Cf. Codex Juris Canonici, can. 530.

[2] Ibid., can. 519-23.

[3] Ibid., can. 892.

[4] Giáo luật khoản 891 tuyên bố rằng vị giám đốc của một chủng viện hay vị giám tập có thể là người linh hướng cho những người thuộc quyền mình, nhưng không thể là cha giải tội trong trường hợp thông thường.

[5] Cf. The Living Flame of Love, trans. E. Allison Peers (Westminster, Md.- Newman, 1957), Canticle 3.