MƯỜI BA NÉT MẶT TÌNH YÊU – số tháng 11, 2019

Micae – Phaolô Trần Minh Huy pss – tiếp theo

CHƯƠNG MƯỜI MỘT : TÌNH YÊU HÂN HOAN VÌ CHÂN LÝ

1. Tình yêu vui mừng vì điều thiện :

Bài ca đức ái đặt đối nghịch bất công (sự dữ) với chân lý. Tình yêu không thể vui mừng vì sự dữ mà không phủ nhận chính mình. Trái lại, chính bản chất tự nhiên của tình yêu là vui mừng vì chân lý và chia sẻ niềm vui ấy. Theo nghĩa Kinh Thánh, chân lý chính là sự trung tín của Thiên Chúa với những gì Ngài đã hứa. Nhưng ở đây, khi được đặt đối nghịch với bất công, từ ngữ nầy có lẽ có nghĩa là một sự thật luân lý, là sự ngay thẳng trong cuộc sống.

Tình yêu vui mừng về tất cả những gì nó tìm thấy là ngay thẳng, là đẹp đẻ, là tốt lành chung quanh nó. Chúng ta có thể nói rằng vấn đề quan trọng là có một cái nhìn tích cực về tất cả những gì ở quanh chúng ta. Thực ra còn hơn thế nữa : Đó chính là được nuôi dưỡng cách sâu xa bởi tất cả những hạt giống của Thánh Thần mà chúng ta có thể nhận lãnh không ngừng trên suốt những ngày sống của chúng ta. Đó là điều mà Thánh Phaolô đã nói : “Thưa anh em, những gì là chân thật cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Ph 4, 8).

Chung quanh chúng ta diễn ra lẫn lộn sự dữ và sự lành, bất công và chân lý. Tình yêu ở với chúng ta canh tân chúng ta từ bên trong. Tình yêu ấy lôi kéo chúng ta đến điều thiện, đến công bằng hầu làm cho chúng ta tìm được niềm vui. “Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối. Anh em phải để Thánh Thần đổi mới anh em và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4, 22-24). “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5, 8-9). “Vậy hãy đứng vững : lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an” (Ep 6, 14-15).

Chúng ta có ít nhất một điểm qui chiếu, đó là cách mà các phương tiện truyền thông, báo chí, truyền thanh, truyền hình quan tâm trước hết đến những gì không xuôi, đến cái xấu hiện tại trong thế giới… Mỗi người có thể hơi hơi giống như thế : bi quan về những cái bên lề, và vạch lá tìm sâu… Thực ra, thái độ của người tín hữu được Chúa Thánh Thần canh tân là hoàn toàn ngược lại : một đàng khám phá ra và làm nổi bật giá trị của những gì là thiện, là mỹ trong những cái ở chung quanh chúng ta, vui mừng thấy Thiên Chúa đang hành động, ngay cả ở nơi chúng ta không chờ đợi… và đàng khác lại gieo rắc điều thiện : “Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng. Vậy bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho những anh em trong cùng đại gia đình đức tin” (Gal 6, 9-10).

2. Thánh Thần giúp tìm ra con đường chân lý :

Có lẽ bạn nghĩ rằng điều vừa viết có thể là lý tưởng đấy, nhưng thực sự không phải là cái bạn thấy ! Bạn có lý, bởi vì chúng ta luôn ở bên nầy cái mà Chúa đang chờ đợi nơi chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta cần phải phó mình cho Chúa Thánh Thần đang ngự trong chúng ta : “Khi nào Thánh Thần Chân lý đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Jn 6, 13). Chúng ta phải không ngừng cầu xin Chúa Thánh Thần : Lạy Chúa Thánh Thần, xin soi sáng cho con, xin hướng dẫn con, xin làm cho con khám phá ra và yêu mến sự hiện diện của Chúa là Tình Yêu, Chúa là Đấng luôn hiện diện trong lòng thế giới nầy …

“Chúng ta càng kêu xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho chúng ta về Chân Lý, Ngài càng dẫn dắt chúng ta khám phá được cái bên kia của các biểu diện bên ngoài. Trí khôn được Chúa Thánh Thần Tình Yêu soi dẫn sẽ biện phân được sự thật ẩn chứa sâu xa trong các con người, các tình huống, các sự vật và sẽ được hân hoan vì nó. Trí khôn sẽ hưởng nếm sự khôn ngoan ẩn dấu của Thiên Chúa, vốn hằng tỏ mình ra. Trí khôn con người từ bỏ chính mình khi không tìm kiếm chân lý, cũng như nó từ bỏ chính mình khi tự mãn về ý ngay lành, sự chân thật của mình và khi không đón nhận những gì Chúa đã nói qua mạc khải, cũng như các con người và các biến cố”

Chúa Giêsu đã giáo dục các môn đệ cái nhìn biết thấy xa hơn những biểu diện bên ngoài, dù xem ra tốt lành. Chỉ có cái nhìn nầy cho ta đón nhận được niềm vui chân thật vốn là một hoa quả của Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn đoạn Tin Mừng nói về việc 72 môn đệ được sai đi truyền giáo từng hai người một, lúc trở về vui mừng khẳng định : “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con. Chúa Giêsu bảo các ông : Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10, 17-20).

Có lẽ các môn đệ hơi bị ngây ngất vì đã kinh nghiệm được quyền năng nhiệm mầu của Chúa Thánh Thần trong khi họ thi hành nhiệm vụ. Chúa Giêsu kéo họ về với những thực tại sâu xa hơn : người môn đệ không xác định mình bởi hành động phục vụ Thầy, dù hành động đó mạnh mẽ đến đâu, nhưng là bởi ân sủng được dự phần nhận lãnh vinh quang bên cạnh Chúa Cha… Đó mới thật là Chân lý, đó mới thật là niềm vui đích thực… Và chính Chúa Giêsu cũng cảm kích trước vẻ đẹp của sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà kinh ngạc : “Ngay giờ ấy, được Chúa Thánh Thần tác động, Chúa Giêsu vui mừng hớn hở nói : Lạy Cha là chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10, 21).

Nếu chúng ta đặt lại lời cầu nguyện nầy trong lòng tình huống của Chúa Giêsu lúc bấy giờ, chúng ta thấy được rằng sứ điệp của Chúa Giêsu không được các thành phố quanh biển hồ Tibêria đón nhận, chỉ có những người nghèo hèn và bé nhỏ mở lòng ra với những phong phú mà Ngài đã lãnh nhận từ Chúa Cha để trao ban cho mọi người… Tuy nhiên, sự khôn ngoan của Tình Yêu Thiên Chúa được tỏ lộ ra trong lòng sự thất bại nầy : Tình Yêu bị đóng đinh của Chúa Cha và Chúa Con chỉ được đón nhận bởi một tâm hồn khiêm tốn và tước bỏ hết mọi tự phụ cao ngạo… Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh tương tự trong thư gởi tín hữu Rôma, khi nói về sự đau khổ của ngài vì các anh em Dothái từ chối Đức Giêsu như là Đấng Thiên Sai : “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào ! Quyết định của Người ai dò cho thấu ! Đường lối của Người ai theo dõi được ! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa ? Ai đã làm cố vấn cho Người ? Ai đã cho Người trước để Người phải trả lại sau ? Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và qui hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời. Amen” (Rm 11, 33-36).

Như Chúa Giêsu và thánh Phaolô, chúng ta cũng có thể nhảy lên vui mừng khi để Chúa Thánh Thần cho chúng ta biện phân được sự có mặt của Chân Lý của Thiên Chúa… Với Mẹ Maria, Đấng mà tâm trí “nhảy mừng trong Thiên Chúa cứu độ” (Lc 1, 47), chúng ta sẽ sống lời cầu nguyện tạ ơn.

3. Tình yêu làm chứng niềm vui chân lý ban tặng :

“Tất cả mọi người đều lo tìm kiếm chân lý, nhất là trong những gì liên quan đến Thiên Chúa và Giáo Hội của Người. Và một khi đã nhận biết chân lý thì họ ôm chặt chân lý và luôn trung thành với chân lý. Bổn phận ấy xuất phát tự “chính bản chất của con người”. Bổn phận nầy không nói nghịch lại “sự tôn trọng chân thành” đối với các tôn giáo khác nhau “thường mang lại một tia sáng chân lý chiếu soi cho mọi người”, cũng chẳng nghịch lại yêu sách bác ái vốn thúc đẩy các kitô hữu “hành động với tình yêu thương, cẩn trọng, nhẫn nại đối với những ai đang ở trong lầm lạc hoặc trong sự vô tri đối với đức tin”.

“Chính vì thế mỗi người chúng ta, nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức, được thiết lập làm chứng nhân chân lý. Chúa Giêsu nói về Gioan Tẩy Giả : “Ông đã làm chứng cho Chân Lý” (Jn 5,33). Và Chúa Giêsu khẳng định về chính Người trước mặt Philatô : Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích nầy là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Jn 18, 37). “Người tín hữu không được hổ thẹn làm chứng cho Chúa” (cf 2 Tim 1,8). Trong những tình huống đòi hỏi xác nhận đức tin, người tín hữu phải dứt khoát tuyên xưng đức tin chứ không lập lờ, theo gương thánh Phaolô trước các quan tòa. Người tín hữu phải giữ “một lương tâm không có gì khiển trách được trước mặt Thiên Chúa lẫn người đời”(Ac 24, 16)”.

Việc làm chứng cho Chúa Giêsu đã luôn khó khăn. Ngay từ những buỗi đầu Phúc Âm, các kitô hữu đã phải đương đầu với thực tại tử đạo, là hình thức cao nhất của việc làm chứng tá. Chúng ta cần nhớ lại điều đó khi chúng ta biểu lộ những do dự để tuyên bố thuộc về Chúa trong những tình huống cụ thể. Vì thế, chúng ta cần mở rộng lòng chúng ta ra với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, trong thời gian cầu nguyện hằng ngày, đều đặn và bền vững, để trở nên những chứng nhân bạo dạn cho Chân Lý.

“Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần trí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thánh Thần mang đến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ” (2 Tim 1, 7).

“Điều người ta chờ đợi nơi mọi người rao giảng Phúc Âm là họ có lòng tôn kính chân lý, càng hơn thế vì chân lý mà họ đào sâu và truyền thông không là gì khác hơn là chân lý đã được mạc khải và do đó, hơn hết tất cả, mà chân lý đệ nhất là chính Thiên Chúa. Vậy người rao giảng Phúc Âm sẽ là người luôn luôn tìm kiếm chân lý mà mình phải chuyển đạt lại cho kẻ khác, dù có phải trả giá bằng sự từ bỏ bản thân và đau khổ. Người rao giảng Phúc Âm không bao giờ phản bội lại hay che giấu chân lý vì nỗi lo muốn làm vui lòng con người, sợ làm ngạc nhiên hay va chạm, mà cũng chẳng vì tính độc đáo hay ước muốn xuất hiện nổi hơn người. Người không từ chối chân lý. Người không làm chân lý mạc khải ra tối tăm, vì lười biếng tìm kiếm chân lý, vì tiện nghi, vì sợ sệt. Người không quên lãng việc học hỏi chân lý. Người quảng đại phục vụ chân lý, chứ không nô lệ hóa chân lý”

“Nếu chúng ta sống niềm vui nội tâm làm cho cuộc đời  chúng ta phù hợp với chân lý, chúng ta cũng sẽ biết chuyển đạt niềm vui ấy cho kẻ khác.”Chớ gì mọi người của thời đại chúng ta đang tìm kiếm, khi thì trong lo âu, lúc lại trong hy vọng, có thể lãnh nhận được Tin Mừng, không phải bởi những người rao giảng Phúc Âm buồn phiền và chán nãn, thiếu nhẫn nại và lo âu, nhưng là từ những thừa tác viên của Phúc Âm mà đời sống tỏa rạng lòng nhiệt thành, họ là những người đầu tiên nhận lãnh trong mình niềm vui của Chúa Kitô và chấp nhận cống hiến cuộc đời mình để Nước Trời được loan báo và Giáo Hội được bén rễ vào lòng thế giới”

4. Tình yêu từ chối sự dối trá :

Trong bài suy niệm về cách thức mà Tình Yêu chia sẻ niềm vui của chân lý nầy, ta không thể nào được quên nói về sự dối trá. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ tình yêu vô điều kiện đối với chân lý : “Lời các con phải có thì nói có, không thì nói không” (Mt 5, 37). Sách Giáo Lý Công Giáo dành cả một chương chú giải điều răn thứ tám nhấn mạnh tầm quan trọng của chân lý trong tương quan với tha nhân (số 24642513). Một đoạn liên quan đến nói dối và nêu lên các trích dẫn là điều tốt, bởi vì chúng ta cần nắm rõ tác động của việc nói dối trên cuộc sống xã hội của chúng ta : “Khi nói dối, người ta trực tiếp xúc phạm đến chân lý. Nói dối là nói hay hành động nghịch với chân lý để lừa gạt. Nói dối làm hại đến tương quan giữa con người với chân lý và con người với nhau, nên kẻ nói dối xúc phạm đến tương quan nguyên thủy giữa con người và lời nói của con người với Thiên Chúa” (Giáo Lý Công Giáo số 2483).

“Nói dối, (vì xúc phạm đến đức tính chân thật), thực sự là một hành vi thô bạo đối với kẻ khác, xâm phạm đến khả năng nhận thức là điều kiện để họ phán đoán và quyết định. Nói dối gây chia rẽ giữa người với người, và mọi tệ hại do chia rẽ mà ra. Nói dối là tai họa cho mọi xã hội, làm cho người ta không còn tin tưởng nhau, và phá hoại những mối tương giao trong xã hội” (số 2486).

“Ai lỗi phạm đến công bình và chân lý đều phải đền bù, dù đã được thứ tha. Khi không thể đền bù cách công khai thì phải làm kín đáo ; nếu không thể đền bù cách trực tiếp cho người bị hại thì phải đền bù về tinh thần và đức ái. Ai lỗi phạm đến thanh danh kẻ khác cũng phải đền bù như thế. Phải đền bù tinh thần và đôi khi về mặt vật chất tương xứng với thiệt hại đã gây ra. Đây là nghĩa vụ lương tâm” (số 2487).

Phải kết thúc rồi chăng ? – Không, vì chủ đề nầy cần phải được khai triển thêm nhiều. Nhưng trong khi kết thúc bài suy niệm nầy, cùng với thánh Catarina đệ Siêna, chúng ta cầu mong Lời Chúa đánh thức chúng ta :”Thiên Chúa không muốn và không tìm kiếm cái gì khác ngoài sự thánh hóa chúng ta. Chính vì điều đó mà Ngài đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh và nên giống Ngài, và Ngôi Lời dịu dàng đã muốn trao ban mạng sống Ngài với biết bao yêu thương, và như thế Ngài đã tỏ chân lý của Ngài cho chúng ta. Linh hồn nhìn ngắm chân lý cách rõ ràng thì không còn mê ngủ nữa, nhưng sẽ tỉnh dậy và hăm hở tìm kiếm cách thức, con đường và thời giờ để kiện toàn chân lý. Linh hồn không để việc ấy qua ngày mai, vì nó không chắc có được chân lý”

SUY NIỆM ĐỂ LẦN HẠT MÂN CÔI

  1. Tình yêu vui mừng vì sự thật. “Thưa anh em, những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì anh em hãy để ý” (Phil 4,8). Người tín hữu được Chúa Thánh Thần đổi mới khám phá ra được và coi trọng tất cả những gì là thiện là mỹ ở chung quanh mình, người hân hoan nhận thấy Chúa làm việc ở cả những nơi mà người chẳng hề chờ đợi. Chúng ta hãy cầu xin ơn nầy cho chúng ta để gieo vải niềm vui trong gia đình chúng ta.
  2. Tình yêu vui mừng vì sự thật. Trước mặt bà Isave, Mẹ Maria vui mừng cách sâu xa vì ơn đã làm cho Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa : “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1,46-47). Mẹ Maria đón nhận Chân lý sứ mệnh mình, và Mẹ đã không sợ tỏ lộ niềm vui vì nó một cách công khai. Chúng ta hãy xin ơn ca tụng trong khiêm tốn, vì khiêm nhường chính là chân lý.
  3. Tình yêu vui mừng vì sự thật. Chúa Giêsu đã nói : “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Jn 14,6). Ngài cũng nói : “Ai thuộc về Chân Lý thì nghe tôi” (Jn 18,37). Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người nam cũng như nữ đang tìm kiếm Chân Lý. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần đánh động lòng họ nhờ ơn soi sáng của Ngài.
  4. Tình yêu vui mừng vì sự thật. Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu khẳng định : “Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy chỉ để làm chứng cho Chân Lý” (Jn 18,37). Chúng ta hãy cầu nguyện để chúng ta là những chứng nhân đích thực cho Chân Lý là Chúa Giêsu và đang được Giáo Hội truyền đạt.
  5. Tình yêu vui mừng vì sự thật. Chúa Giêsu đã dạy tình yêu vô điều kiện đối với chân lý cho các môn đệ của Người : “Lời của các con phải có thì nói có, không thì nói không” (Mt 5,37). Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chúng ta quen biết được.

Bây giờ chúng ta đã tới cuối bài ca Đức Ái mà thánh Phaolô kết luận bằng bốn khẳng định : tình yêu tha thứ tất cả, tình yêu tin tưởng tất cả, tình yêu hy vọng tất cả, tình yêu chịu đựng tất cả. Chúng ta nhận thấy các khẳng định nầy liên kết với nhau bởi cùng một chữ tất cả, mà chúng ta có thể hiểu trong nghĩa trạng từ là trong tất cả mọi cảnh ngộ, là luôn luôn…

Và trong bốn khẳng định nầy, thánh Phaolô nhấn mạnh rằng tình yêu đến làm sống động từ bên trong đức tin và niềm hy vọng. Vậy chúng ta có thể gộp các khẳng định nầy thành từng đôi :

– Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng,

– Tình yêu luôn hy vọng và chịu đựng tất cả.

Sự giải thoát do đức ái thực hiện cho phép đưa đức tin và niềm hy vọng vào họat động. Đức tin vào Thiên Chúa và lòng tin tưởng vào tha nhân, Hy vọng nơi Thiên Chúa và tha nhân là những công trình chính yếu của đức ái. Tình yêu phát sinh “tha thứ và trung tín” trong các hành động hướng về tha nhân : tha thứ và vẫn trung thành dù việc gì xảy đến đi nữa.

Trước tiên, chúng ta hãy đề cập đến sự tha thứ, được phát sinh từ lòng tin tưởng và nuôi dưỡng lòng tin tưởng.

1. Tình yêu tha thứ :

Trong Phúc Âm theo thánh Luca, khi Chúa Giêsu công khai tỏ mình ra là Đấng Thiên Sai, Ngài bắt đầu từ Nazareth. Chính là trong một buổi phụng tự ở hội đường, lúc Chúa Giêsu đọc một đoạn sách tiên tri Isaia : “Thánh Thần ngự xuống trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa… Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” (Lc 4,16-22).

Chúa Giêsu đến loan báo tình yêu, sự từ tâm, lòng tốt, lòng nhân hậu, ân sủng của Thiên Chúa… như thánh Gioan đã viết trong lời tựa Phúc Âm của ngài : “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn nầy đến ơn khác” (Jn 1,16). Với cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, chúng ta được ân huệ tha thứ của Thiên Chúa : “Ngài đã xóa bỏ văn tự nợ của chúng ta. Ngài đã xóa bỏ nó bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” Ơn tha thứ nầy đều như nhau cho tất cả mọi người, vì tất cả chúng ta đều là người có tội. Chúng ta còn phải đón nhận ơn tha thứ nầy với lòng biết ơn, ý thức rằng chúng ta cần đến ơn tha thứ đó. Đó là điều đã khiến Chúa Giêsu nói với ông biệt phái Simon, vì ông đã nhìn quàng xiên người đàn bà có tội công khai đến tỏ lòng biết ơn đối với Chúa Giêsu : “Một chủ nợ kia có hai con nợ, một người nợ năm trăm quan tiền, một người nợ năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy ai trong hai người đó mến chủ nợ hơn ? Ông Simon đáp : tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn. Chúa Giêsu bảo : Ông xét đúng lắm” (Lc 7, 41-43).

Chúng ta bị mắc nợ không thể cứu chữa đối với tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta luôn luôn ở bên nầy những gì mà Ngài chờ đợi ở chúng ta, nên ít nhiều chi chúng ta đều cần được tha thứ… Chúa Giêsu ban ơn nầy cho những ai mở lòng ra. Ngài cũng loan báo ân huệ ấy xuyên qua các dụ ngôn làm hoang mang cả những hào phóng phong phú nhất của chúng ta. Chúng ta hãy nhớ lại dụ ngôn hai người con và sự đón tiếp người cha dành cho đứa con trở về nhà sau khi đã phung phí hết phần gia tài của nó trong một cuộc sống trụy lạc : “Lúc anh ta còn ở đàng xa, người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương chạy ra ôm lấy và âu yếm hôn anh ta. Bấy giờ người con mới nói rằng : Thưa cha, con đã đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng được gọi là con cha nữa… Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ : Mau mang áo đẹp nhất ra đây mà mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay cậu, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng, vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 20-24).

“Tình yêu ban tặng tất cả và thổ lộ tâm tình. Nhưng chúng ta thường chỉ cho đi sau khi được giải thoát, chúng ta do dự hy sinh những lợi ích tạm thời cũng như thiêng liêng. Đó không phải là tình yêu. Tình yêu là mù quáng, là một dòng suối chẳng để lại gì trên đường nó đi qua !”

2. Tình yêu phủ lấp mọi lầm lỗi.

Động từ “phủ lấp” mà thánh Phaolô dùng trong bài ca đức ái nầy có nghĩa là tình yêu đặt một mái che trên tội lỗi, cả đến như nhốt tội lỗi trong một nấm mồ… Đó là lý do khiến một số người dịch là tình yêu phủ lấp mọi sự hoặc tình yêu che giấu mọi sự… Để tránh mọi hàm nghĩa khiến người ta nghĩ rằng bác ái đòi phải làm cho mình nên đồng lõa với sự dữ, tôi thích lối dịch nầy hơn : tình yêu tha thứ tất cả.

Chúa Giêsu vạch rõ cho chúng ta tấm lòng của Chúa Cha : ân sủng và lòng nhân hậu vượt quá mọi mức độ… Vì vậy chúng ta không được tự biến thành những phán quan tôn giáo pháp đình đối với những người chung quanh, bằng cách duy trì một chút ngờ vực … (“Điều đó chẳng làm tôi ngạc nhiên về nó…”). Tình yêu là kín đáo, thánh Phaolô viết  như vậy trong bài ca đức ái. Và điều đó cũng có giá trị đối với tội lỗi, những sai sót, những bất công, những lỗi lầm của tha nhân đối với chúng ta. Chúng ta hãy tìm lấy Tình Yêu mà che lấp chúng đi.

Thánh Phêrô viết : “Anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” ( I Pet 4,8), khi trích dẫn sách Châm ngôn: “Ghen ghét sinh cãi vã, tình yêu khỏa lấp mọi lỗi lầm” (Cn 10, 12). Sự khoan dung nầy của tình yêu góp phần vào cái nhìn tái tạo mà Thiên Chúa mang lại cho mỗi người chúng ta. Thiên Chúa là Cha và coi chúng ta là con cái của Ngài. Chúa không nhìn thấy trước hết các lỗi lầm của chúng ta đối với Ngài. Sự khoan dung của tình yêu cũng là một đòi hỏi thanh tẩy : cái mà chúng ta phải bận tâm và làm nên đối tượng những chia sẻ của chúng ta, chính là điều thiện chứ không phải là điều dữ. Chúng ta đừng làm cho mình trở thành những phát ngôn viên của sự dữ… Chúng ta đừng đến nhà người khác để vạch trần ra những lầm lỗi mà chúng ta là nạn nhân. Chúng ta hãy che lấp chúng đi. Dĩ nhiên tìm cho mình được xót thương là cái rất là con người. Nhưng sau đó, chính chúng ta sẽ liều mình bị rối rắm vì đã tỏ lộ chúng ra.

“Khi nhớ rằng “bác ái che lấp muôn vàn tội lỗi”, tôi kín múc nơi kho phong phú nầy mà Chúa Giêsu mở ra trước mặt tôi”.

“Yêu sách nầy của đức ái liên quan đến cả việc nhớ đến điều dữ mà chúng ta liều mình bảo lưu và nhắc đi nhắc lại mãi. Thánh François de Paule, ẩn sĩ người Ý, sáng lập Dòng Hèn Mọn, chết năm 1507 ở Plessisles-Tours, đã viết : “Anh em hãy tha thứ lẫn cho nhau để sau đó không còn nhớ đến lỗi lầm của anh em nữa. Giữ lại ký ức về điều xấu chính là một lầm lỗi, chính là kiệt tác của giận dữ, là duy trì điều tội, là thù hận công chính… Đó là một mũi tên rĩ sét, là độc dược của tâm hồn, là sự băng hoại nhân đức, là con sâu gậm nhấm tinh thần, là xáo trộn việc cầu nguyện, là sự hủy bỏ những lời kêu xin dâng lên Thiên Chúa, là sự đánh mất đức ái, là sự bất chính luôn tỉnh thức, là tội lỗi luôn có mặt và là cái chết rình rập mỗi ngày”

“Nếu các bạn biết được những gì tôi cảm nhận ! Tôi cũng không bao giờ hiểu được với tình yêu dường bao mà Chúa Giêsu đã đón nhận chúng ta khi chúng ta xin lỗi Ngài sau một lầm lỗi ! Nếu tôi, vốn là một tạo vật nhỏ bé nghèo hèn của Ngài, mà đã cảm nhận bao nhiêu dịu dàng đối với các bạn lúc các bạn đến với tôi, thì cái gì phải xảy ra trong trái tim của Thiên Chúa nhân lành khi chúng ta trở về với Ngài ! Vâng, chắc chắn Ngài hành động còn nhanh hơn nữa điều tôi vừa làm : Ngài sẽ quên đi tất cả mọi điều bất chính của chúng ta để không bao giờ còn nhớ đến chúng nữa… Ngài sẽ làm hơn thế nữa : Ngài sẽ yêu thương chúng ta còn hơn cả trước khi chúng ta phạm lỗi !”

3. Tình yêu mở ra một tương lai:

Trực giác của thánh nữ Têrêsa thật tuyệt vời : “Chúa sẽ làm hơn thế nữa : Ngài sẽ yêu thương chúng ta còn hơn cả trước khi chúng ta phạm lỗi !” Tình yêu không ngừng tái tạo lại cái mà Sự Dữ lôi kéo về phía hư vô… Chỉ có tình yêu kéo sự lành ra từ sự dữ… Do đó, tình yêu không bao giờ đóng lại, nhưng ngược lại, tình yêu mở ra một tương lai. Chỉ cần nhìn ngắm Chúa Giêsu, vốn là Tình yêu làm người, để nắm bắt được cách sâu xa tính năng động của Thánh Thần hằng linh họat cái nhìn của chúng ta về tha nhân.

Đây là ba trong số nhiều thí dụ khác :

  • Sau việc hóa bánh ra nhiều, là “dấu hiệu” hùng hồn chỉ rõ Đấng Thiên Sai cho những ai có tâm hồn rộng mở, Chúa Giêsu đổi hướng tình hình. Thánh Gioan viết : “Chúa Giêsu biết dân chúng sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, Người liền lánh mặt đi lên núi một mình” (Jn 6,15). Và Matthêu thì viết: “Chúa Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng” (Mt 14,22). Có lẽ các môn đệ thất vọng dường nào trước sự quyết định đó của Thầy mình : một cơ hội tốt như thế bị bỏ qua ! Và giờ đây họ ở trên biển hồ chống chọi với gió ngược… Không gì tiến xa hơn được… Ngõ cụt… Và chính giữa lòng sự thanh tẩy đức tin nầy, cũng như Ngài sẽ làm cho các môn đệ trên đường Ê-mau, Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các ông : “Hãy vững lòng, chính Thầy đây, đừng sợ”. Chúng ta biết rõ những gì tiếp theo : Phêrô bước đi trên nước… biển lặng… Điều mà Chúa Giêsu chờ đợi, chính là phó thác trọn vẹn cho tình yêu Ngài, một đức tin mãnh liệt (mà Phêrô đã thiếu) đến đỗi Ngài có thể mở ra một tương lai được Ý Cha chiếu sáng và không bị tối tăm bởi những ảo ảnh của những khát vọng nhân thế.
  • Khi bị đặt trước người đàn bà ngoại tình, Chúa Giêsu đã tháo cởi nỗi kìm kẹp mà những kẻ tố cáo đã cột buộc bà : khai trừ khỏi cộng đồng vì tội công khai. “Không ai kết án chị cả ư ?… Thầy cũng không, Thầy không kết án chị. Chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Jn 8,10-11). Tình yêu trả lại tự do, không phải để trở lại với tội lỗi, nhưng để thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi… Tương lai của người đàn bà nầy được trao phó cho sự tự do hoàn toàn mới mẻ của bà…
  • Trong buổi chiều Thứ Năm Thánh, Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ của Ngài rằng Ngài sắp bị một người trong họ phản bội và trao nộp. Ngài kín đáo trả lời cho Gioan hỏi Ngài : “Chính là kẻ Thầy sắp chấm miếng bánh và trao cho” (Jn 13,26). Theo tập tục của người Đông phương, gắp thức ăn cho một khách mời là một dấu ân cần. Một cử chỉ tuyệt vời ! Đó không phải là để nhắc nhở cho Giuđa lần cuối cùng rằng y luôn luôn được thương yêu và y cần phải mở lòng mình ra với tình yêu đó hầu có thể từ bỏ dự tính của y chăng ? Thảm hại thay Giuđa đóng lòng mình lại cho tình yêu, y không lấy tình yêu đáp trả tình yêu, không lấy lòng tín nhiệm đáp trả lại lòng tín nhiệm, và sự khước từ nầy dứt khoát phó nộp y cho Quỷ Dữ : “Nhận miếng bánh xong, Xa-tan liền nhập vào y” (Jn 13,27)…

4. Tình yêu luôn luôn tin tưởng:

“Cho dù tôi có thể phạm mọi thứ tội ác, tôi vẫn luôn tin tưởng. Tôi nghĩ rằng cả đống vô số xúc phạm đó cũng chỉ như một giọt nước ném vào một lò lửa cháy bừng”

Têrêsa dẫn chúng ta đến lòng Chúa. Thiên Chúa luôn luôn tín nhiệm chúng ta và Ngài tiếp tục yêu thương chúng ta. Chỉ có sự thiếu tín nhiệm về phía chúng ta có thể giới hạn hậu quả của tình yêu Ngài trong cuộc đời chúng ta : “Cái xúc phạm Chúa Giêsu, cái làm cho lòng Ngài bị thương tổn, chính là sự thiếu tín nhiệm”

Nguyện xin Chúa Thánh Thần giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi đối với Chúa ngõ hầu chúng ta được sống trọn vẹn trong tình phụ tử của Ngài : “Trong tình yêu không có sợ hãi; trái lại, tình yêu trọn hảo san bằng sợ hãi, vì sợ hãi bao hàm một án phạt, và kẻ sợ hãi không đến được với sự trọn hảo của tình yêu” (1 Jn 4,18).

Khi dừng lại vì những tiếng kêu của người mù Bartimê ăn xin ở cửa thành Giêricô, Chúa Giêsu xin: “Hãy gọi anh ta”. Người ta gọi người mù và bảo anh ta : “Hãy tin tưởng, đứng dậy đi, Ngài gọi anh” (Mc 10,48-49). Tình yêu lên tiếng gọi. Tình yêu ăn xin lòng tín nhiệm để mở ra tính năng động giải phóng mãnh liệt : anh hãy đứng dậy đi.

“Bạn hãy giữ vững lòng tín nhiệm của bạn. Thiên Chúa nhân lành không thể nào không đáp lại, bởi vì Ngài luôn luôn đo lường các ân huệ của Ngài theo lòng tín nhiệm của chúng ta”

Nếu chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần ơn được nhìn thấy sự bao la của tình yêu và lòng tín nhiệm của Thiên Chúa đối với mỗi con cái Ngài, thì đến lượt mình, chúng ta có thể thông truyền chúng cho những người chung quanh bằng các hành động của chúng ta. Quả đó là ý nghĩa những lời của Chúa Giêsu nói ở trên Núi : “Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì anh em nào có công chi đáng thưởng ?” (Mt 5,44-46).

Tình yêu tha thứ tất cả, tình yêu luôn luôn tín nhiệm…

     SUY NIỆM ĐỂ LẦN HẠT MÂN CÔI

  1. Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Người, là Con Một đầy ân sủng và sự thật… Vâng, từ nguồn ân sủng của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn nầy đến ơn khác” (Jn 1,14.16). Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi cõi lòng biết mở ra với ân sủng, với tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa hằng đến với chúng ta, mà nếu không có tình yêu đó thì chẳng ai được cứu rỗi. Chúng ta hãy cầu nguyện cách riêng cho ông … nầy, bà … kia.
  2. Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng. “Anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” (1 Pet 4,8). Chúng ta hãy cầu xin lòng bác ái không kết án, nhưng tha thứ và che lấp hết mọi lỗi lầm nầy… Nó là cội rẽ căn nguyên của bình an. Chúng ta hãy cầu xin lòng bác ái nầy cho gia đình chúng ta, cho cộng đòan chúng ta, cho nhóm làm việc của chúng ta…
  3. Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng. “Không ai kết án chị cả ư ?… Thầy cũng không, Thầy không kết án chị đâu. Chị hãy ra đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Jn 8,10-11). Chúa Giêsu tự do và mang lại tự do… Đó là một hoa trái của Thánh Thần. Tình yêu mở ra một tương lai… Chúng ta hãy cầu xin ơn tha thứ cho những xét đoán giam nhốt của chúng ta. Chúng ta hãy xin ơn làm cho những người chung quanh chúng ta được tự do, nhờ tình thương mà chúng ta chứng tỏ ra cho họ.
  4. Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng. “Một người trong các con sẽ nộp Thầy… Thưa Thầy, ai vậy ? Đó là kẻ mà Thầy sắp chấm miếng bánh trao cho” (Jn 13,21-26). Trong tập tục của người Đông phương, trao một miếng thức ăn cho khách mời là một dấu chứng tỏ lòng ân cần… Nếu Chúa Giêsu đã chứng tỏ lòng ân cần của Ngài với Giuđa cho đến cùng, thì chớ gì đừng bao giờ chúng ta làm cho người khác phải tuyệt vọng, nhất là những ai gần gũi với chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin ơn có một tình yêu biết cho đi đến tận cùng.
  5. Tình yêu tha thứ tất cả và luôn luôn tin tưởng. “Anh hãy tin tưởng, đứng dậy đi, Ngài đang gọi anh” (Mc 10,48-49). Tình yêu lên tiếng gọi. Tình yêu ăn xin lòng tín nhiệm để giải tỏa tính năng động giải phóng mãnh liệt của mình : anh hãy đứng dậy. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một thái độ tâm hồn luôn luôn là một lời mời gọi tin tưởng đối với tha nhân, ngõ hầu họ có thể lớn lên trong đời sống làm người và làm tín hữu của họ.

Còn Tiếp