Người Linh Mục Và Cuộc Khủng Hoảng Thất Vọng Giữa Lòng Giáo Hội

Timothy Radcliffe, op.

“LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI MANG TIN MỪNG ?”

Đó là đề tài mà người ta yêu cầu tôi trình bày. Điều ấy giả định rằng chính chúng ta đã chạm tới niềm vui nhất định nào đó rồi. Nếu bạn u sầu thảm não, ai sẽ tin Tin Mừng là một tin vui? Nietzsche từng bảo các môn đệ của Đức Giê-su phải có vẻ “được cứu độ” hơn một chút nữa.

Có nhiều lý do cho thấy hình như chúng ta đang mất tinh thần. Giáo hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng về thất vọng. Có lẽ ở Hoa Kỳ nặng nề nhất, giới Công giáo hình như đang chia rẽ rất sâu sắc. Phần lớn các giáo phận và dòng tu phải chịu đựng nỗi đau thiếu vắng ơn gọi. Nhiều linh mục đã ra đi, đó là chưa nói đến những vụ tai tiếng tệ hại nhất về việc lạm dụng tình dục trẻ em và những biện pháp xử lý dành cho họ. Vì vậy, nếu anh em có mất tinh thần thì cũng là điều dễ hiểu thôi. Việc một tài xế tắc xi hay một ông luật sư có sống vô luân thì cũng chẳng mâu thuẫn gì với nghề nghiệp của họ. Một viên kế toán hay một ông thợ cắt tóc có thể thường xuyên bị trầm cảm cũng chẳng sao trừ khi điều ấy ảnh hưởng đến chất lượng công việc của họ. Ngược lại, một linh mục không có đạo đức thì không có khả năng chu toàn sứ mạng của mình. Tôi không biết anh em có mất tinh thần hay không. Kinh nghiệm của cá nhân tôi về các linh mục Hoa Kỳ khiến tôi nghĩ rằng điều ấy có thật mặc dù Tin Mừng luôn mang lại niềm vui. Có lẽ cũng giống như ở Ireland. Lần cuối cùng tôi đến đất nước ấy, nhiều linh mục bảo tôi hàng giáo sĩ đã mất tinh thần, chỉ trừ họ ! Mong sao họ luôn bình an vô sự. Tuy nhiên, ngay cả khi bạn giữ được niềm vui trong Chúa, cũng chẳng vô ích khi lưu ý đến những thách đố khác nhau mà chúng ta phải nêu lên và cùng nhau xem xét để có thể vui vẻ đối mặt với nó. Việc đầu tiên phải làm có lẽ là an vui trong cuộc khủng hoảng đang chạm đến Giáo hội vì chính nó giúp chúng ta chia sẻ cuộc khủng hoảng thất vọng đang diễn ra trong xã hội chúng ta. Chúng ta cùng hiệp thông đau khổ với anh em đồng loại của mình. Oliver Bennet thuộc đại học Warwick ở Anh Quốc có viết một cuốn sách nhan đề Cultural Pessimism : Narratives of Decline in the Postmoderne Word[1]. Toàn xã hội vẫn luôn mơ ước “bao giờ trở lại ngày xưa”. Thế nhưng tác giả chỉ rõ rằng xã hội phương Tây ngày nay tin rằng mình đang tàn lụi, và điều đó khiến người ta đau khổ. Bạo lực gia tăng trong các thành phố, mạng lưới sức khoẻ vỡ tung, sida đang thắng thế, lục địa châu Phi đang trôi dạt, chủ nghĩa khủng bố đang bành trướng và chiến tranh đang tàn phá Iraq. Tất cả đang bị cuốn theo dòng nước.

Theo giáo lý Ki-tô giáo, thất vọng không có nghĩa là cả thế giới đang cảm thấy bất hạnh, ngay cả khi số người tự tử gia tăng khắp nơi trên thế giới, từ Hoa Kỳ cho đến Nhật Bản. Sở dĩ thế giới thất vọng vì người ta không tin tưởng vào tương lai của nhân loại. Cụ Abraham là biểu tượng về niềm hy vọng của chúng ta. Chúng ta hoàn toàn không hay biết lúc đến Đất Hứa cụ đã vui sướng tới mức nào. Nếu cụ giống như tôi, chắc chắn cụ cũng đang tự hỏi có bao nhiêu thứ mình quên bỏ vào va li !

Suốt phần lớn đời tôi, niềm hy vọng Ki-tô giáo dựa trên tuổi thơ với niềm tin đầy thế tục, tin tưởng vào sự tiến bộ. Mỗi năm có hàng lô phát minh.

Càng lớn lên, máy tính dần thế chỗ cho những tiến bộ. Nhiều quốc gia được giải phóng khỏi ách đô hộ của Đế quốc Anh. Người ta bắt đầu ăn ngon hơn trong những nhà hàng Anh, ấy là nói vậy ! Chúng tôi có thể thưởng thức món ốc và đùi ếch, và khi cha tôi vừa quay lưng lại, mẹ tôi liền cho tỏi vào vào thức ăn. Vương quốc Thiên Chúa hẳn đang cận kề ! Nhưng kể từ cuối cuộc Chiến tranh lạnh, niềm tin vào tiến bộ đã tiêu tan. Thậm chí Fukuyanma còn dám bảo đảm với chúng ta rằng đó là đoạn cuối của lịch sử.

Văn hoá chúng ta có hai chuyện đáng kể lại. Chuyện thứ nhất về vũ trụ. Bọn trẻ mới lớn đã biết vũ trụ ra đời từ Big Bang (vụ Nổ Lớn) và sẽ kết thúc với Big Chill (vụ Đại Hàn), lúc đó trái đất và vũ trụ sẽ lạnh dần trước khi chết. Nhưng chuyện này chẳng đáng để chúng ta bận tâm. Chúng chẳng có nghĩa lý gì đối với chúng ta. Chúng ta còn chưa chào đời khi con khủng long cuối cùng biến mất và chúng ta sẽ biến mất trước nhiều loài côn trùng. Cuộc hành trình của chúng ta trên trái đất này chẳng thay đổi tí gì về câu chuyện vốn chẳng đem lại cho mình chút hy vọng nào. Câu chuyện thứ hai về điều mà ngày nay chúng ta đang tìm cách sống với cái tự mệnh danh là “cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố”. Nhưng câu chuyện này thuộc loại nào ? Liệu chúng ta có thể nói về chiến thắng nào ? Bạo lực ngày càng gia tăng, đó là điều mà cuộc chiến chống khủng bố hứa hẹn với chúng ta. Điều ấy chẳng phải là một câu chuyện đáng thất vọng sao ?

Có một ước muốn thực sự về thiên đường nhưng cũng có cả sự nghi ngờ thực thụ đối với những người tuyên bố mình biết đường tới thiên đường. Vả lại, chính những kẻ tự cho mình biết đường tới thiên đường này đã đóng đinh thế kỷ XX. Hàng chục triệu người bị thảm sát nhân danh thiên đường Xô Viết. Sáu triệu người Do Thái bị tiêu diệt vì thiên đường Aryens. Tháng năm năm ngoái, tôi có ghé thăm bảo tàng diệt chủng Tuol Sleng ở Phnom Penh, một trại tập trung giữa hàng chục trại ở Cambodge. Ai cản lối đường đến thiên đường Pol Pot đều bị thảm sát. Đức Giám mục Phnom Penh bảo tôi rằng tất cả những người chân yếu tay mềm, những ai nói thứ tiếng khác tiếng Khmer hoặc mang kính đều bị bắt. Bọn cai ngục không đủ thời giờ thiêu huỷ tài liệu trước khi chạy trốn. Vì vậy trung tâm đầy rẫy hàng trăm ngàn tấm hình các tù nhân, phần lớn đều là những người trẻ tuổi. Một số người có ánh mắt vô hồn trong khi số khác – có vẻ còn rất trẻ – lại có vẻ vui tươi, hy vọng được sống sót nhờ nụ cười của mình. Nhưng duy chỉ có một người trong số họ sống sót. Giấc mơ tư bản tự giết chết và huỷ hoại mình. Vì vậy, thế giới khao khát hy vọng, khao khát một góc thiên đường nhưng lại nghi ngờ những ai nói rằng họ biết làm thế nào để đến đó, điều ấy cũng dễ hiểu thôi.

Chúng ta (những Ki-tô hữu) không có la bàn để hướng dẫn nhân loại. Đừng giở sách Khải huyền và đọc : “Còn ít nhất năm tai ương nữa. Hơn hai tai ương và sẽ kết thúc”. Không hơn gì những người khác, chúng ta cũng chẳng biết điều gì đang chờ đợi nhân loại trong những thế kỷ sắp tới. Niềm tin vào sự tiến bộ đã biến mất, chúng ta phải đạt cho được niềm hy vọng đích thực của Ki-tô giáo. Nếu chúng ta đạt được điều đó thì nhân loại sẽ khám phá rằng, chúng ta, những người con của Giáo hội, có thể trao tặng cho con người điều họ đang tìm kiếm.

Hãy nhìn lại bữa Tiệc ly. Đó là câu chuyện về Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và tất cả chúng ta. Nghịch lý là bữa Tiệc ly diễn ra vào giây phút mà các môn đệ đang mất phương hướng. Rõ ràng họ mới đến Jerusalem lòng tràn đầy hy vọng. Có lẽ họ nghĩ rằng Đấng Messia sẽ cầm đầu nhóm khởi nghĩa chống quân La Mã. Như hai môn đệ trên đường Emmaus đã thổ lộ với Đức Giê-su : “Và chúng tôi hy vọng Người sẽ giải phóng Israel !” (Lc 24, 21). Nhưng tất cả đã tan thành mây khói kể từ bữa Tiệc ly. Giu-đa đã bán đứng Đức Ki-tô, ông Phê-rô sắp phản bội thầy và số còn lại mạnh ai nấy thoát.

Đó là một nghịch lý kỳ lạ. Lịch sử của chúng ta diễn ra ngay khi câu chuyện [bữa Tiệc ly] đến hồi kết thúc. Cộng đoàn chúng ta được khai sinh vào lúc bị tan rã. Bí tích hy vọng thuật lại cho chúng ta câu chuyện mất hết mọi hy vọng. Vả lại, nghịch lý còn đi xa hơn nữa bởi những từ ngữ kể lại với chúng ta câu chuyện này, các Tin Mừng, lại đến với chúng ta từ cuộc khủng hoảng lớn lần thứ hai. Trong khi Giáo hội lan rộng khắp toàn Đế quốc và các Ki-tô hữu phải chịu tù đày, bức hại, họ lại nhanh chóng tìm thấy một câu chuyện khác giúp họ sống còn. “Anh em ơi, rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi. Đức Ki-tô sẽ sớm trở lại”. Nhưng thánh Phê-rô và thánh Phao-lô đều đã chết, các Ki-tô hữu ở La Mã phản bội lẫn nhau và tất cả đều sụp đổ. Chẳng có một dấu hiệu nhỏ nào cho thấy Đức Giê-su sẽ trở lại lần thứ hai trong vinh quang ! Nhưng Lời đã trở thành phàm nhân bởi các Tin Mừng. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghe nói đến thánh Mác-cô, Lu-ca, Mát-thêu hay Gioan nếu các sách Tin Mừng không được truyền bá từ cuộc khủng hoảng này.

Cứ mỗi lần chúng ta quy tụ quanh bàn tiệc Thánh thể, chúng ta lại nhắc nhở nhau về niềm hy vọng của chúng ta vốn dựa trên sự mất mát của câu chuyện dài nhiều tập này. Trần thuật bữa Tiệc ly cũng phát xuất từ cuộc khủng hoảng thứ hai từng chứng kiến cảnh biến mất của một câu chuyện khác. Với tư cách là những Ki-tô hữu, vì vậy chúng ta không phải sợ cuộc khủng hoảng mà ngày nay cộng đoàn chúng ta đang trải qua. Những cuộc khủng hoảng, đó là “spécialité de la maison” . Giáo hội thoát thai từ một trong những cuộc khủng hoảng ấy. Chính khủng hoảng canh tân và làm cho Giáo hội tươi trẻ lại. Làm thế nào để cuộc khủng hoảng này làm cho Giáo hội yêu dấu của chúng ta tươi trẻ lại đây ?

Ngày hôm nay tôi quyết định đề cập những thách thức mà chúng ta, những người linh mục, phải đối mặt trong việc chúng ta tự đồng nhất với Giáo hội phổ quát. Tôi sẽ dừng lại trên ba thách thức đặc biệt khó tháo gỡ nhất. Thách thức thứ nhất liên quan đến khoảng cách giữa giáo huấn của Giáo hội với kinh nghiệm của đa số các Ki-tô hữu đang sống với chúng ta. Thách thức thứ hai là sự chia rẽ ngay trong lòng Giáo hội. Và cuối cùng, chúng ta sẽ xem xem làm thế nào để sống trong giai đoạn mà Giáo hội phải hứng chịu quá nhiều tai tiếng phát sinh từ cộng đoàn chúng ta.

Tiến thoái lưỡng nan

Sở dĩ có nhiều linh mục mất tinh thần, ít ra như ở Anh Quốc, là bởi vì họ không biết rằng họ phải tự đồng hoá mình với cộng đoàn địa phương hay với Giáo hội phổ quát. Phần lớn các linh mục chỉ tự đồng nhất mình với Giáo hội địa phương mà thôi. Ý nghĩa ơn gọi chúng ta phát xuất từ đời sống mà chúng ta đang chia sẻ với Dân Thiên Chúa. Chúng ta cùng chiến đấu và chiến thắng với họ, cùng đồng hành với họ trong thất bại và được nuôi dưỡng nhờ niềm tin của họ. Nhưng người linh mục còn là hiện thân của Giáo hội phổ quát. Lời rao giảng của chúng ta không phải để quảng cáo cho một món hàng nào đó hay để truyền bá những tư tưởng của riêng mình. Chúng ta được kêu gọi để loan báo Tin Mừng và giáo huấn của Giáo hội. Nhưng đôi khi chúng ta nhận thấy vẫn có hố phân cách thực sự giữa những gì chúng ta tập trung giảng dạy, nhất là về phương diện luân lý, với kinh nghiệm sống của dân Thiên Chúa, vì đối với họ lời rao giảng của chúng ta có vẻ không thể hiểu nổi và quá xa rời tế. Hơn nữa đôi khi người tín hữu cảm thấy bối rối.

Có lẽ điều này ở Anh nổi cộm hơn ở Mỹ. Thật vậy, anh em đang sống trong một đất nước vô cùng sùng đạo, ít ra là trên phương diện thực hành, trong khi ở Anh là một trong những nơi bị tục hoá nhiều nhất thế giới. Nhưng kinh nghiệm riêng cho tôi thấy rằng ngay cả những người Công giáo còn giữ đạo cũng khó lòng hiểu nổi những giáo huấn về luân lý của Giáo hội, nhất là về tính dục. Ngày nay, đa số nam giới và nữ giới không sống đời sống tính dục trong hôn nhân vì mục đích sinh con đẻ cái. Phần lớn các bạn trẻ mà tôi quen biết hoặc đang làm “bồ nhí”, sử dụng các biện pháp tránh thai hoặc đã ly dị và tái hôn, thậm chí có cả người đồng tính luyến ái nữa.

Làm thế nào để chúng ta có thể sống danh phận của người linh mục với Dân Thiên Chúa, làm sao để xây dựng một cộng đoàn khi người ta coi chúng ta như hiện thân của một phiên bản luân lý rất khó áp dụng, thậm chí đáng vứt bỏ nữa ? Tôi chẳng mấy khi quan tâm đến chân lý của giáo huấn này nhưng lại để ý đến sự vô minh hay cái vẻ không thể thực hiện đối với một số diễn từ của Giáo hội. Chúng ta có đánh giá cao và vững tin vào giáo huấn luân lý của Giáo hội cũng vô ích, chẳng có gì ngăn cản chúng ta mất tinh thần do những vực thẳm giữa thông điệp mà chúng ta rao giảng với đời sống của những con người đang cùng sống với chúng ta. Anh em hãy thành thực : ở địa vị của họ, chúng ta cũng bối rối như họ thôi.

Cộng đoàn chúng ta quy tụ quanh bàn tiệc Thánh thể, bí tích hiệp nhất, trong khi nhiều người cảm thấy bị loại trừ chỉ vì họ đang sống trong “tình trạng bất thường” như người ta vẫn nói. Nhưng những người này, theo thống kê, họ lại sống hoàn toàn bình thường ! Dĩ nhiên có những “giải pháp mục vụ”, như nhiều người vẫn áp dụng để chỉnh đốn hàng ngũ dù không thực sự tin tưởng. Nhưng hành động theo kiểu đó là thất vọng và từ chối đối mặt với đề tài ngày nay đang hấp dẫn chúng ta.

Hố sâu giữa giáo huấn Giáo hội và kinh nghiệm thường nhật của Dân Thiên Chúa không ngừng bị đào sâu ngay từ thế kỷ XVII. Vào thời Trung đại, thần học luân lý được xem như một sự khôn ngoan thực tế, không tách rời với đời sống thường nhật. Nhưng sau Cải cách và những cuộc cãi vã chua cay dẫn đến cuộc Chiến tranh Ba mươi năm bỗng nổi lên nhu cầu tự biểu hiện mọi mặt. Sau những cuộc chiến tranh tôn giáo này, người ta lại muốn được giảng dạy những điều chắc chắn dựa trên những nguyên lý trừu tượng không có chỗ cho những nghi ngờ. Kể từ đó, hố ngăn cách không ngừng bị đào sâu thêm, và ngày nay những lời giáo huấn hoa mỹ của chúng ta về luân lý thường “ngàn trùng xa cách” với thực tế của cộng đồng chúng ta.

Làm thế nào để chúng ta sống trong không gian giữa nhãn quan luân lý của Giáo hội và đời sống thường nhật của người tín hữu mà không làm chúng ta mất tinh thần ? Thậm chí làm sao để chúng ta có thể sống tình trạng này trong an vui ? Cha Tony Philpot, linh mục triều rất nổi danh ở Anh kể rằng mấy năm trước ông có tham dự một buổi thuyết trình của đức Hồng y Ratzinger ở Cambridge. Đức hồng y trình bày rất tuyệt vời về những nguyên tắc luân lý tổng quát. Nhưng khi trở về giáo xứ, đứng trước những tín hữu đang đấu tranh để được tiếp tục sống trong thành phố của họ, cha Philpot mới vỡ lẽ bài thuyết trình của đức hồng y chẳng có nghĩa lý gì cả. Theo cha Tony, các linh mục được kêu gọi để sống giữa cái phổ quát và cái đặc thù, khoảng cách trung gian này nằm giữa bài diễn văn trừu tượng với đời sống cụ thể.

“Thật bất tiện khi phải nằm giữa cái phổ quát và cái đặc thù. Đó thực sự là một tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Thật bất tiện khi thuộc về một thế giới chính thống và khi phải mất nhiều thời gian và sức lực cho những người không thuộc “phe” mình. Tôi muốn nói với tất cả các bạn trẻ đang chuẩn bị trở thành linh mục giáo phận rằng họ phải dâng hiến để sống ơn gọi của mình trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan đầy đau đớn này phải có một trái tim biết chia sẻ. Nếu họ có kinh nghiệm về những đau thương này, họ sẽ trở thành những linh mục tốt lành.”

Đó là một khởi đầu tốt đẹp : nên biết rằng chúng ta thuộc vùng trung gian này. Tình trạng tiến thoái lưỡng nan ấy là cơm bánh hằng ngày của chúng ta. Tôi xin mạn phép đề nghị bước thứ hai. Lời trở thành phàm nhân đang ngụ trong lòng đức tin của chúng ta. Lời không bao giờ bị trừu tượng hoá, chung chung và xa vời. Lời Tin Mừng không ngừng tái sinh dù ở Anh Quốc, ở Brazil hay ở Roma. Với tư cách là những linh mục, chúng ta không thể tặng ban một lời trừu tượng. Chúng ta phải tìm cách tái sinh lời Tin Mừng trong cộng đồng nơi chúng ta đang sống, bằng ngôn ngữ riêng, với những giai tầng xã hội, với những thành công và thất bại, với sự thịnh vượng lẫn nghèo nàn của cộng đồng ấy. Người linh mục giống như một bà đỡ thực thụ. Người linh mục lắng nghe Tin Mừng và các giáo huấn của Giáo hội và cùng với cộng đoàn của mình thực hiện những điều ấy bằng văn hoá bản địa. Người linh mục luôn tìm cách làm thế nào để Lời Thiên Chúa có thể sinh ra từ cộng đoàn của mình, ở đây vào lúc này, như một đứa trẻ sơ sinh, với sự mới mẻ vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Hố thẳm giữa giáo huấn của Giáo hội với đời sống thường nhật của người tín hữu là nỗi đau thật sự. Và chính vì vậy mà chúng ta được mời gọi hãy mang trong mình trái tim biết chia sẻ. Nhưng chúng ta vẫn ở bên cạnh cộng đoàn mình ngõ hầu làm cho lời đổi mới mỗi ngày, ngõ hầu chuyện nhập thể lại tái diễn trong chúng ta và qua chúng ta. Để thực hiện được điều đó, chúng ta nhất thiết phải đồng hoá mình với những người cảm thấy bị loại trừ khỏi Giáo hội vì “tình trạng bất thường” của họ. Chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh của họ, hãy lắng nghe bằng đôi tai của họ, hãy nhìn bằng đôi mắt của họ, hãy cảm nhận những gì họ đang cảm thấy. Hãy trở nên giống như họ. Như vậy chúng ta sẽ cùng với họ khám phá ra làm cách nào để rao giảng Lời Thiên Chúa và giáo huấn của Giáo hội.

Theo thánh Thomas thành Aquino, có một mối liên hệ vô cùng mạnh mẽ giữa việc giáo huấn và tình bằng hữu. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể giảng dạy theo đúng nghĩa của từ ngữ này. Chính hồng ân Thiên Chúa trong tim chúng ta giảng dạy. Thánh Thomas thành Aquino đặc biệt đánh giá cao bản văn giải thích tại sao chỉ có một tôn sư duy nhất trên trời. Người cũng thích bản văn nói rằng chỉ có một tôn sư nhưng không phải là vị đang sống ở Roma ! Người không ngừng tham khảo từ vị ấy. Nhưng theo thánh Thomas, bạn hữu cũng có khả năng giảng dạy vì đối với tôi họ là một tôi khác. Bạn hữu dạy chúng ta từ trong tâm hồn, có thể nói như vậy.

Hố thẳm giữa cái trừu tượng và cái cụ thể đau đớn thật đấy nhưng đó là nỗi đau sinh hạ. Và chúng ta đều biết trong việc sinh hạ, niềm vui tiếp nối đau đớn. “Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi thì không nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian” (Ga 16, 21). Chúng ta là những bà mụ của việc sinh hạ Lời trong thế giới mà chúng ta đang sống.

Nếu chúng ta muốn vượt qua tình trạng tiến thoái lưỡng nan này, chúng ta cần có nhau, chúng ta cần có sự nâng đỡ của các anh em linh mục. Chúng ta thuộc về Giáo hội phổ quát và chúng ta là những đại diện của Giáo hội ấy. Chúng ta thuộc về cộng đoàn địa phương và chúng ta cùng chia sẻ đời sống của cộng đoàn ấy. Sức hút lưỡng cực này có thể giản lược chúng ta thành từng mảnh nhỏ nếu chúng ta không đề phòng. Nói “có” với trật tự Giáo hội là trở thành những phát ngôn viên của Giáo hội ; nói “không”, nghĩa là kẻ luôn phản loạn chống lại Huấn quyền. Quyết định một lựa chọn có thể huỷ diệt chúng ta với tư cách là người trung gian và bà đỡ.

Để có thể chịu đựng căng thẳng này, chúng ta, những linh mục, cần được nâng đỡ bằng sức mạnh liên đới. Chúng ta có thể hình dung NFPC (National Federation of Priests’ Councils) như công đoàn các bà đỡ của Giáo hội. Điều này dẫn đến việc tự giải thoát khỏi chủ nghĩa cá nhân cố hữu thường là nét đặc trưng của các linh mục. “Tôi là chánh xứ của

Còn Tiếp