Những cuộc tấn công của thế giới vào sự sống

Tác giả : Tiến sĩ BRIAN CLOWES Chuyển ngữ tiếng Việt: Trần Bá Nguyệt

Đôi lời phi lộ: Tháng 1-2003, Hội Nghị Gia Đình Thế Giới lần thứ tư

Tổ chức tại Manila, Philippines, Đoàn VN gồm các Hai Đức Tổng Saigon và Huế, ĐC Chủ Tịch Nguyễn Văn Hoà, các Đức Cha Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Văn Nhơn, Bùi Văn Đọc, Cha Huỳnh Công Minh, và Cha Nguyễn Văn Bút (Nha Trang) cùng với 24 anh chị em giáo dân trong đó có hai anh đại diện giáo phận Kontum (một người kinh và một người Thượng). Chủ đề của Hội Nghị là “Gia đình Kitô Hữu: Tin Mừng cho Thiên Niên Kỷ thứ ba”. Trước đó một Hội Nghị khác cũng được tổ chức tại Quezon City, Philippines bàn về “Tình Yêu, Cuộc sống và Gia đình”.

Dưới dây là phần tóm lược bài phát biểu của Tiến Sĩ Brian Clowes tại Hội Nghị Quezon.

Vài dòng về tác giả: Tiến sĩ Brian Clowes sinh năm 1952 tại Frankfurt, nước Đức. Ông có sáu người con: năm trai, một người con gái út. Tiến sĩ Brian Clowes tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Trường Lục Quân West Point năm 1974. Ông lấy bằng Master’s khoa học tại Đại Học Kansas năm 1977. Năm 1987, ông lấy bằng tiến sĩ ngành công chánh. Ông là kỹ sư được công nhận tại nhiều tiểu bang bên Mỹ. Về quân sự, ông là kỹ sư thuỷ điện từ 1974 đến nay. Ông là thành viên của Hiệp Hội Quốc Tế về Sự sống con người (Human Life International), và Hiệp Hội các Học Giả Công Giáo. Tiến sĩ Brian Clowes là thành viên tích cực của phong trào ủng hộ cuộc sống tứ năm 1976. Ông viết rất nhiều sách, thuyết trình tại nhiều nơi và tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn Pro-Life Encyclopedia (Bách Khoa Tự Điển Ủng Hộ Đời Sống).

TẠI SAO LẠI CÓ NHỮNG CUỘC TẤN CÔNG VÀO GIÁO HỘI VÀ GIA ĐÌNH?

Trong một giai đoạn lịch sử mà gia đình đang là mục tiêu huỷ diệt hoặc ít nhất thì cũng làm biến đổi, Giáo Hội đã ý thức một cách mạnh mẽ và bức thiết về sứ mạng công bố cho mọi người biết ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình. (Lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, Tông huấn về Gia Đình, số 3).

Những gì tôi đã thấy

Tôi đã đến nước Phi-luật-tân này năm lần. Lần đầu tiên vào năm 1995. Vào lúc đó tôi đã quan sát thấy nhiều thay đổi, và những thay đổi đó không làm cho tình trạng tốt hơn lên. Giáo hội và gia đình ở Phi đang chịu sự tấn công về mọi phía của những nhóm chống lại cuộc sống, của những chính trị gia, và các tập đoàn kinh tế. Cũng vẫn một chiến thuật cũ: xoa dịu và phủ dụ kẻ địch trước khi phóng ra đòn quyết liệt đánh gục kẻ thù. Thế đó, gia đình và giáo hội Phi đang bị thử nghiệm xem sức chống trả ra sao.

Tôi đã thấy những điều sau đây ở Phi-luật-tân trong một số năm gần đây.

Những bảng hiệu về kiểm soát dân số và kiếm soát sinh sản được treo dán đầy những bức tường các sân trường ở Cebu, thành phố lớn ở miền trung nam Phi-luật-tân. Hình ảnh một gia đình và hai con và bao giờ cũng có một vị linh mục đứng bên cạnh. Ý muốn ám chỉ rằng giáo hội đã chấp nhận kiểu gia đình nhỏ đó. Cũng tại Cebu, tôi đã chứng kiến một cuộc diễn hành của các y tá và từ trên một chiếc xe trong đoàn diễn hành, tôi thấy người trên xe tung những nắm “bao xao su ngừa thai” xuống cho đám đông.

Tại thành phố Davao, vào những ngày thứ ba, một nhóm những nữ tu Dominique – họ cũng là những bác sĩ

– đang lấy những dụng cụ IUD (Internal Uterus Devices, dụng cụ ngừa thai đặt bên trong) ra ngoài cửa mình của các sản phụ. Đa số những sản phụ này không biết mình đã được cài đặt trong người những dụng cụ “bít đầu tử cung” như vậy. Tôi cũng thấy một nhóm vận động giảm dân số người Mỹ đi về các miền quê cung cấp những dịch vụ xoa bóp cơ thể để giúp các bà mẹ sinh con an toàn và đặt vào bên trong mình những người phụ nữ đó những dụng cụ ngừa thai IUD mà họ hoàn toàn không biết gì cả.

Những pa-nô lớn nhất thế giới về những cặp đồng tính luyến ái nữ (lesbian) là những tấm bảng cao 15 mét được treo bên ngoài siêu thị EDSA Megamall. Hình ảnh hai người phụ nữ hôn nhau thắm thiết nhìn xuống cuộc tranh tài uống bia San Miguel bên dưới. Họ đang gieo vào đầu óc bạn, người qua đường, những ý tưởng “mới” bằng những cách làm bạn không thể nào không nhìn thấy. Thoạt nhìn, bạn sẽ kinh tởm, rồi lo lắng, rồi bực bội, và cuối cùng bạn nhún vai bỏ đi. Nhìn riết rồi quen. “Tôi có thể làm được gì bây giờ?”

Những cơ sở và những khối tiền tài trợ đổ xuống các uỷ ban dặc trách kiểm soát sinh sản sẽ nuôi những nhân viên để họ can thiệp đến tận cùng cơ cấu gia đình.

Tôi thấy càng ngày càng nhiều những câu chuyện cười, riễu cợt giáo hội công giáo Phi-luật-tân trên báo chí. Và ngày càng mang tính chỉ trích nghiêm khắc cay độc.

Nhiều người ở đây (Phi-luật-tân) có lẽ không thấy những thay đổi ấy bởi vì họ sống tại đây và thấy những chuyện đó mỗi ngày. Nhưng với vị trí một người ngoại quốc như tôi, và mỗi năm tôi chỉ đến một lần, thì những thay đổi càng ngày càng thấy rõ.

Tại sao lại tấn công giáo hội và gia đình?

Tại sao những người chủ trương chống lại cuộc sống tự nhiên lại hăng say tích cực chống lại giáo hội và gia đình? Giáo hội và xã hội đã làm rất nhiều việc để giúp xã hội ổn định và cải tiến tình trạng thống khổ. Giáo hội và xã hội là chất keo kết dính mọi thành phần xã hội lại với nhau. Xã hội nào chống lại giáo hội và gia đình sẽ tự phân rã.

Lịch sử đã chứng minh thế giới con người chỉ có hai điều có thể làm cho con người hạnh phúc: Một là niềm tin. Hai là gia đình. Khi con người quay lưng với Thiên Chúa và chia tay với vợ, với chồng, họ đi tìm sự bù đắp cho cái trống vắng của cuộc đời bằng những phương tiện thay thế. Đó là thuốc kích thích, tiền bạc, quyền lực, và tình dục. Những thứ đó có thể tạm thời khoả lấp sự cô đơn và trống vắng. Những thứ đó có thể đem lại cảm giác và kích thích, nhưng không bao giờ mang lại sự hài lòng và hạnh phúc. Những thứ đó có thể mang lại kinh nghiệm “sống” (để chứng tỏ mình từng trải), nhưng rất ít khi mang lại sự khôn ngoan. Những thứ đó (như quyền lực) có thể mang lại của cải, nhưng không thể mang lại sự làm tròn bổn phận.

Hai lý do thù ghét Kitô giáo và gia đình

Có hai lý do khiến nhữnmg người chống đối cuộc sống tự nhiên thù ghét người Kitô giáo và thù ghét gia đình nhiều đến mức như thế.

Trước hết, những người chống lại sự sống tin rằng nhà cầm quyền là tối thượng, vì nhà nước là phương tiện để họ đạt được những tiến bộ theo ý họ và giúp họ thống trị phần còn lại của xã hội. Không dựa vào đó, họ chỉ là những kẻ bên lề xã hội, ồn ào, la lối không giống ai và lạc lõng. Nhưng với quyền lực tối thượng ở sau lưng, họ có thể áp đặt ý tưởng của họ lên nhiều người bằng nhiều cách.

Nếu mọi người muốn thờ phượng Thiên Chúa theo kiểu đóng kín, hoặc muốn thành lập những gia đình đóng kín theo truyền thống thì điều đó làm những người chống lại sự sống hoàn toàn hài lòng. Tuy nhiên những người như vậy có thể không bao giờ nói rằng Thiên Chúa của họ và kiểu mẫu gia đình của họ là siêu việt bởi vì thái độ chấp nhận và chủ trương xã hội phải có người thế này thế nọ do những thế lực trần thế đặt lên. Những người thuộc thành phần chống lại sự sống tự nhiên đó tùng phục những ai có quyền và quyền đó được thấy cụ thể qua những quyền lực trần thế. Vì những người Kitô giáo chỉ công nhận có một quyền lực siêu việt vượt lên trên quyền lực trần thế cho nên những thành phần thuộc quyền lực trần thế không ưa họ.

Thứ đến, những người Kitô giáo thực hiện một lối sống tin vào một quyền uy tối thượng duy nhất. Và điều này làm những người chống lại sự sống tự nhiên phiền lòng. Người Kitô hữu đúng nghĩa tin vào sự thật của Tin Mừng và không có con đường nào có thể dẫn đến Thiên Chúa mà không thông qua Chúa Cứu Thế, cũng như tin rằng Chúa Kitô Cứu Thế đã vạch sẵn cho loài người một con đường để đi theo ngõ hầu được cứu rỗi. Những người chống lại tự nhiên cho rằng lối suy nghĩ đó của người Kitô giáo là lối suy nghĩ mang nặng sự kỳ thị tinh thần. Họ tin rằng con người là thượng đế của chính mình. Họ tin rằng chỉ có con người và một mình con người mới sáng tạo, cai trị và giải thoát con người. Những người Kitô Hữu thật sự công khai xác nhận chỉ có một thượng đế. Và Người muốn loài người thờ phụng, tuân theo và phục vụ Con của Người. Những người chống lại sự sống tự nhiên không thông cảm với thông điệp đó vì thế họ đố kỵ và e ngại Kitô giáo. Họ chấp nhận quan điểm cho rằng Kitô giáo chỉ tồn tại như một thế lực để giới hạn và không chế. Và nếu những người chủ trương chống lại sự sống tự nhiên chấp nhận một thứ quyền lực trần thế thì một sự hạn chế hay ngăn cấm đạo giáo sẽ luôn luôn xảy ra dù sớm hay muộn.

Những người chống lại sự sống tự nhiên luôn luôn hoạt động bằng cách đề cao những cải cách trong xã hội. Sau khi giai đoạn đầu của cải cách đã đạt được, họ sẽ nhẩy vào nắm giữ những phần vụ dễ gây ảnh hường nhất: đó là quản lý (cầm quyền), truyền thông, những cơ sở chuyên môn và giáo dục. Họ sẽ tiếp tục duy trì địa vị của họ bằng cách kiểm soát phần tư tưởng của mọi người để những cải cách của họ không bị đổi hướng. Điều này được thực hiện bằng cách bắt mọi người phải suy nghĩ theo suy nghĩ của họ, trong khi vẫn làm cho mọi người tin rằng đang suy nghĩ cho chính mình.

Làm sao đạt được những mục tiêu đó? Bằng cách nhấn mạnh đến chủ nghĩa cá nhân tự do vượt ra ngoài truyền thống. Họ nói với mọi người rằng họ không cần ý kiến của cha mẹ, ông bà, anh em, và cả bạn hữu nữa trước khi họ đưa ra những quyết định; rằng họ không cần nghe giáo huấn của giáo hội để sống cuộc sống của mình; rằng họ là chủ nhân của chính họ, là thuyền trưởng của chính con tàu số phận của họ. Họ chủ trương nhấn mạh đến “tự do” và “quyền” thay vì “trách nhiệm và bổn phận”. Và khi làm cho mọi người tin vào “tự do và quyền” như vậy là họ đã ngự trị tinh thần của mọi người. Mọi người khi sống theo những lời chỉ dẫn như vậy thực tâm tin rằng đang sống cho chính mình, và dĩ nhiên sẽ được thưởng nhiều tiền và nhiều thứ lợi lộc khác.

Một lý do khác khiến những người chủ trương chống lại sự sống tự nhiên tấn công cả giáo hội và gia đình là vì giáo hội luôn luôn ủng hộ cho gia đình. Nếu giáo hội bị suy yếu, gia đình cũng suy yếu và ngược lại. Việc xoá bỏ hay chống lại hôn nhân sẽ đương nhiên làm giáo hội suy yếu bởi vì cuộc sống của giáo hội đặt nền móng vào gia đình, mà gia đình thì sống trong Chúa. Sự tấn công vào giáo hội có nghĩa là gia đình và hôn nhân sẽ mất đi sức mạnh chính yếu luôn luôn yểm trợ cho mình. Thực vậy, giáo hội đã thành lập gia đình bằng một bí tích có nghĩa là giáo hội muốn thánh hoá và nâng cao giao ước hôn nhân lên trên tất cả các giao ước khác của quan hệ xã hội trần tục.

KẾ HOẠCH TẤN CÔNG VÀO GIA ĐÌNH

Họ đưa ra rất nhiều lý do để bào chữa cho việc phá bỏ gia đình. Họ phàn nàn rằng gia đình áp chế phụ nữ và trẻ em. Họ tuyên bố rằng có nhiều cách thức hữu hiệu khác để nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Họ bảo rằng công việc vô cùng quan trọng là làm cha, làm mẹ lại được thực hiện bằng những người không được huấn luyện để làm việc đó.

Tất cả những lý luận trên chỉ nhằm một mục đích là che dấu sự thật. Nhà hoạt động cho nữ quyền Mỹ Gloria Steinem đã đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề khi nói rằng: “Chúng ta phải phá bỏ và xây dựng lại cơ cấu của hôn nhân … Đến những năm 2000, chúng ta sẽ tạo cho con cái chúng ta một niềm tin vào tiềm năng của con người, thay vì một niềm tin vào thượng đế. Chúng ta phải coi việc làm của chúng ta là một cuộc cách mạng chứ không phải là một phong trào quần chúng … Mục tiêu của chúng ta là một chủ thuyết đặt căn bản trên con người.” (Gloria Steinem, 3-1973, Saturday Review of Education) 2.

Những cuộc tấn công vào gia đình đang cố gắng định nghĩa lại vai trò không thể thiếu được của tự nhiên và điều đó (không thể tránh được) sẽ gây ra những tổn hại cơ bản cho những điều kiện cơ bản của con người. Điều không may là những cố gắng của họ càng chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại bao nhiêu thì sự cuồng tín của họ lại luôn dẫn đến sự hợp lý và rõ ràng bấy nhiêu.

Họ tuyên bó rằng việc lôi cuốn nam nữ vào việc sinh con cái đều không “tự nhiên”. Họ nói đó chỉ là những hành vi mang tính văn hoá. Xã hội là chỗ tạo ra vai trò nam và nữ , dẫn đến con người là nạn nhân của những sai lầm mang tính giới hạn nam – nữ và sai lầm lớn nhất là gia đình. Giải pháp rõ rệt nhất cho những sai lầm này là tạo dựng một xã hội không có sự liên hệ nào hết giữa hai phái tính khác nhau (nam và nữ) đó.

Không ai cần việc sanh con, vì thế phụ nữ có thể phá thai và mọi người có thể tự biến mình thành trung tính, không là nam và cũng không là nữ.

Đàn ông có thể đóng vai trò cũ kỹ của người phụ nữ và phụ nữ có thể nhận vai trò có từ xa xưa của người đàn ông. Vai tró ấy có thể thay đổi cho nhau được mà. Điều này có nghĩa là hai người đàn ông có thể lấy nhau và cũng vậy, hai người đàn bà có thể lấy nhau. Một số cặp đồng tính còn cho rằng nếu hai người đàn ông có thể lấy nhau thì tại sao ba người lại không thể lấy nhau. Và tại sao ba người đàn ông lại không thể lấy ba người đàn bà.

Thật vậy, tại sao lại không được? 3

Chúng ta còn có thể giải phẫu bộ phận sinh dục để thay đổi giới tính, nghĩa là can thiệp vào sự khác biệt về giới tính theo sinh học cơ mà! Tại sao lại không?

Trong một xã hội như vậy, sẽ không có phân biệt cha, mẹ, anh, em gì cả. Nói vắn gọn, xã hội ấy không có tình yêu thực sự.

CÓ RẤT NHIỀU PHƯƠNG CÁCH ĐỂ TẤN CÔNG GIA ĐÌNH

Những người chủ trương chống lại cơ cấu gia đình cơ bản đưa ra nhiều phương cách.

Thứ nhất là phá vỡ quan hệ giữa những thành viên trong gia đình. Họ cổ vũ cho sự có quyền sống và suy nghĩ riêng tư của từng thành viên trong gia đình bởi chính mình và vì chính mình.

Thứ hai, giáo hội xác định rõ “quan hệ giữa vợ và chông trong gia đình mang tính ‘nên một’ và nhằm mục tiêu sinh ra con cái theo tự nhiên (Humanea Vitae, số 12). ‘Nên một’ có nghĩa là hai vợ chồng sống cống hiến cho nhau. Ly dị, thông dâm, và các trò dâm ô khác se phá vỡ sự ‘nên một’ của vợ chồng bằng cách phá huỷ niềm tin và sự hiệp thông giữa hai người. Bổn phận sinh con cái có nghĩa là vợ chồng phải sẵn sàng cho việc có con. Ngừa thai, phá thai, và thủ dâm sẽ phá vỡ vai trò sinh con cái của vợ chồng. Còn đồng tính luyến ái thì không bao giờ có thể trông mong sinh con cái được.

Thứ ba, quan hệ cha mẹ và con cái: Phá thai mang yếu tố chính trong việc phá vỡ tương quan liên hệ giữa cha mẹ và con cái bằng cách giết chết đứa bé chưa được sinh ra. Những bài học giáo dục giới tính chi tiết, những bài tập chỉ rõ những giá trị nam nữ, những bài thực tập tại các bệnh viện, trạm xá tại trường học (nếu không được hướng dẫn đúng) sẽ phá huỷ quyền của cha mẹ bằng cách dạy học trò rằng chúng có thể làm bất cứ những gì chúng muốn trong lãnh vực tình dục mà không cần hỏi ý kiến cha mẹ. Những đòi hỏi thành lập những nơi giữ trẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh cũng ủng hộ cho việc tách rời cha mẹ và con cái. Còn nữa, sự phủ nhận vai trò làm cha mẹ hiện đang trở nên ngày càng phổ biến sẽ dẫn đến việc nhiều người từ bỏ quyền có con cái.

Thứ tư, cha mẹ và ông bà. Giúp cho cái chết đến nhanh hơn là một hình thức tự tử có sự trợ giúp của bác sĩ. Đó cũng chính là sự tự phá vỡ quan hệ giữa cha mẹ và ông bà bằng cách giảm bớt số người lớn tuổi vì họ cho rằng những người lớn tuổi là gánh nặng không còn mang lại lợi ích gì cho họ cả.

Thứ năm, tìm cách loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi gia đình.

Chúng ta, những người tin Chúa thì cho rằng Thiên Chúa là một thành phần quan trọng trong gia đình bởi vì chính Chúa là nguồn cội của gia đình, đã tạo ra các thành viên trong gia đình. Nhưng những người chống lại đời sống tự nhiên tấn công vào giáo hội, vào tôn giáo và vào Thiên Chúa bằng nhiều hình thức bao gồm một thứ đạo-đứchọc-hoàn-cảnh, bao gồm việc đẩy mạnh sự nghi ngờ về sự hiện diện có thực của Thiên Chúa, bao gồm các hoạt động chống tôn giáo, cách ly tôn giáo, các phong trào ‘thời đại mới’, xâm nhập vào giáo hội và làm sai lạc nội dung Tin Mừng cũng như lến án mọi cố gắng loan truyền lời Chúa cho người khác.

Tóm lại, cách đây vài chục năm, một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình đông đúc anh em sẽ thấy được tình thương và sự chăm sóc của các thành viên gia đình với nhau. Gia đình lưu tâm và chăm sóc ông bà già cả. Ngay cả những con gái “không chồng mà có con” vẫn tìm được nơi che chở trong gia đình, trong một khung cảnh hỗ trợ và chăm sóc tận tình. Rồi những cặp vợ chồng gặp rắc rối trong hôn nhân vẫn tìm được an ủi trong quan hệ thân tộc.

Ngày nay, sau nhiều thập niên con người tìm cách ngăn trở cuộc sống tự nhiên, chúng ta thờ ơ với những thành viên trong gia đình gặp rắc rối trắc trở. Chúng ta tìm cách nhanh chóng dễ dàng và thuận tiện đi theo con đường hư hỏng. Con cháu cô lập ông bà chân yếu tay mềm, xua đuổi những người con sa chân lỡ bước, và sui khiến những cặp vợ chồng gặp khó khăn chia tay nhau càng sớm càng tốt.

Định nghĩa lại gia đình

Những người chủ trương lối sống mới không coi là quan trọng việc sinh con và tính một vợ một chồng của hôn nhân. Họ nói hôn nhân một vợ một chồng là giới hạn tự do và ức chế. Họ muốn được tự do hoàn toàn trong việc quan hệ với người khác nếu họ cảm tháy có những khó khăn hay bất trắc với người phối ngẫu. Và quan hệ gia đình trở nên lỏng lẻo, mạnh ai nấy đi theo con đường riêng, theo tiếng gọi con tim riêng của mình.

Chúng ta (trái lại) không quan niệm như vậy. Hôn nhân mà thiếu sự mong muốn sinh con và thiếu sự chung thuỷ thì không còn là hôn nhân đích thực. Sự liên kết giữa hai người lúc đó chỉ còn là một thứ sắp xếp quan hệ mang tính xã hội, tình dục, hay kinh tế mà thôi. Và hai danh từ “vợ chồng” chẳng qua chỉ còn mang ý nghĩa cặp đôi cho có bạn. Và vì thế “cặp ba, cặp bốn” có khác gì cặp hai!

Eva Svenden, một thành viên của tổ chức Tự Do Thuỵ Điển thuộc thành phố Malwoe, người đi đầu cho phong trào nhiều vợ, nhiều chồng mà tổ chức này coi đó là quyền con người cơ bản, đã nói như sau: “Chúng ta hãy có nhiều vợ, nhiều chồng cùng một lúc, bao nhiêu cũng được tuỳ theo ý thích của chúng ta. Xã hội không thể độc tài mà bắt chúng ta phải tổ chức gia đình chúng ta như thế này, như thế nọ. Mọi thành viên của tổ chức tự do có toàn quyền chọn sống với bao nhiêu đàn ông, bao nhiêu đàn bà … tuỳ thích. Thế hệ chúng tôi là thế hệ phóng khoáng. Giả dụ như một người phụ nữ ước muốn được sống với ba người đàn ông hay nhiều hơn nữa cùng một lúc thì việc đó là chuyện riêng của bà ta. Mọi người đều có quyền và nhu cầu thực hiện và hoàn thành nhu cầu cá nhân của họ về chuyện yêu đương.” 4

Những tuyên bố chống lại gia đình

Trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình, tài sản riêng tư và nhà nước”, Friedreich Engels tuyên bố: “Điều kiện đầu tiên của việc giải phóng người vợ là đưa toàn bộ giới phụ nữ vào một ngành công nghiệp công cộng và điều này đòi hỏi huỷ bỏ gia đình với chế độ một vợ một chồng như một đơn vị kinh tế của xã hội”.

Ngày nay những tờ báo và tạp chí có ảnh hưởng trên thế giới đều đã tuyên bố một cách đơn giản là gia đình đã chết. Có lẽ giới truyền thông tin rằng nếu họ cứ lập đi lập lại những tin tức (dối trá) như vậy, mọi người sẽ tin đó là sự thật.

Tờ USA TODAY mới đây đã tuyên bố rằng: “Gia đình theo truyền thống đang biến mất ở khắp nơi … Cuộc sống theo kiểu kính trọng người già và người gia trưởng đã chấm dứt. Gia đình trung lưu trông chờ vào sự nuôi sống của một người đi làm đã bị loại bỏ … 5

Tạp chí TIME đã viết: “Thực là hợp lý khi đặt câu hỏi là gia đình có còn nữa hay không. Cứ nhìn vào khuynh hướng đòi ly dị, vào việc số những người trưởng thành thích sống một mình ngày càng gia tăng, việc giảm bớt số gia đình có con và việc càng ngày càng có ít thời giờ để vợ chồng gặp nhau trong gia đình ta đủ thấy là một điều gì đó chắc chắn đang biến chuyển. Điều tốt đẹp hơn và nhanh hơn là phải giảm bớt ngay việc sinh sản con cái dựa vào gia đình. Xã hội sẽ sản sinh những thế hệ tương lai qua những cơ cấu tương tự như những phòng sinh sản do nhà nước bảo trợ.” 6

Những nhà tâm lý học nói rằng 90 phần trăm các gia đình hiện đang làm sai lệch chức năng của mình (trong khi đó họ lại rất cẩn thận không đề cập gì đến thế nào là sai lệch chức năng). Những người chủ trương nữ quyền cương quyết cho rằng “ gia đình là cơ cấu căn bản xác định và hoàn hảo sự phụ thuộc của người phụ nữ; gia đình là nơi diễn ra sự đàn áp tồi tệ nhất … Hôn nhân theo định nghĩa hợp pháp của nó đã cơ cấu hoá quyền của người đàn ông và tạo ra cưỡng ép tình dục đối với phụ nữ và hoàn toàn không thể hoà hợp được với quyền tự do thực hiện những hành vi tình dục.” 7 Nhà văn Vivian Gornik đã từng tuyên bố rằng, “Là một người nội trợ tức là chọn một nghề không hợp pháp (illegitimate). Việc chọn lựa phục vụ người khác, chọn lựa được bảo vệ và đặt kế hoạch để xây dựng gia đình là một lựa chọn không nên có. Phong trào ‘Vì Phụ Nữ’ phải thay đổi sự kiện đó. 8 Vì thế không ngạc nhiên gì khi tổ chức Vì Phụ Nữ Toàn Quốc (National Organization for Women viết tắt là NOW) tại Mỹ muốn huỷ bỏ hôn nhân để giải phóng phụ nữ. Sheile Cronan phát biểu tại Hội nghị của tổ chức NOW năm 1998 tại Houston, Texas rằng, “Vì hôn nhân tạo ra sự nô lệ của phụ nữ, cho nên các phong trào phụ nữ phải tập trung sức tấn công vào cơ cấu đó. Sự tự do của phụ nữ sẽ không thể đạt được nếu không huỷ bỏ hôn nhân”.

Lý luận : nuôi nấng con cái thật là tốn kém

Bao giờ cũng vậy, cuộc tấn công hữu hiệu nhất đối với bất cứ một cơ cấu nào cũng được thực hiện bởi những thành phần không đi đúng hướng. Trong trường hợp này, vợ và chồng đã được chứng minh cho thấy rằng nuôi nấng con cái thật là tốn kém và phiền phức. Vâng, nuôi con chắc chắn là rất tốn kém. Nhưng điều trái ngược là chỉ có những người nghèo mới có khả năng nuôi nhiều con. Những triệu phú và tỷ phú thường có ít con trong khi những người nghèo và những người trung lưu lại có vô số con cái. Có lẽ đây là lý do tại sao những người giàu nhất trên thế giới lại đóng góp nhiều đến như vậy cho việc kiểm soát dân số.

Trong vòng năm mươi năm qua, xã hội chúng ta đã đầy ắp ý tưởng cho rằng muốn có nhiều phải sở hữu nhiều. Vì thế thay vì có nhiều con cái để rồi hy sinh cho chúng, những người Mỹ chúng ta (tác giả Brian Clowes là người Mỹ – ghi chú của người dịch) đã đổ tiền vào bản thân chúng ta. Mỗi năm phải đi nghỉ mát ở nước ngoài. Phải có những tiện nghi tối thiểu: TV 50 inches, hai chiếc xe hơi, một ngôi nhà ở miền quê. Và sau khi có đủ những thứ đó chúng ta phá thai vì lý do không có đủ tiền để nuôi nấng chúng!

Đầu óc ích kỷ lớn lao và không có một chút yêu thương tha nhân nào như trên được các phương tiện truyền thông cổ vũ thêm. Một trong những thí dụ tồi tệ nhất xuất hiện trên tờ bìa tạp chí US News and World Report số ngày 303-1998. Người ta thấy hình ảnh một khuôn mặt dễ thương của một em bé với lời ghi chú: “Phí tổn nuôi nấng một trẻ sơ sinh: Bạn có thể tin là phí tổn ấy lên tới 1.455.581 đôla (một triệu bốn trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm tám mươi mốt đola) hay không!” Khi người ta đọc những dòng chữ không mang tích cách xây dựng như vậy, người ta sẽ có cảm tưởng là nuôi một em bé tốn kém vô cùng.

Tấn công vào phái tính

Những gnười chủ trương chống lại cuộc sống tự nhiên còn đi xa hơn nữa. Không phải họ chỉ mong muốn tiêu huỷ căn nguyên của hôn nhân và gia đình, một số còn đề nghị giảm bớt sự phân biệt phái tính.

Trong bản tuyên ngôn năm 1993 do một nhóm những lý thuyết gia “quái dị” đưa ra, họ viết: “Mục tiêu của chúng ta là đối đầu với sự phân chia phái tính tự nhiên đã có từ xưa, dù sự phân chia ấy từng rất phổ biến và tiềm ẩn. Nhiệm vụ của chúng ta là đối diện với một nền văn hoá hiện đại trên một hành tinh khác lạ”. Những nhà đồng tính luyến ái Marshall Kirk và Eraster Pill viết: “Nhiệm vụ của chúng ta chỉ hoàn tất khi nào chúng ta có thể tuyên bố cả hành tinh này đã hoàn toàn trở thành đồng tính!”

Một số những nhà hoạt động cho đồng tính mong muốn xoá bỏ sự khác biệt về sinh lý phái tính. “Trên một hành tinh với mọi người vừa là nam vừa là nữ và không còn ý thức về phái tính, với một quyền tối thượng là tự do thực hành hành vi tình dục ở bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào. Và tất cả những ai không cùng chung khuôn mẫu như vậy (có nghĩa là những người chủ trương một vợ một chồng) sẽ trở thành những kẻ kinh dị không giống ai, sẽ là những kẻ lạc loài trong xã hội mà ai ai cũng là đồng tính luyến ái!”

TẤN CÔNG VÀO GIÁO HỘI

Tại phương Tây, xã hội đang xây dựng những bức tường không phải đề phân cách nhà nước và giáo hội, nhưng họ đang xây những bức tường bao quanh giáo hội. Không bao lâu nữa, người ta sẽ nói với những người Thiên Chúa Giáo rằng: “Các anh được toàn quyền làm những gì các anh muốn chừng nào những việc đó không ảnh hưởng đến thế giới”. Một sự quấy rối tinh vi cho thấy sẽ diễn ra ở nhiều quốc gia theo năm giai đoạn, đúng như đã xảy ra với những người theo đạo vào những ngày đầu của giáo hội.

Nói xấu, tạo ra một dư luận coi giáo hội như kỳ cục và là yếu tố gây rối.

Hạn chế và đẩy tôn giáo ra khỏi dòng chảy của xã hội.

Phê bình và tấn công một cách bẩn thỉu bằng cách cho rằng tôn giáo là mầm mống của những rối loạn xã hội.

Lên án các hoạt động tôn giáo.

Cuối cùng loại bỏ tôn giáo với tất cả những âm mưu đẹp đẽ giả bộ công bình và hành xử dựa vào công luận.

Tại các quốc gia tiến bộ, tiến trình này diễn ra tương đối chậm. Tại một quốc gia mà Kitô giáo mạnh như Philuật-tân, tiến trình đó vẫn diễn ra dù chậm hơn nơi khác.

Trên thực tế, rất nhiều phe nhóm chống đối cuộc sống bình thường đã nói thằng rằng: mọi tôn giáo, nhất là Kitô giáo phải bị tiêu diệt.

Các phong trào chống sự sống tự nhiên phải tiêu diệt mọi tôn giáo để họ có thể không bị ràng buộc trong việc thực hiện những ý định của họ.

Phong trào giải phóng phụ nữ, trong tuyên bó nhân dịp hai năm thành lập đã nói: “Mọi cơ sở có ảnh hưởng lớn như tôn giáo phải bị tiêu diệt vì đã phát triển dựa trên sự thống trị của nam giới để áp chế phụ nữ.”

Mỗi một giai đoạn của cuộc cách mạng vì nữ giới phải quan tâm đến những sự liên hệ chặt chẽ của các cơ cấu như vậy và vì thế phải tập trung sự tấn công đồng loạt vào tất cả những cơ cấu tôn giáo đó.

Những người chủ trương ban phát cái chết cho người khác chẳng hạn như bác sĩ Jack Kevorkian, người chủ trương giúp cho những ai muốn tự tử, đã nói: “Điều chúng ta cần là một đòi hỏi ngược lại. Đòi hỏi đó là tiêu huỷ tất cả những sách vở của tôn giáo. Đó là điều cần thiết. Hãy dọn sạch thế giới này để chuẩn bị cho một thế giới hoàn toàn trần thế.” 9

Những người chủ trương chống lại sự sống tự nhiên như cựu dân biểu Mỹ Peter Hoagland thuộc tiểu bang Alabama thì hô hào rằng: “Những người tin vào Kinh Thánh và những kẻ cổ hủ đó không có quyền giáo huấn con trẻ đi theo niềm tin tôn giáo của họ bởi vì chúng ta và nhà nước chúng ta (nước Mỹ) đang chuẩn bị cho những trẻ em ấy bước vào thế kỷ 21, lúc mà nước Mỹ sẽ là một phần của một xã hội toàn cầu hoạt động theo một trật tự của một thế giới độc nhất mà những kẻ tin vào tôn giáo không thể hoà hợp được.” 10

Những thành phần chống đối tôn giáo luôn luôn vô cùng hăng hái trong việc nhổ tận gốc rễ tôn giáo và họ đã có những kế hoạch vô cùng chi tiết để thực hiện những việc đó. Jon Murray, con trai của Madalyn Murray O’Hair và là chủ tịch của Những Người Vô Thần Hoa Kỳ (American Atheists) từ năm 1986 đến 1994, đã viết: “Tôi muốn thấy tôn giáo bị tàn phá về cơ cấu không phải chỉ trên đất nước (Mỹ) này, nhưng trên toàn thế giới … Những thế hệ hiện tại và tương lai phải thấm nhuần tư tưởng chống tôn giáo bởi vì tôn giáo chỉ là một thứ bệnh hoạn về tinh thần. Điều đó có nghĩa là mọi nhà thờ phải bị đóng cửa vì không phải là nơi thích hợp để con người đến đó. Những tư tưởng do các giáo hội đưa ra đang làm tổn thương đến nhân loại … Tôi thấy không có gì phiền hà khi nhà nước đóng của các nhà thờ, chiếm giữ các tài sản của giáo hội và chuyển những cơ sở và tài sản đó cho những hoạt động ích lợi khác của quần chúng … Một bảng hiệu ghi rõ ‘Cơ quan bảo vệ sức khoẻ của nước Mỹ xác định rằng nếu bạn bước vào những nơi này (nhà thờ) là bạn tự làm tổn thương, làm bệnh hoạn tinh thần bạn’ và bảng hiệu đó phải được đặt ngay trước lối ra vào các nhà thờ. ‘Tự do thoát khỏi tôn giáo’ (Freedom from religion) phải được hợp pháp hoá thay cho “Tự do gia nhập tôn giáo’ (Freedom for religion) … Trải qua rất nhiều năm, những người chống tôn giáo luôn luôn đòi hỏi ‘tách nhà nước ra khỏi giáo hội’. Điều đó đã hiển hiện rõ ràng và được giải thích cặn kẽ qua những câu khẩu hiệu mà từ lâu chưa được thực hiện đó là chúng tôi muốn thấy tôn giáo héo úa và tàn lụi trên những giây nho già. Và điều đó không thể thực hiện được nếu không có những giải pháp tích cực của chúng ta để chống lại những ý tưởng tôn giáo và những cơ sở tôn giáo …” 11

Rất nhiểu người chống tôn giáo đã đi xa hơn nữa khi tuyên bố rằng tôn giáo là một giống vi-rút của các chứng bệnh tinh thần. Albert Ellis, một người chống tôn giáo, và đã được trao giải thưởng “nhân vật vì nhân quyền trong năm” đã nói: “Tôn giáo nhắm mục tiêu làm suy yếu sức khoẻ tinh thần. Tôn giáo thúc đẩy một loại nhận thức cuồng tín, ép buộc những cưỡng bách tinh thần theo một hướng nhất định; đó là một thứ bệnh tinh thần. Tôn giáo và bệnh hoạn tinh thần gần gũi với nhau và không thể tránh được cũng không thay đổi được sự ảnh hưởng lẫn nhau đó. Phân tích cho đến cùng, tôn giao là một thứ bệnh thần kinh (neurosis).” 12

Ghi chú: (1) 8th Asia Pacific Congress on Love, Life and Family, Oct. 25-27, U.P. Film Center, Diliman, Quezon City, the Philippines.

(2) Gloria Steinem, quoted in the March 1973 Saturday Review of Education. (3,4) Alfred de Tavares, “Indian-born Seeks to Legalise Bigamy in Sweden”. The Times of India, April 13, 2000.

(5) Lester C. Thurow. “Changes in Capitalism Render One-Earner Families Extinct”. USA Today, January 27, 1997, page 17A.

(6) Timew Magazine Fall 1992 Special Issue entitled “Beyond the Year 2000: What to Expect in the New Millenium.”

(7) Mica Niva. “From Utopia to Scientific Feminism?” Quoted in Lynne Segal. What is to Be Done about the Family? Penguin Books/ Socialist Society, 1983, trang 66, 69.

(8) Vivian Gornik, in the April 25, 1981 issue of the University of Illinois Daily Illini, as reported in David Kupelian and Mark Masters. “The New McCathyism.” New Direction Magazine, July 1990, trang 22.

(9) Jack Keverkian, Associated Press, 24-2-1997. Tạp chí Hiệp Hội các Gia Đình Mỹ, số tháng 5-1997, trang 4.

(10) Peter Hoagland, Cựu Dân biểu Hạ Viện Mỹ trong chương trình Fronline, bài nói chuyệ n được ghi lại trong Cavalry Contender (Tập 15, số 1) tháng giêng 1998, thuộc giáo hội Cavalry Baptist Church, 1800 Sparkman Drive, Huntville, Alabama 35816.

(11) Mục tiêu chống tôn giáo”. John Murray, Chủ tịch American Atheists, 1986-1994, trong bản tin của American Atheists, số tháng 5-1994, trang 11 và 12.

(12) Albert Ellis. “Chống tôn giáo”, tờ bướm không ghi ngày của Institute for Rational Living

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.