Những hiểu lầm về Chúa Giêsu

Ân Giang

Người ta hiểu lầm nhiều điều về Đức Giêsu, lầm do thiên chí cũng có, mà cố ý cũng có; quá đáng nữa còn có nhiều xuyên tạc vì mục đích riêng tư đen tối cũng có.

Thật vậy, có khá nhiều sách vở trắng trợn xuyên tạc nhiều điều về Đức Giêsu, đại khái như Chúa có nhiều anh em ruột, hoặc trước khi đi giảng dạy Người đã đi nhiều nơi để học hỏi, hoặc như Chúa cũng yêu đương, cũng có người tình, như Nikos Kazantskis, hoặc Dan Brown gần đây muốn nói trong tiểu thuyết hư cấu của họ.

Tất nhiên kẻ bày ra xuyên tạc phải có dụng ý và mục đích nào đó ta chẳng cần biết, nhưng sự xuyên tạc của họ có thể ảnh hưởng tới Đức Tin và niềm tuân giữ những tín lý và giáo lý mà tín hữu chúng ta phải trì thủ. Vẫn biết niềm tin và sức trì thủ của ta đều là hồng ân Thiên Chúa ban cho, nhưng hồng ân vốn như nước đựng trong li, nếu chiếc li nghiêng ngả thì nước sẽ sóng sánh và thất thoát. Phần ta cũng thế, những xuyên tạc như nói trên đây rất có thể gây nên chao đảo trong nội tâm chúng ta và ảnh hưởng phần nào đến Đức Tin và sự giốc tâm trong việc thờ phụng Thiên Chúa. Vì thế, thiết nghĩ nhân dịp này ta cũng nên nhận định cho rõ đâu là sự thực.

Thật ra những vấn đề như “anh em Đức Giêsu” là truyện quá cũ. Ngay từ những thế kỷ đầu Kitô nguyên, chính thánh Giêronimô (340 420) đã giải thích về điểm này trong tác phẩm “Cousin Theory” của ngài, và còn nhiều tác giả danh tiếng khác nữa.

Trước hết là sự nhầm lẫn về “anh em Đức Giêsu”.

Điều chúng ta thành tâm xác tín là “Đức Giêsu không hề có anh chị em ruột thịt nào cả”.

Tín đồ Thiên Chúa giáo ai cũng biết và tin Chúa Giêsu là con Đức Maria. Đặc biệt tín hữu Công Giáo La Mã còn tin Đức Maria là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và trọn đời đồng trinh”. Xác tín như vậy có nghĩa là Đức Mẹ cưu mang Chúa Giêsu là do quyền phép Thiên Chúa làm. Sự cưu mang này tuyệt đối không dính dáng gì và ngoài khả năng loài người. Đây là một “mầu nhiệm”: mầu nhiệm “Ngôi Lời Nhập Thể”,nằm trong chương trình vĩ đại là “Chương trình Ơn Cứu Độ” do yêu thương mà Thiên Chúa làm cho loài người.

Tóm lại tín hữu công giáo tin Đức Giêsu là con Đức Nữ đồng trinh Maria sinh ra. Người là “Con Duy Nhất”, mà Đức Mẹ sau khi hạ sinh Chúa Giêsu, Mẹ vẫn là một trinh nữ mãi mãi đời đời.

Nhưng vì sao người ta lại hiểu lầm Đức Giêsu có nhiều anh em ruột ?

Sự nhầm lẫn này xảy ra có thể vì các Tin Mừng, khi trình thuật về phương diện anh em Đức Giêsu, thường chỉ nói đơn giản; nhưng cho dù đơn giản ai cẩn thận đọc kỹ và so sánh các Tin Mừng cũng không thể nhầm lẫn được. Lý do quan trọng hơn là vì những người cố ý xuyên tạc.

 

Phụ nữ trong các trường hợp

Matthêu

Marcô

Luca

Gioan

Maria, mẹ Đức Giêsu

1:18-25

1:26-56

Bà Elizabeth,

1:5-45

Bà Anna tiên tri

2:36-38

Mẹ vợ ông Phêrô

8:14

1 :29-31

4 : 38-39

Bà góa thành Nain

7:11-17

Người phụ nữ tội lỗi

7:36-50

Những phụ nữ đi theo Đức Giêsu

8:1-3

Phụ nữ bị băng huyết và cô con gái một vị thủ lãnh

9:18-26

5:21-43

8:43-56

Hai chị em Matta và Maria

10:38-42

11:1-44

Một phụ nữ còng lưng

13:10-13

Phụ nữ Samaria

4:7-30

Phụ nữ ngoại tình

8:1-11

Bà góa và hai đồng tiền

12:41-44

21:1-4

Con gái người đàn bà Canaan

15:21-28

Bà vợ ông Dêbêđê

20:20-23

10:35-40

Phụ nữ xức dầu thơm cho Đ.Giêsu tại Bêtania

25 : 6-13

14:3-9

12 : 1-8

Người tớ gái tố Phêrô

26:47-55

14:72

22:54-65

18:25-27

Những phụ nữ trên đồi Golgôta

27 :55-56

15:40-41

23:49

19:25-27

Những phụ nữ bên mồ Đức Giêsu

27 : 55-61

15 :42-47

23 : 50-55

19 : 38-42

Các bà viếng mộ

28 : 1-8

16 : 1-8

24 : 1-10

20 : 1-10

Đức Giêsu hiện ra với các phụ nữ

28:9-10

16:1-8

24:1-10

20:11-18

Cả bốn Tin Mừng đều có nói tới một số phụ nữ, như bảng lược kê sau đây :

Đọc Tân Ước, ta thấy Tin Mừng nào cũng chỉ nói trống “Mẹ và anh em của Đức Giêsu”(Mt,12:46 47)+(Mc,3:31 35)+(Lc,8:19 21).

Thuật đoạn Đức Giêsu về thăm Nazareth các Tin Mừng lại càng có chỗ từ ngữ không rõ ràng, dễ sinh hiểu lầm hơn. Như thánh Matthêu đã viết : ”Mt,13:53…55 Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Gioxếp, Simôn và Giuđa sao ? 56 Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao ?…”(Mc,6:1 6+(Lc,4:16 30).

Để làm rõ ràng hơn mấy tiếng “anh em Đức Giêsu” trong đoạn Phúc Âm vừa kể, tưởng phải bàn về mấy điểm sau đây :

Trong Kinh Thánh có phụ nữ nào khác, ngoài Đức Maria Mẫu Thân Chúa Giêsu, có con cái mà người ta có thể nhầm là anh em ruột Đức Giêsu chăng ?

Xem trong ngôn ngữ Do thái cổ có chỗ nào thiếu sót mà gây ra hiểu nhầm chăng :

Xem trong ngôn ngữ Do thái cổ có chỗ nào thiếu sót mà gây ra hiểu nhầm chăng ?

Trong số những phụ nữ thuộc bảng kê này có mấy người tên là Marie, ngoài Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu; trong số phụ nữ có tên là Marie thì Bà Marie Clopas (Klopas) có lẽ là một trong nguyên nhân chính của việc hiểu lầm về “anh em Đức Giêsu”.

Nguyên Đức Maria có một người chị ruột cũng tên là Marie, Kinh Thánh cho biết bà là vợ ông Cơ lô pát (Ga 19:25), nhưng theo Bách khoa tự điển công giáo thì bà là Marie Clopas. Á Thánh A.C. Emmerich (1774 1824) có nói khá nhiều về bà Marie chị Đức Bà, lấy ông Cléophas nên gọi là bà Marie Cléophas.

Marie Cléophas là người phụ nữ rất cao số, đã trải qua ít là bốn lần đò và đời chồng nào cũng có con cả.

Lần đầu tiên xuất giá, bà là vợ ông Cléophas, nên có tên là Marie Cléophas. Bà sinh một gái, cũng đặt tên là Marie; cô này từ nhỏ đã ở luôn tại nhà bà ngoại (tức bà thánh Anna). Cô Marie này lớn hơn Đức Giêsu đúng bẩy tuổi. Hệt như mẹ, cô cũng là một phụ nữ trải qua nhiều đời chồng.

Sau ông Cléophas, bà Marie lấy ông Alphée và sinh ba con trai, là Simon, Giacôbê (gọi là Giacôbê Thứ vì Giacôbê Cả là con bà Marie Zêbêđê –Mt, 5:21 22 ; cả hai Giacôbê đều là môn đệ Đức Giêsu, và Jude Thaddée, tức là Giuda, sau cũng là môn đệ Người.

Bà lấy người chồng thứ ba tên là Sabas, vợ chồng sinh một trai là José (hay là Gioxếp) Barabas.

Người chồng cuối cùng là Jonas, sinh ra một trai là Siméon. Jonas, người chồng thứ tư này ở gửi rể tại nhà thánh Anna và phụ trách trông coi mọi việc trong nhà nhạc mẫu, như một viên quản gia vậy.

Tóm lại bà Marie Cléophas là mẹ những người sau đây :

Cô Marie, con ông Cléophas. Theo Á Thánh A.C.Emmerich, cô Marie này rất có duyên với Đức Giêsu. Khi Đức Maria ngụ tại nhà Thánh Anna để chuẩn bị cho ngày hạ sinh Ngôi Hai Thiên Chúa, cô bé Marie cũng ở trong nhà bà ngoại, lúc nào cũng lon ton chạy theo Đức Bà (mà cô gọi là Dì), hàng ngày cô được Đức Bà dạy chữ, giảng Kinh và kể cho nghe những truyện khi xưa trong Đền Thờ. Cả hai Dì Cháu suốt ngày quấn quýt lấy nhau. Lúc ấy cô Marie mới lên bẩy và mong mỏi Dì sớm có em bé để chơi với cô.

Các ông Simon, Giacôbê, và Jude Thaddée (hay là Giuda), con ông Alphée.

Ông José (Gioxếp) Barabas, con ông Sabas.

Ông Simon, con ông Jonas, người chồng cuối cùng.

Trong sáu (6) người con bà Marie Cléophas, Tin Mừng có nói tới hai người, đều là con ông Alphée, một là Giacôbê hai là Gioxếp (Mt,27:56). Thực ra, Gioxếp cũng là con bà Clopas, nhưng cha là Sabas chứ không phải là Alphée.

Gia đình bà Marie Clopas thuộc hạng giầu có, và cư ngụ tại Nazareth nên dân thành mới biết gia đình này là họ hàng của Đức Giêsu, do đó họ mới nêu tên các con bà Maria Clopas mà bảo là “anh em Đức Giêsu”.

Dân thành Nazareth nói con bà Marie Clopas là anh em với Đức Giêsu là đúng, nhưng chưa rõ ràng đủ. Họ phải nói “con cái bà Marie Cléophas là “anh em họ với Đức Giêsu” thì mới chính xác, vì những người này quả thực là vai trên và họ đều là đôi con dì ruột với Đức Giêsu.

Dân thành Nazareth chỉ có thể nói mấy người con của bà Maria Clopas là “anh em chị em” của Đức Giêsu vì, theo những chuyên gia chú giải Kinh Thánh, trong ngôn ngữ Do-Thái cổ không có từ “anh em ruột” để phân biệt với “anh em họ”; dù ruột hay họ đều dùng một từ duy nhất là “anh em”mà thôi. Ngay trong chữ viết, DoThái phát minh văn tự rất sớm (khoảng gần gần 1500 BC), sớm hơn cả Hilạp, nhưng bản mẫu tự của họ chỉ vỏn vẹn có 22 tử âm (consonne) mà không có mẫu âm (voyelle). Khi văn tự DoThái truyền tới Hilạp, người Hilạp mới dùng luôn 22 tử âm DoThái và tạo thêm những mẫu âm để hoàn thành bản mẫu tự đầy đủ của Hilạp.

Một điều rất đáng ghi là vì Đức Maria chỉ có một mình Đức Giêsu là con, nên khi trên khổ giá, Người đã gọi Gioan mà dối Đức Mẹ cho, để sẽ thay thế Người mà phụng dưỡng Thánh Mẫu. Thường lý cho thấy, chỉ những ai không con mới phải nhờ người ngoài phụng dưỡng mà thôi. Nếu Đức Giêsu có “anh em” thì hà cớ Người còn phải trao Mẹ mình cho Gioan làm chi cho thừa…?!

Nhưng ngoài việc dân thành Nazareth gọi bốn người con của bà Marie Kolpas là “anh em Đức Giêsu”, trong sách vở còn gọi Đức Maria là “Mẹ của Giacôbê”. Tại sao lại có điều này ?

Bách khoa tự điển công giáo có nói tới một bản Tân Ước không chính thức (Apocryphes du Nouveau Testament) trong đó chính Đức Giêsu kể về Thánh Giuse : lúc bốn mươi tuổi Thánh Giuse đã lập gia đình với một phụ nữ tên là Melcha (hoặc Escha, hay Salomê ?). Hai người sinh được bốn trai và hai gái. Con trai là Jude, Josetos, Giacôbê và Simon; con gái là Lysia và Lydia. Bà Melcha chung sống với thánh Giuse được bốn mươi chín năm thì qua đời ngay sau khi hạ sinh con út là Giacôbê. Thánh Giuse ở một mình được trọn một năm thì xảy ra cuộc “rút thăm” tại Đền Thờ, do các Thày Cả tổ chức để chọn phu quân cho Đức Nữ Maria khi ấy được mười hai tuổi (đã đủ điều kiện lập gia đình), sau khi đã ở trong Đền Thờ chín năm. Cuộc rút thăm dành riêng cho những người đàn ông thuộc dòng David kết thúc. Các Thày Cả trao Đức Maria cho thánh Giuse là người trúng thăm mà nói :”Cô hãy theo ông Giuse. Hãy vâng lời ông ấy cho tới thời luật định để cử hành hôn lễ”.

Thánh Giuse sau khi đưa Đức Maria về nhà (tại Nazareth) rồi lại ra đi làm xa. Thấy bé Giacôbê còn nhỏ mà đã lâm cảnh mất mẹ, cha thì quanh năm đi làm xa nhà với hai anh lớn, hai chị đã lập gia đình và ra ở riêng, người anh thứ ba còn quá nhỏ tuổi không thể trông coi em được, Đức Maria liền tận tình đích thân chăm sóc Giacôbê như con ruột của mình. Dân thành Nazareth thấy vậy nên gọi Đức Maria là “Bà Maria mẹ cậu Giacôbê”.

Người DoThái khi xưa có thói quen kèm tên mình với tên cha, hoặc tên anh em nào đã nổi danh, hoặc tên một người nào trong nhà để nói lên một sự kiện đặc biệt nào đó. Vì thế, thấy Đức Maria chăm lo cho Giacôbê như một bà mẹ chăm sóc con mình, nên dân Nazareth mới kêu Đức Bà là “mẹ Giacôbê”.

Đức Maria ở trong nhà thánh Giuse một mình, chăm lo cho bé Giacôbê suốt hai năm liền, trong khi thánh Giuse hoàn toàn vắng nhà vì đi làm ở xa với hai người con trai lớn. Khi Đức Maria được trọn mười bốn tuổi xảy tới việc Chúa Cha sai Sứ Thần Gabriel tới truyền tin cho Người…Và Người mang thai Đức Giêsu.

Trở lại với bốn người con trai riêng của thánh Giuse, ta thấy có Giacôbê và Simon trùng tên với hai vị môn đệ Đức Giêsu.

Trong mười hai môn đệ Đức Giêsu, có hai người tên là Giacôbê; một người là Giacôbê Cả, con bà Maria Zêbêđê, có em ruột là Gioan, môn đệ được Đức Giêsu thương yêu đặc biệt (Lc,4:10), còn Giacôbê Thứ là con ông Alphê (Lc,6:15). Khi Đức Giêsu đã phục hoạt và về trời, các môn đệ chia nhau đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi xa gần thì có một trong hai ông Giacôbê được cử đứng đầu Hội Thánh tại Giêrusalem. Nhiều tài liệu sử sách ngoài công giáo nói Giacôbê này là “anh em Đức Giêsu”(Jacques frère de Jesus,như “Histoire de l’empire romain”, Lycos Multimania).

Nói Giacôbê giám mục tiên khởi Hội thánh Giêrusalem là anh em Đức Giêsu là đúng, nhưng là “anh em đôi con dì” (cousin) vì Giacôbê Cả là con bà Maria Zêbêđê, còn Giacôbê Thứ , con ông Alphê, người chồng thứ hai của bà Marie Klopas (như vừa nói trên đây).

Theo nhiều tài liệu, Giacôbê của Giêrusalem là nhà truyền giáo đầu tiên đã rời đất DoThái, đi xa nhất để truyền bá Tin Mừng tận phía Tây Bắc nước Tây Ban Nha. Ở đó không bao lâu, việc rao giảng Tin Mừng không mấy tiến triển, Giacôbê lại trở về Giêrusalem, rồi tử đạo. Mấy đệ tử người Tây Ban Nha bí mật đưa thi hài Thánh Giacôbê về lại Tây Ban Nha, mai táng rất chu đáo ngay trong vùng ngài đã tới rao giảng Tin Mừng. Trải qua một thời gian loạn ly, mộ bị thất lạc. Mãi tới thế kỷ thứ IX, vị giám mục thành Iria Flavia, nay là Galice, về phía Tây Bắc Tây Ban Nha, mới chính thức hóa việc tìm thấy mộ Thánh Giacôbê trong vùng giáo phận mình. Truyền thuyết việc tìm thấy mộ Thánh Giacôbê làm cho toàn Giáo Hội lúc đương thời phải kinh ngạc.

Từ khi tìm lại được mộ Thánh Giacôbê tại đất “Campus Stellae”, quí địa này đã trở nên một nơi hành hương vô cùng sầm uất trong suốt thời Trung Cổ; khách hành hương thuộc đủ các giai tầng xã hội, từ vua chúa quan quyền tới bình dân nghèo khó, kể cả những vị thánh, các chức vị trong hàng lãnh đạo giáo hội, đến nỗi “hiện tượng Compostelle” đã trở thành một huyền thoại trong giáo hội Âu Châu lúc đương thời.

Nhiều giáo phái thuộc hàng huyền môn hay đưa ra những sai lạc về Đức Giêsu, nói Người từng có mặt ở nhiều nơi tại Đông Phương, hiện nay vẫn còn ghi lại bằng chứng.

Họ nói Đức Giêsu từng đến Nhật Bản, lập nghiệp rồi chết tại đó, để lại vợ con…Ngày nay tại Nhật có cả một làng đông tới vài ngàn người, có cùng tên họ từ tên Đức Giêsu mà ra. Mộ Người tại đó, nay còn thấy…!?

Cũng có phe phái nói Đức Giêsu từng có mặt ở Ba Tư, học tập huyền môn tại các đền thờ Ai Cập, hoặc đã sống tại Trung Hoa và được tôn là :Bạn của giới nghèo hèn”.

Trong loạt sách nổi tiếng bán rất chạy, dịch từ tác phẩm gốc của Spalding, có quyển nói Đức Giêsu nay vẫn sống và sinh hoạt tại vùng cao thuộc miền Hỷ mã lạp sơn. Có một điều kỳ lạ khác, là Ponce Pilate cũng sống bên cạnh Đức Giêsu, hiền hòa như người đầy tớ theo chủ vậy (…?!).

Người ta cũng nói Đức Giêsu từng có mặt tại Ấn Độ, học tập với những vị “tôn sư” tại đấy trong một thời gian dài.

Thật là truyện tưởng tượng, nếu không phải là hư cấu như trong tiểu thuyết ! Bởi vì, từ khi Đức Maria và Thánh Giuse tìm lại được Đức Giêsu thì Người theo Hai Đấng về lại Nazareth và “ngày càng thêm khôn ngoan,thêm cao lớn và thêm ơn nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 3:52).

Sở dĩ thiên hạ bày đặt những truyện tưởng tượng về Đức Giêsu, vì trong thời gian 18 năm, từ khi ở Đền Thờ trở về cho tới ngày Đức Giêsu ra giảng đạo, các Tin Mừng đều thinh lặng không hề một lời nào nói về Người. Tuy nhiên Á Thánh A.C.Emmerich đã thuật lại sự sinh hoạt của Đức Giêsu trong thời gian 18 năm này, viết trong “Vie de Notre Seigneur Jesus Christ” (tome I và II), do Linh mục De Cazales, kinh sĩ Versailles, dịch từ tiếng Đức.

Á Thánh A.S.Emmerich cho biết, trong mười tám năm này, Đức Giêsu luôn luôn có mặt tại Thánh Gia Thất. Người tiếp hết thảy những thiếu nhi trong thành Nazareth tìm tới với Người, chỉ dạy cho họ nhiều điều về Kinh Thánh và những điều khác trong đời sống. Sự thông thái và khôn ngoan đạo hạnh của Đức Giêsu làm cho cả thành biết và ca ngợi. Trong hầu hết các gia đình, cha mẹ thường răn con phải bắt chước “Người con ông thợ mộc” mà ăn ở. Họ đe con, nếu đứa nào hư hốt, nói năng bất cẩn, họ sẽ mách Đức Giêsu. Ngay cả lớp thanh niên cũng tìm tới với Đức Giêsu.

Sau khi Thánh Giuse qua đời, Đức Giêsu thỉnh thoảng có rời khỏi nhà, tìm tới thăm xem những vùng lân cận, gặp gỡ một số người, giúp đỡ và chữa chạy cho một số người khác, tìm nghe về Thánh Gioan Tẩy giả đương rao giảng và làm phép rửa trong vùng ven sông Giocđanô.

Trong dịp này, Đức Giêsu có gặp gỡ sơ với anh em Phêrô, vì cơ sở đánh cá của họ ở khá gần nhà Người. Một số người khác, sau này có kẻ trở thành môn đệ, cũng được Đức Giêsu gặp vào thời gian này.

Đức Giêsu cũng tới tận miền Giuđêa, nhân đó quen biết nhiều người, đặc biệt là gia đình bốn chị em Lazarô ở Bêtania, và trở nên rất thân thiết với gia đình này. Người cũng tới Bethlehem và vào thăm lại thạch động nơi Thân Mẫu đã hạ sinh Người khi trước.

Chúa Giêsu cũng đi thăm miền ven biển phía Nam Judéa, rồi trở vào, qua sông Giocđanô, tìm thăm vùng hoang địa và núi non cao nguyên phía Tây, nơi có những làng hẻo lánh, dân cư thưa thớt.

Tới đâu Người cũng nghiên cứu mọi mặt, giúp đỡ và cứu chữa mọi người, dường như để chuẩn bị cho những ngày Người sẽ ra mặt công khai rao giảng về “Nước Trời” sau này.

Sau cùng, Đức Giêsu đi dự đám cưới chàng Nathael lấy con gái thành Cana. Nathael cũng có họ hàng xa xa với Đức Giêsu. Anh ta lớn hơn Người mấy tuổi. Hồi sinh tiền Thánh Giuse, Nathael từng gặp Đức Giêsu, được Chúa hứa sau này sẽ đi dự đám cưới của anh ta.

Từ sau tiệc cưới thành Cana, Đức Giêsu đi vào cuộc đời công khai như các Tin Mừng trình thuật.

Nhưng Đức Giêsu có biết yêu đương, có người yêu và cho người yêu ngồi sát cạnh trong bữa tiệc ly như Dan Brown viết chăng ? Hoặc có tưởng tới người yêu trong phút hấp hối trên khổ giá như sách của Nikos Kazantsakis viết chăng ? Chắc chắn những điều này đều là hư cấu.

Trong suốt thời gian bị tra khảo trước tòa Tôn Giáo Do-Thái do các Thày Cả thượng phẩm chủ tọa, trước Pháp Đình La Mã do Philatô chánh thẩm, và trước Vương Đình DoThái do Hêrođê xét xử, Đức Giêsu đã bị cáo gian biết bao điều, chẳng thiếu điều gì, nhưng tuyệt đối trong các phiên tòa này, không hề có ai cáo Đức Giêsu về bất cứ tội nào dính dáng đến phụ nữ, mặc dù trong ba năm rưỡi bôn ba giảng dạy, Người đã tiếp xúc với giới phụ nữ không ít, trong đó có cả những phần tử nổi tiếng “giang hồ”,có cả người đẹp bị bắt quả tang đương “bán hoa” cho khách làng chơi nữa.

Nhưng trong tiểu thuyết của mình, Dan Brown và Nikos Kazantsakis lại hư cấu viết Đức Giêsu từng yêu cô Marie Madeleine. Tại sao lại là Marie Madeleine mà không là phụ nữ nào khác ?

Marie Mađalêna là em của Martha và Lazarô. Cô còn một người chị kế cô tên là “Marie la Silencieuse” (mà Tin Mừng không hề nói tới). Bốn chị em ai nấy ở riêng, mỗi người một lâu đài ngay trong khu vực làng Bêtania, cách Jêrusalem chừng gần hai dặm.

Bốn chị em Martha, Lazarô, Marie La Silencieuse và Marie Mađalêna là dòng dõi hoàng gia Syria. Cha là một hoàng tử, rất giầu có; khi qua đời để hết gia sản lại cho bốn chị em Martha.

Ba cô con gái không kinh doanh gì, nhưng Lazarô thì hoạt động kinh tế tài chính rất nhiều. Ngoài ruộng vườn và nhà cửa dinh cơ khắp nơi, ông còn có cả một hệ thống khách sạn sang trọng, chỉ dành nghênh đón những khách giầu sang mà thôi. Tất nhiên Lazarô thuộc hạng quyền thế, quen biết rộng rãi và am hiểu thời cuộc Do thái.

Lazarô biết Thánh Gia Thất khi Đức Giêsu còn ẩn cư tại Nazareth. Ông đã khéo léo yểm trợ tài vật cho gia đình Thánh Giuse, ngầm nâng đỡ một gia đình mà có lẽ ông tin từ đó xuất thân “Đấng giải cứu DoThái”. Ông biết cả việc cụ già Simon và bà lão Anna từng tiên tri cho Giêsu, và tin người cứu Do-Thái không ai khác chính là Đức Giêsu vậy.

Chị của Lazarô là Martha vẫn ở độc thân,là một thứ “công chúa”, tuy cũng có giao dịch với xã hội, nhưng phần lớn “cấm cung” tại lâu đài riêng của mình. Martha nghe danh tiếng Đức Giêsu đồn vang và theo dõi rất sát công cuộc Người rao giảng khắp đó đây. Cô khâm phục Đức Giêsu, nhưng không ở trong nhóm phụ nữ ngày ngày theo để giúp đỡ Người. Cô chỉ khát vọng Đức Giêsu năng tới thăm gia đình chị em cô. Trong những dịp ấy cô tận tụy phục dịch, mở tiệc khoản đãi, và gọi cả ba em tới nhà để cùng đón tiếp Đức Giêsu. Có lần cô lăng xăng, lúi húi chỉ bảo gia nhân lo thiết đãi Đức Giêsu, nhưng em gái út cô là Marie Mađalêna thì chỉ ngồi tệt dưới sàn nhà, một mực ôm chân Đức Giêsu và lắng nghe Người, như say sưa hớp từng giọt cam lồ tiết ra từ những lẽ khôn ngoan, cao thâm, huyền nhiệm trong lời nói của Đức Giêsu vậy. Thấy thế, cô phát điên lên, mách Đức Giêsu, nhưng Người lại bảo cho cô biết “cô dại lắm, chỉ nắm cái phần thứ yếu, còn phần chính thì em cô đoạt mất rồi” (Lc 10 : 41 42).

Người em gái sát với Lazarô có tên là Marie, nhưng cô là một người khá kỳ lạ, không hề giao dịch và nói với ai một lời nào, kể cả với anh em trong nhà, nên có biệt danh là “La Silencieuse”,nghĩa là “Cô gái tịnh khẩu”.Nhưng cô chỉ im lặng với người khác, còn khi ở một mình trong vườn hoa nhà cô, cô ngẩng mặt lên trời, thốt ra những lời khá kỳ lạ, như để nói với cây cỏ hoa lá, nói với mây với gió; những lời ấy không vì điên loạn, nhưng là những lời cao thâm, huyền bí, khó ai hiểu nổi ý nghĩa.

Có lần Đức Giêsu tới thăm Lazarô, có cả Martha ở đó. Cô xin phép Đức Giêsu rồi đưa em gái tới vườn và mời Người gặp em gái cô. (có lẽ Martha cho rằng em mình điên, ngầm xin Đức Giêsu chữa trị cho em mình chăng..?)Trong khu vườn mênh mông trồng đủ thứ cây cảnh, hoa cỏ kỳ lạ, có những nẻo đi sạch sẽ giữa các khu vườn, Marie La Silencieuse đi song song với Đức Giêsu, tuy không quay hẳn sang Người, nhưng cũng nhích về phía Người phần nào, mà mặt vẫn ngẩng nhìn trời, lắng nghe Đức Giêsu. Trong khi hai người từng bước song song trong vườn, Đức Giêsu chỉ đọc những lời Kinh, lời nguyện. Marie ở bên cạnh hết sức lắng nghe và theo dõi, đôi khi đọc theo. Sự việc diễn ra qua một thời gian không lâu thì chấm dứt. Đức Giêsu gặp lại chị em Lazarô, còn Marie em gái Martha được dẫn về lại lâu đài của cô.

Nói với Martha và Lazarô về cô em gái của họ, Đức Giêsu bảo “Marie không phải là cô gái điên, hoặc khùng, hoặc bệnh tật gì cả. Cô chỉ là con người thân xác thì ở đây, nhưng hồn trí ở tận những thế giới khác. Marie không phải là người của thế giới này”.

Quả thật Đức Giêsu cư xử với mỗi người trong gia đình Lazarô một khác.

Với Martha, con người thực tế, chu toàn những việc trong đời sống thường, chưa đủ sâu sắc để nhận ra những gì thuộc về “Hạnh Phúc Vô Cùng”.

Với Lazarô, con người của kinh doanh, của xã hội và chính trị. Chính những toan tính, lo âu về vật chất đã làm bận lòng ông và thường xuyên lăm le cướp đi mạng sống của ông. Vì vậy đã có lần ông bất thần tắt thở, bỏ lại chị và hai em, và không kịp gặp mặt Đức Giêsu, người ông hết sức kính yêu, tin tưởng và sẵn lòng vâng phục.

Với Marie La Silencieuse, Đức Giêsu chỉ nguyện Chúa Cha tùy ý sai đặt người phụ nữ này thế nào, sao cho sáng danh Cha; ngoài ra, Người chẳng cầu gì khác.

Riêng với người em út của Lazarô, Đức Giêsu đối xử khá đặc biệt, vì Người muốn đưa cô này ra khỏi vũng bùn tội lỗi, trở nên một phụ nữ thánh thiện, xứng đáng được “Hưởng Phúc” vì cô là người biết “yêu nhiều”.

Em út Lazarô có tên là Marie, Tin Mừng nói rõ là Marie Macdala, vì cô là chủ lâu đài Macdalum, tọa lạc gần khu duyên hải phiá Tây xứ Giuđêa, dĩ nhiên cũng ở khu thị tập Bêtania. Từ khi chưa gặp Đức Giêsu, Marie Madelêna chắc chắn có đời sống phóng túng, lãng mạn, nổi tiếng là hạng thượng lưu đào hoa. Nhưng từ khi nghe tiếng Đức Giêsu là bậc “kỳ nam tử”,một bậc “anh hào nổi tiếng khôn ngoan,uyên bác và đạo hạnh thâm hậu” giảng dậy chân lý khắp nơi trên đất nước, Marie Mađalêna liền tìm tới và nhập bọn với những phụ nữ khác, đi theo và nghe Đức Giêsu giảng dạy đồng thời giúp đỡ Người. Dường như từ khi theo Đức Giêsu, Marie Mađalêna không bao giờ còn xa Người nữa, và càng ngày càng trở nên tha thiết kính mến, tin cậy, gắn bó và tín thác mọi sự vào Đức Giêsu cả, đến nỗi ngay khi về tới nhà chị ruột Martha, Marie Mađalêna cũng không muốn xa Đức Giêsu lấy nửa bước, nên đã ngồi bên chân Người, làm cho chị phát cáu lên mà mách “Thày”.

Khi Đức Giêsu tới Bêtania sáu ngày trước Lễ Vượt qua, Người được một nhân vật trong làng (có lẽ là ông Simon cùi, thuộc nhóm Pharisêu –Lc 7:36 50) mời ăn. Chị Martha cũng có mặt, lo việc phục dịch ăn uống, anh Lazarô là một trong những khách dự tiệc với Đức Giêsu. Marie Mađalêna lấy một bình bạch ngọc dầu thơm cam tùng nguyên chất, đem xức chân Đức Giêsu ngay khi Người trong bàn tiệc, làm cho Giuđa động lòng tham, cất lời phê bình, đến nỗi Đức Giêsu phải lên tiếng giải thích ý nghĩa huyền nhiệm của việc xức dầu này (Ga 12 : 1 8).

Thánh Luca, trong Chương 7, từ đoạn 36 tới 50, cũng trình thuật một vụ xức dầu khác, do “một phụ nữ tội lỗi” đã làm cho Đức Giêsu. Xét tình tiết liên quan tới nhân vật, tới diễn tiến của sự việc và địa điểm xảy ra thì có lẽ lần xức dầu này, nếu không trùng với lần xức dầu ở Bêtania do thánh Gioan thuật, vừa trích trên đây, thì hẳn đây phải là lần Đức Giêsu được xức dầu lần thứ nhất cũng tại Bêtania. Theo thiển kiến, đây là lần đầu Marie Mađalêna được gặp Đức Giêsu và cô tự tìm tới “xưng tội” với Người.

Tả về người phụ nữ xức dầu cho Đức Giêsu lần này, Thánh Luca viết :

”37 Bỗng một phụ nữ vốn người trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisiêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.

38 Chị đứng đàng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

 

…47 Vì thế tôi nói cho các ông hay : tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu thương nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.

48 Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ :”Tội của chị đã được tha rồi.”

Thánh Matthêu (36 : 6 15) và Thánh Marcô (14 : 3 9) cũng trình thuật vụ này. Ngoại trừ Thánh Luca không chỉ đích xác địa điểm, còn ba Tin Mừng khác đều nói sự việc đã diễn ra tại Bêtania.

Theo tính nhất lãm của Tin Mừng, việc Đức Giêsu được xức dầu tại Bêtania chứng tỏ tầm mức quan trọng trong việc tự hối của Marie Mađalêna; việc này chắc chắn đã xảy ra. Nhờ sự triệt để giốc tâm từ bỏ lối sống sa đọa cũ, Marie Mađalêna đã luôn luôn có được Đức Giêsu bên cạnh, được theo Người mãn kiếp để, với hồng ân nhận được, cô có thể bền vững tới trọn đời. Tự xám hối và tuyên xưng lỗi phạm của mình, lại bền vững trong ơn nghĩa tới trọn đời, Marie Mađalêna quả là một vị anh thư đáng là vị thánh, và quả thật Bà đã là vị thánh cho chúng ta tôn kính rồi.

Từ khi gặp Đức Giêsu, Marie Mađalêna không còn xa cách Đức Giêsu tới nửa bước. Bà là phụ nữ chứng kiến giờ phút Đức Giêsu sinh thì trên khổ giá. Bà chứng kiến cảnh các môn đệ tẩm liệm và cất táng Đức Giêsu trong mồ. Chính Bà đã cùng vài phụ nữ khác tìm tới mộ Đức Giêsu từ sớm tinh sương khi gà vừa gáy sáng của ngày đầu tuần. Bà cũng là phụ nữ được Đức Giêsu phục hoạt hiện ra đầu tiên và dạy bà đi báo tin này cho các môn đệ của Người.

Đối với Đức Giêsu, Marie Mađalêna chỉ là một kẻ biết thật lòng xám hối, một con chiên lạc, đựợc Đức Giêsu thấu hiểu lòng thành, ban ơn tha thứ mọi lỗi lầm, vì Marie Mađalêna đã kính mến Đức Giêsu rất nhiều, nhiều đến nỗi Người tuyên bố cho kẻ khác biết, nhờ đã yêu Thiên Chúa nhiều mà Marie Mađalêna đã được tha sạch mọi tội.

Quả thật Marie Mađalêna là người đào hoa, đào hoa đến nỗi nay đã là vị thánh được tôn kính, mà trần gian vẫn còn có kẻ dám hư cấu bày đặt gán xằng những tưởng tượng thấp hèn cho Bà.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.