NIÊN THÂN PHIẾM KHỈ

Linh Nguyễn

Chuột chù chê Khỉ rằng hôi

Khỉ lại trả lời “cả họ mày thơm.”

Mỗi lần Tết về, tôi thường có thói quen là tìm xem trong Kinh thánh nói gì về con vật trong năm đó. Năm nay là năm Giáp Thân, tôi chẳng tìm được một con “Khỉ mốc” nào trong Kinh thánh cả. Tôi thắc mắc là nước Do thái hiện giờ có giống Khỉ nào chưa? Chắc là họ nuôi Khỉ trong vườn sở thú cho thiên hạ nhìn coi. Chứ đất nước Do thái thưở xưa nằm trong sa mạc thì Khỉ đâu mà có. Nhưng mà nói thiệt, nếu Khỉ mà có mặt trong thời Chúa Giê-su, tôi nghĩ chắc Chúa sẽ dạy các môn đệ là “các con hãy khôn ngoan như con KHỈ,” chứ không phải là “con rắn.” Chuyện Khỉ thông minh, khôn ngoan ai mà chẳng biết. Cách đối chát của chú Khỉ với chú chuột chù ở hai câu thơ trên cho ta thấy tính sắc sảo của trí óc Khỉ.

Khỉ khôn ngoan, lanh lợi thiệt, nhưng Khỉ cũng có nhiều tật xấu lắm. Ngày Tết Giáp Thân, tôi suy nghĩ tản mạn đó đây, đụng đâu nói đó về loại Khỉ. Thôi thì cho tôi vào đề bằng chuyện đoán năm, đoán tuổi của một ông Quỉ Cốc tiên sinh nào đó. Bàn về con Khỉ, ông Quỉ Cốc tiên sinh cho rằng con Khỉ là con Khỉ của tiệc tùng. Tuổi Khỉ thèm thú vui, sinh hoạt càng vui càng hay. Vì tuổi Khỉ ham vui quá độ, nên thường gặp nhiều chuyện rắc rối. Tuổi Khỉ thường chuyển từ nhóm bạn này sang nhóm bạn khác kéo theo cả nhóm bạn tương phản nhau. Nhờ nhanh trí, khôn lanh, và tươi nhuần, tuổi nầy được người đời xếp vào hạng có tiếng tăm. Tuổi Khỉ thích người ta tâng bốc mình, nên tuổi Khỉ hay thích lòe đời bởi những pha biểu diễn ngoạn mục, có khi mạo hiểm nơi vào sinh ra tử nữa. Nhưng tuổi Khỉ cũng chịu khó nghe theo ý kiến của người khác và có khả năng giải quyết những tình huống phức tạp dễ dàng. Mặt yếu của tuổi Khỉ “quậy” là tuổi nầy khó nhận thức rõ ràng trắng đen phải trái. Tuổi Khỉ trời sanh đã thích tò mò, nên tuổi Khỉ biết nhiều chuyện lắm, cái gì cũng muốn thử một lần cho biết.

A! Té ra hậu duệ của Tề Thiên Ðại Thánh có nhiều mặt “quậy” quá. Muốn tò mò chuyện người khác thì phải “nhìn” người ta làm gì, “nghe” người ta nói cái gì, rồi “ba hoa chích chòe” để lòe thiên hạ. Tôi nhớ có lần, tôi ghé vào thăm một ngôi chùa rất đẹp. Không nhớ đích xác tên chùa là gì, chỉ nhớ nó ở Ninh Hòa, cách Nha Trang chừng hai mươi cây số. Giữa muôn cảnh trí tuyệt vời, tôi nhận ra một bức phù điêu tạc

hình ba con Khỉ. Con thứ nhất lấy hai tay che mắt lại, con thứ hai lấy hai ngón tay chặn hai lỗ tai thật kỷ, con thứ ba xoè hai bàn tay thật rộng ra để úp đủ hết miệng. Thiệt là ông nghệ sĩ tạc tượng gãi đúng chỗ ngứa của Khỉ. Tò mò là nghề của Khỉ mà. Ai nhìn vô bức phù điêu cũng nhận được bài học đằng sau nó, “không thấy điều xấu, không nghe chuyện xấu, không nói lời xấu.”

Có bao giờ chúng ta thử bình tâm xem xét những giác quan xúc cảm của chúng ta không nhỉ? Mắt, tai, miệng lưỡi của chúng ta, xét cho cùng, chúng thiệt là món quà vô giá từ Chúa. Nhưng có điều Chúa để chúng ta tự do dùng những giác quan theo ý mình. Chúa đã chẳng phải giảng dạy như thế này sao, “Ðèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt con sáng, thì toàn thân con được sáng. Còn nếu mắt con xấu, thì toàn thân con sẽ tối” (Mt 6:22-23). Mà con mắt xấu là con mắt tò mò, thọc mạch vào chuyện “tanh tanh” của người khác, trong khi mình cũng hôi như “chuột chù” vậy. Và Chúa Giê-su đã dạy cho chúng ta hiểu bài học đó. Ngài kết án là tại sao chúng ta chỉ thấy cái rác trong con mắt người khác, trong khi chúng ta không để ý cái xà trong mắt mình. Chúa Giê-su đồng nghĩa tính tò mò của đôi mắt là “đạo đức giả.” Chúa bảo chúng ta lấy cái xà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi mới tính đến cái rác trong mắt người ta. Và nếu chúng ta không làm được việc đó thì Chúa bảo chúng ta hãy móc mắt mà ném đi, (để ý Chúa dùng lối nói cường điệu), vì thà bị mất một mắt mà còn vào nước Thiên đàng, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục.

Chúa cho chúng ta đôi tai để chúng ta nghe và phân biệt lời hay, lẽ phải. Người tóc bạc được trí khôn ngoan và bậc tuổi cao được tài thông hiểu. Nhờ đâu mà họ học được nhiều điều khôn ngoan như vậy. Có nhiều lẽ, nhiều cách, nhưng lắng nghe chuyện hay, lẽ phải là một điều không thể thiếu. Người khôn thì biết lắng nghe lời giáo huấn của cha, biết nghe lời bảo ban của mẹ. Sách Châm ngôn đã chẳng nói, “Này con, giáo huấn của cha, con hãy nghe, lời dạy của mẹ, con đừng gạt bỏ. Vì những lời ấy sẽ là vòng hoa xinh con đội lên đầu, là vòng kiềng con đeo vào cổ” (Cn 1:8-9). Rồi chúng ta còn phải lắng nghe theo những người khôn ngoan. Lời chỉ giáo của họ sẽ giúp ta trưởng thành. Nếu chúng ta lắng tai theo lẽ khôn ngoan, và hướng lòng theo sự hiểu biết, chúng ta sẽ hiểu thế nào là công bình, thế nào là chính trực công minh. Và đó chính là đường đưa chúng ta tới hạnh phúc. Nhưng rất nhiều khi, chúng ta phải học bài học ở con Khỉ thứ nhì là con Khỉ bịt tai. Chúng ta quá quen thuộc với câu chuyện ông Adông và bà Evà. Bà Evà đã nghe lời cám dỗ ngọt bùi từ con rắn ma quỉ. Con rắn ma quỉ biết được điểm yếu nhược nơi bà Evà là thích làm đẹp, thích cao sang. Nó khơi dậy “tánh Khỉ tò mò” nơi bà Evà. Nó nói, “Bà ăn đi, chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào bà ăn trái cây đó, mắt bà sẽ mở ra. Và bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3:5). Bà Evà đã “nghe theo lời xúi giục của ma quỉ và đã hái trái cấm ăn. Tệ hơn nữa, bà còn đưa trái đó cho chồng mình. Và ông Adong cũng ăn vì nghe lời bà. Thiệt đúng như lời “dùng lửa thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông.”

Còn về cái miệng, cái lưỡi thì có nói, có viết đến tận thế cũng không hết chuyện. Nếu chúng ta luôn luôn dùng miệng lưỡi để ngợi khen, ca tụng Chúa, nói lời hay ý đẹp với người ta thì hay biết mấy. “Trời hãy lắng tai, này tôi sắp kể, đất nghe cho tường lời lẽ miệng tôi” (Ðnl 32:1). Nhưng đằng này, “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, miệng không vành mó méo tứ tung.” Vì miệng lưỡi không xương lắc léo, nên “Tay đâu mà bụm miệng người thế gian.” Con người hay ngồi lê đôi mách làm người khác sợ. Ông Môi-sen đã dạy dân Do thái là không được phao tin đồn nhảm. Ðừng làm chứng gian mà tiếp tay với kẻ xấu. Kẻ làm chứng gian hại người chẳng khác nào đâm người ta bằng chùy, gươm, và tên nhọn. Vì khi chúng ta phao tin thất thiệt, vu khống, làm chứng gian, nó làm đau đớn vết thương tinh thần nạn nhân còn nặng nề và lâu dài hơn là vết thương thân xác. Chúa Giê-su kết án những người này rất nặng, “Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12:34). Nhưng có những người còn ác độc hơn, “Lỗ miệng thì nói Nam mô, trong lòng thì đựng một bồ dao găm.” Khi chúng ta suy niệm về câu chuyện ông nhà giàu và người ăn xin La-da-rô, chúng ta sẽ thấy hình ảnh này. Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông nhà giàu ngước mắt lên và nài xin ông Áp-ra-ham, “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16:24). Chúng ta tự hỏi, nếu ông nhà giàu bị lửa âm phủ thiêu đốt toàn thân đau đớn, tại sao ông ta chỉ xin nước làm mát cái lưỡi và miệng ông? Tôi không biết. Tôi mong ai đó hiểu biết lý giải giùm tôi. Mặc dù Kinh thánh không kể ra, nhưng tôi giả sử là trong những hình thức mà ông nhà giàu ngược đãi anh nghèo La-da-rô, có lẽ những lời lẽ cay nghiệt hất hủi của ông nhà giàu đã làm cho anh La-da-rô đau đớn nhiều nhất về tinh thần. Có lẽ những đau đớn tinh thần của La-da-rô còn nhức nhói hơn ghẻ lở trên mình anh và cơn đói cào cấu anh.

Trở lại chuyện ông Quỉ Cốc tiên sinh và ông nghệ sĩ tạc tượng. Tôi tự hỏi làm sao họ có những ý nghĩ về loài Khỉ liên quan đến con người như vậy? Chắc họ nghĩ loài Khỉ thường hay nhảy nhót, khọt khẹt, đứng ngồi không yên, thường chuyền hết từ cành cây này sang cành cây khác, lại hay phá phách bắt chước nên người đời có câu “liếng Khỉ,” hay “trò Khỉ.” Tư tưởng người ta cũng vậy đó. Nhiều lúc muốn cầm lòng, cầm trí một chút như khi ở trong nhà thờ, hay đang cầu nguyện, nhưng tâm trí chúng ta có để cho chúng ta yên đâu. Lúc nào tâm trí cũng lăng xăng, lộn xộn, suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, từ quá khứ, hiện tại, đến tương lai.

Ông Quỉ Cốc tiên sinh còn cho rằng mặt yếu của tuổi Khỉ “quậy” là tuổi nầy khó nhận thức rõ ràng trắng đen phải trái. Tôi nghĩ ông đã dựa vào đời sống tự nhiên của Khỉ mà đúc kết lời tử vi chăng? Chuyện kể là ở nước Tống có một người nuôi rất nhiều Khỉ, ông ta rất hiểu lòng dạ của chúng nó, Khỉ cũng rất biết làm cho ông chủ vui lòng. Ông nuôi đám Khỉ này kỷ lắm. Nhưng chẳng may gặp năm đại hạn mất mùa, nhà ông hết lương thực để dùng trong gia đình. Chỉ có cách là hạn chế phần ăn của lũ Khỉ, ông bèn nói với chúng: “Từ này về sau cho chúng bay ăn hạt dẻ, buổi sáng ba hạt, buổi tối bốn hạt, đủ ăn chưù?” Lũ Khỉ không hài lòng, rống lên giọng giận dữ. Một lát sau, đứa con giúp cha mình sáng kiến này, và nói với lũ Khỉ như sau: “Vậy thì buổi sáng bốn hạt, buổi tối ba hạt, toàn bộ như thế đủ ăn chưa?” Ô hay! Lũ Khỉ cho rằng đã được tăng thêm phần ăn, nên tất cả đều thích chí không càm ràm nữa. Giống Khỉ là như thế đó, cho ăn ba hạt buổi sáng và bốn hạt buổi tối, thì cũng giống như buổi sáng bốn hạt và buổi tối ba hạt, số lượng vẫn là bảy, chỉ có “Khỉ” mới vui vẻ phấn khởi khi đổi ngược con số lại, bởi vì đầu óc nhầm lẫn không phân biệt trắng đen là mặt yếu của Khỉ mà.

Con người chúng ta đôi lúc cũng không phân biệt đâu là phải trái. Mà nói cho cùng, chúng ta khó phân biệt được chuyện trắng đen, chuyện đạo đức hay không đạo đức là vì lòng chúng ta tham lợi, tham danh, tham sắc. Tỉ như nhiều chuyện oái ăm trong việc cưới vợ gả chồng ở Việt nam trước đây. Nàng thương chàng không vì lợi lộc vật chất hay sự nghiệp của chàng. Nàng “chẳng tham nhà ngói rung rinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười.” Nhưng chuyện yêu đương thời xưa đâu đơn giản thế. Nàng “tham” thì cha mẹ nàng còn “tham” hơn. Vì sống trong gia đình, dưới áp lực “tham” của cha mẹ, nàng trở nên “cây oằn vì ngọn gió Nam, xa mình bởi phụ mẫu tham chỗ giầu.” Nàng tham chuyện “trắng,” cha mẹ nàng tham chuyện “đen.” Nàng tham con người chàng “hiền thục, xinh xinh nụ cười,” cha mẹ tham ‘thỏi bạc đâm toạc nụ cười xinh xinh.” Tham gì cũng vậy, hễ nói tới tham thì túi nào mà đựng cho vừa. “Nhà giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn” là thế đấy. Lòng tham có dừng lại ở một điểm nào đâu. Người có lòng tham thì luôn thay đổi cách suy nghĩ cho phù hợp với lòng tham của mình, nên họ không coi trọng tình nghĩa, họ không coi trọng danh dự, không thích nói chuyện đạo đức, và họ sẵn sàng từ bỏ mọi sự để được thỏa mãn lòng tham.

Nhưng ở đời mà, “tham thì thâm” thôi. Tôi còn nhớ có lần một Cha Quản nhiệm đã kể một câu chuyện người ta dùng mẹo bắt Khỉ. Ðầu tiên họ khoét lỗ của một cái hộp. Rồi họ cho những hạt đậu thơm vào trong đó. Cái lỗ chỉ lớn đủ để con Khỉ thò tay vào. Nhưng khi nó nắm hạt đậu, nắm tay nó rộng ra nên không rút tay ra được. Như thế con Khỉ có hai lựa chọn: bỏ hạt đậu và chạy thoát, hay giữ hạt đậu và bị bắt. Vì Khỉ quá tham hạt đậu nên nó quyết định chậm chạp. Trong thời gian đó, người ta kịp chạy ra tóm cổ nó. “Tham thì chết” đó Khỉ ơi! Người ơi, người có chiêm niệm điều đó không? Vì khi lòng tham danh, tham lợi ám tâm trí ta, thì còn trí nào, tâm nào dư thừa mà quyết định những chuyện luân lý: quyết định xem điều gì phải, trái, hay tốt hơn để thi hành trong những trường hợp nào đó.

Chót hết, tôi thấy ý tưởng này của ông Quỉ Cốc tiên sinh hay hay. Ðó là, tuổi Khỉ thích người ta tâng bốc mình, nên tuổi Khỉ hay thích lòe đời bởi những pha biểu diễn ngoạn mục, có khi là mạo hiểm nơi vào sinh ra tử nữa. Có câu chuyện kể về một hoàng tử đi săn Khỉ. Khi ông ta vừa vào đến rừng, thì những con Khỉ thấy bóng dáng ông ta là đã chạy tán loạn đi trốn hết. Nhưng duy có một con Khỉ vẫn cứ ngồi yên trên cành, không có vẽ gì sợ hãi. Hoàng tử bèn lấp tên vào cung và bắn. Nhanh như chớp, con Khỉ đưa tay ra bắt lấy mũi tên trong khi nó vẫn còn đang bay tới. Thấy vậy, hoàng tử ra lệnh cho tất cả quân lính của ông lấp tên vào cung bắn một lượt. Con Khỉ bị trúng tên ngã xuống.

Cha nào thì con nấy thôi! Tề Thiên Ðại Thánh đại náo thiên cung, coi trời bằng vung, thì hậu duệ của Tôn Hành Giả cũng đâu phải vừa gì. Bởi vì con Khỉ “có thuật bắt tên” đã phô trương tài năng của nó không đúng lúc, tự kiêu một cách vô lối, nên tài năng ấy đã trở thành nguyên nhân cho cái chết của nó. Cái ngu của nó là “biết mình mà không biết người.” Khi con người chúng ta hành động với một ý khoe khoang, muốn phô trương cái hay cái giỏi của mình, chúng sẽ tạo ra một lực đối kháng lại, gây cho ta những sự xung đột và mâu thuẫn. “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” là ở chỗ đó. “Vỏ quít dày thì có móng tay nhọn” thôi. Khôn ngoan ở chỗ là chúng ta bước đi trong đời một cách khiêm nhu, không kiêu ngạo, không phô trương, không quá khích. Và đó chính là thượng sách. Người ơi! Người có biết vậy chăng?

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.