Nỗi Lòng Của Người Làm Cha

Thuỵ Miên

Trong số báo tháng 9 năm nay, nó muốn viết về những ưu tư của người làm cha phần đời, của người làm cha phần đạo và của người Cha chung của chúng ta trên Trời.

Trước hết, nó xin viết ra những ưu tư của chính nó. Các cụ đã thường nói rằng: “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông. Trước hết nó xin tạ ơn Chúa ban, rồi sau đó là cảm ơn vợ của nó đã cho nó được lên chức làm cha vào lúc 22 tuổi, cái tuổi mà nó ăn còn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm, cộng thêm vào cái thời buổi chiến tranh đang bùng nổ lớn ở miền Nam. Ấy vậy mà vào thời ấy, ở cái xứ đạo của nó, thì các cụ đều chê nó là lấy vợ quá trễ.

Các xứ đạo ở Việt Nam thì cho đến bây giờ cũng vẫn thế, ai không tin thì cứ đi lễ Chúa Nhật ở các xứ đạo như Châu Bình, Tam Hà vùng Thủ Đức, để nghe rao tin Hôn phối. Thí dụ như: “Rao hôn phối, rao lần thứ nhất. Bên gái Maria Nguyễn thị T. 17 tuổi, con ông… và bà… cư ngụ tại xứ Châu Bình…Xin kết hôn với anh Giuse Lê Văn B. 20 tuổi. con ông…và bà… cư ngụ ở xứ Tam Hà”. Đã thế mà số các cặp cô dâu, chú rể làm lễ cưới có khi lên tới cả chục đôi.

Khi đến sống ở xứ Úc này rồi thì nó mới biết, hồi đó nó đã quá liều khi tin tưởng vào những lời khuyên của các cụ: “Trời sinh voi thì sinh cỏ”, cho nên nó đã lập gia đình quá sớm. Các cô cậu thanh niên ở đây đâu có cần làm đám cưới vội, cứ đi lại với nhau như người tình, có khi sinh con rồi mới cưới, có khi góp tiền mua nhà xong rồi mới lo việc cưới xin. Thế nhưng, ngược lại thì kết quả những cuộc hôn nhân của giới trẻ ngày nay tại Úc, khó lòng mà được ơn bền đỗ đến già.

Có người lại tự bào chữa cho là bởi thời thế, xã hội bây giờ đã thay đổi. Có nhiều người lại cho rằng nếu lập gia đình quá sớm thì con cái của họ sẽ không khoẻ mạnh, không thông minh, và chúng học hành sẽ không giỏi để trở thành ông nọ, bà kia. Điều này hoàn toàn sai, vì đã có câu ca: “Thiếp lấy chàng từ thủa 13, đến năm 18 thiếp đà 5 con cùng chàng”. Hơn thế nữa, trong số những người con ấy đã trở thành những bậc nhân tài của thế giới. Ngày nay, người ta vô tình hay cố ý đã đồng ý theo các chủ thuyết tư bản, cá nhân và cộng sản về vấn đề sinh ít con. Không tin mọi người cứ đi phỏng vấn các gia đình trẻ mà coi. Có người từ chối việc sinh con, vì sợ nghèo, hay nói khác đi vì sự tốn kém trong việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái. Nạn phá thai lan tràn khắp thế giới, trong các nước tư bản, trong các nước cộng sản, bởi vì con người đang tự cho mình ngang hàng với Thiên Chúa trong việc quyết định mạng sống của thai nhi.

Ngày xưa thì họ đổ lỗi cho sự khắt khe của lễ giáo, của phong tục tập quán của làng xã mà họ đành sinh con và mang bỏ rơi ở vệ đường, hay mang cho các cô nhi viện. Nhưng ngày nay, họ theo chủ nghĩa cá nhân để trở thành kẻ sát nhân. Không phải họ giết kẻ thù, mà họ lại giết chính con ruột của mình. Bởi vì thanh niên nam nữ ngày nay đã đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa, và họ đã đánh mất niềm tin vào chính họ. Trong đạo Công giáo, các ông bà thường có lời khuyên con cháu hãy sống cố gắng hết sức với khả năng của chính mình, và tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Thiên Chúa như câu: “Kẻ có trách nhiệm nặng nề, thì ân sủng Chúa ban cho họ càng nhiều”. Vì theo Phúc âm thánh Mát thêu đã viết Lời Chúa: “Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả mang gánh nặng nề … đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bổ dưỡng” (Mt 11 :28).

Có người lại cho rằng lập gia đình sớm thì sẽ mất tự do sớm, không còn được đi du lịch đây đó tuỳ ý, không còn ngao du với bạn bè hay muốn làm gì, ăn gì tuỳ ý nữa. Thậm chí có những cặp vợ chồng không muốn sinh con.

Ở cái thời của nó, làm gì được giáo dục đầy đủ để mà tự do quyết đoán. Thí dụ như việc ngừa thai, hay gái có chồng rồi mà không sinh con thì các cụ cho rằng ăn ở không có phước, vì ‘gái độc không có con’.

Vì thế nó giữ đạo rất ư là ngoan, vì bố mẹ nó cho rằng: “Con cái là ‘của’ Chúa ban” và vì vậy cho dù Chúa ban cho nó có bao nhiêu đứa con, thì nó cứ vui vẻ mà nhận, dù là Chúa ban hơi qúa tay.

Con là ‘của’, chứ đâu phải của là con. Vào thời điểm 1982, sau 9 năm lập gia đình, nó đã có được 5 đứa con gồm 4 trai và 1 gái. Nếu như không có biến cố 1975 thì nó e rằng số con của gia đình chúng nó đã trở thành chục mười hai, hoặc đôi khi lại có út thêm, út cuối nữa là đằng khác.

Được gọi là cha, là bố, thì lẽ đương nhiên người đó phải có trách nhiệm với con cái của họ. Trách nhiệm ấy bao gồm sự lo lắng về thể lực, tinh thần, sự nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục cho con cái được trở nên người hữu dụng cho xã hội, và đặc biệt đối với người Kitô hữu là người làm cha phải biết giáo dục, hướng dẫn con cái trở thành những chứng nhân của Chúa Giêsu.

Mỗi người cha đều có cách riêng hướng dẫn, dạy dỗ con cái của riêng mình. Hay nói cách khác hơn là mỗi người con đều có nhu cầu riêng để được người cha phải lo lắng, phải nghiên cứu cách hướng dẫn riêng, thí dụ như các luật áp dụng riêng cho con trai, con gái, hay lo cho chúng khác biệt hơn tuỳ theo nhu cầu và tuổi tác. Gia đình nào càng có đông con, thì trách nhiệm của người cha càng trở nên nặng nề hơn. Chính vì thế mà chúng ta thường nghe câu than: “nuôi con càng lớn, cha mẹ càng thêm lo”, hay có người còn chép miệng than rằng: “nuôi con gái giống như trong nhà có bom nổ chậm”. Viết đến đây nó lại phì cười khi nghĩ đến chuyện xa xưa, thời buổi chiến tranh, ai còn lạ gì cảnh Việt cộng pháo kích vào thôn làng, chuyển kể như thế này:

Có một bà hàng xóm chửi con gái rằng: “ Tao đã bảo mày rồi mà mày không chịu nghe lời, hễ nghe tiếng đạn pháo réo thì mày làm ơn chui xuống hầm ‘tăng- xê’ mà núp. Thế mà mày lại không nghe lời, mày chạy qua nhà thằng bạn bên cạnh, để nó ‘pháo’ trúng. Bây giờ nhìn cái bụng của mày, thật là khổ thân và nhục nhã cho tao biết chừng nào. Trời ơi là trời. Khổ ơi là khổ”.

Có người lại cho rằng: “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính”. Mỗi đứa con một tính, mặc dù chúng cùng ăn một mâm, cùng ở một nhà, cùng một cha mẹ sinh ra, thế mà đứa thì dễ nuôi, đứa thì khó nuôi; Đứa thì dễ dạy, đứa thì khó bảo. Người làm cha đôi lúc cũng chẳng cầm được tính nóng của mình trong việc dạy dỗ các con, huống chi là người mẹ. Hơn thế nữa, người cha thường được người mẹ dùng như một ông kẹ, để hù doạ các con, thí dụ: “Tao nói mà mày không nghe, thì tao mách bố mày, ông sẽ đánh cho mày một trận”. Thế là đứa con sợ bố nó quá đành phải vâng lời mẹ. Hình ảnh của người bố thật tội nghiệp vì bị mang tiếng ác đối với các con.

Nó ngồi đọc lại những tấm thiệp chúc mừng ngày Father’s Day, của hai đứa con gái đã viết gởi cho nó. Những dòng chữ nguệch ngoạc mang những lời cảm ơn ngây thơ thời thơ ấu của chúng. Những tấm thiệp ấy vào lúc này lại trở nên quý giá hơn những chai rượu mà 4 thằng con trai mua tặng cho nó. Rượu uống hết thì nó vất vỏ chai đi, còn nhớ gì đâu nữa, thế nhưng vài dòng chữ, viết lời cảm ơn bố của hai đứa con gái thì còn mãi trong kỷ niệm, mặc dù là bây giờ chúng chẳng còn gởi thiệp cho bố nữa. Những tấm thiệp ấy là bằng chứng rằng nó đã sống hy sinh cả đời cho tất cả các con, những đứa con trai, con gái.

Mỗi đứa con đều mang hình ảnh của nó và đều mang một tính nết nào đó của nó. Tuỳ vào hoàn cảnh của gia đình khi đứa con ấy được sinh ra, mà kẻ làm cha như nó phải trợ giúp, đỡ nâng chúng một cách khác nhau, để giúp chúng thành người. Có những đứa biết sống tự lập, nhưng cũng có đứa cần phải được thúc dục, dạy bảo mới biết tranh đua với đời.

Nuôi con càng lớn, cha mẹ càng thêm lo. Vâng đúng thế! Vì con là của mà lỵ. Chúng nó càng lớn thì theo như tài sản thì chúng càng phải trở nên có giá trị hơn. Nếu như chúng không có giá trị nhiều hơn về phương diện làm người, về phương diện sống đạo làm con của Thiên Chúa, thì kẻ làm cha sao mà có thể an tâm hưởng tuổi già cho được.

Người làm cha lo cho con cái suốt cả cuộc đời của mình, chỉ khi nào bỏ được chữ ‘bố’, chữ ‘cha’ thì mới thôi hết sự lo lắng. Có người lại hỏi nó: “Sao mà anh lo gì mà lo lắm thế ?”.

Trước hết là kẻ làm cha phải lo cho chúng được bằng anh, bằng em. Người ta cứ tưởng đứa làm anh thì phải giỏi hơn đứa làm em. Nhưng không hẳn là thế, vì môi trường sống vì hoàn cảnh sống, vì trí khôn ngoan của từng đứa, và nhất là vì Chúa muốn thế. Chúng khác biệt nhau nhiều lắm. Có khi thằng em lại giỏi và làm thày của thằng anh, hay con em lại khôn ngoan hơn đứa chị của nó. Cái khó của người làm cha là phải dạy dỗ thế nào để chúng biết đùm bọc, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau mãi mãi. Các cụ thường nói câu: “Chị ngã thì em nâng”. Không phải chỉ áp dụng khi chúng còn bé, mà cả khi chúng đã lớn khôn, đã lập gia thất, thì tình cảm anh chị em cùng một cha mẹ ấy càng phải tăng thêm nhiều hơn.

Ngày nay, chủ nghĩa cá nhân đang chiếm ngự thế giới cho nên tình yêu giữa các anh chị em cùng một cha mẹ trong gia đình, đang bị xoá mờ, và có còn chăng thì chỉ còn một chút xíu tình xót thương như chúng thương những người xa lạ. Đau khổ ấy, người làm cha mẹ đành ngậm đắng nuốt cay và cầu nguyện cho con cái.

Đạo Thiên Chúa là đạo “Yêu thương”. Chúa muốn chúng ta yêu thương tha nhân như chính mình, bằng những hy sinh thời giờ, công sức của chính mình giúp đỡ họ, để họ có thể sống hạnh phúc như mình. Thế mà nhiều người con trong gia đình đã chẳng hiểu lý lẽ ấy, ngay cả anh chị em trong gia đình mà còn đố kỵ, hiềm khích thì làm sao chúng có thể yêu tha nhân được. Nó ưu tư về vấn đề này vì nếu như con cái của nó được rửa tội, được nhập đạo mà không hiểu biết lẽ đạo để sống đạo, thì nó là người cha chưa chu toàn trách nhiệm dạy dỗ con cái hiểu được lẽ sống đạo, hiểu rõ nghĩa sống làm con cái của Thiên Chúa.

Viết đến đây, nó lại thấy các kinh, thí dụ như kinh ‘Vực Sâu’. Các cụ ngày nay bỏ chữ ‘con’ sau chữ Chúa, có lẽ cho giống theo văn hoá của người Tây Phương: “Lạy Chúa, con ở dưới vực sâu kêu lên Chúa”. Theo thiển kiến của nó thì đọc như cách cũ là “Lạy Chúa con, con ở dưới vực sâu kêu lên Chúa con thì đúng với văn hoá Đông phương hơn”. Vì khi trò chuyện hay kêu xin thì thêm chữ ‘con’ có nghĩa là “Lạy Chúa của con”, Khiến người nghe thấy sự liên hệ giữa Chúa và ta được mật thiết, gần gũi hơn, đúng với truyền thống và văn hoá của người dân Việt hơn. Tình cảm cha con trần thế  qua từ ngữ tiếng Việt nghe thân thiết, nhưng không thiếu sự kính trọng. Nó giúp cho các người con dâu, con rể có thêm được mối tình thân trong đại gia đình người chồng, như khi họ còn sống với cha mẹ ruột của họ.

Đạo làm cha sẽ giúp cho người cha sống xứng đáng là gương mẫu là người lãnh đạo tốt lành của đàn con. Thánh Giuse được Hội Thánh chọn làm thánh quan thày cho các bậc gia trưởng. Noi gương của Ngài chúng ta biết vâng theo thánh ý của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và tín thác vào tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống trần thế.

Kinh nghiệm sống của những người làm cha thật là hữu ích cho cuộc sống của các con cái của họ, thoát khỏi những u mê, những lừa dối ở đời. Có câu nói trong văn chương dân gian rằng: “ Người cha xây dựng chiếc cầu bắc ngang qua sông bằng những kinh nghiệm sống của đời họ, để cho con cái của họ đỡ phải bơi lội vượt qua sông đầy nguy hiểm mà họ đã từng phải làm. Có thể những kinh nghiệm ấy không còn hợp thời nữa, nhưng dù sao những kinh nghiệm ấy, kẻ làm cha đã phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt và tính mạng của họ trong quá khứ.

Có người hỏi nó kinh nghiệm sống ấy là những gì?

Làm việc thiếu tổ chức, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu ghi chép, thiếu sự nghiên cứu, tính toán trước khi, đang khi và sau khi đã làm. Những cái thiếu này sẽ dẫn đưa con cái của chúng ta đến chỗ thất bại, thua lỗ, và dễ bị lừa lọc. Làm mà chẳng liệu, chẳng lo, thì làm cho khốn khổ làm cho nhọc mình là vậy đó.

Làm việc mà thiếu khả năng, dựa dập vào kẻ khác, thiếu sự quyết đoán, thiếu sự lắng nghe, thiếu sự nhiệt tâm thì hai chữ thất bại thường chiếm hết cuộc đời của họ.

Không bền chí, chưa làm đã sợ thua lỗ và nhất là không chịu canh tân, sửa lỗi thì chưa làm cũng đã thua rồi.

Người đặt mục đích quá tầm tay với, không hợp với những cái có của mình thì một thắng, chín thua. Kẻ tài giỏi mà không biết dùng sự hiểu biết ấy làm phương tiện để phục vụ tha nhân, thì trước sau người ấy cũng không thành nhân.

Những kinh nghiệm sống giúp cho con cái của họ biết cách ứng sử với tình trạng thất bại và biết cách chuyển bại thành thắng, biết phân biệt điều hay, lẽ phải biết nhận ra đâu là chân lý, đâu là sự lừa dối. Người làm cha muốn truyền kinh nghiệm sống của mình cho các con, thì cần phải có nhiều thời gian sống ở bên cạnh con, kể cho chúng những mẩu chuyện nan giải của đời sống, và luôn luôn nhắc nhở chúng làm theo điều tốt, tập cho chúng biết suy luận và nói ra cách hành xử hợp lý.

Bàn nhiều về những ưu tư của người cha, nó đã khiến cho các bậc cha mẹ trẻ tuổi thấy nhức đầu phải không quý vị. Thế nhưng, ngày mà nó đi lập gia đình vào năm 1973 thì nó cũng từng thức trắng đêm để suy tư về tương lai của các con, từ cái tên phải chọn cho con trai, con gái của nó và nhiều thứ khác mà nó mộng mơ cho lũ con của nó trở thành người hữu dụng. Khi đã có con rồi, nó lại tính đến chuyện xét duyệt khả năng, sức khoẻ của từng đứa mà hướng nghiệp cho chúng, với châm ngôn không thành công cũng thành nhân, thành con cái của Thiên Chúa.

Thế nhưng, đâu có phải cứ muốn là được như ý đâu. Vợ chồng của nó sống cả đời làm gương cho con cái về tình đoàn kết, anh chị em hỗ trợ lẫn nhau. Vậy mà cũng chẳng đạt được là bao, vì khi con trẻ đã trưởng thành rồi thì phận ai người ấy giữ. Lâu lâu mới được đoàn tụ, xum họp một lần cho nên sự khác biệt về cuộc sống của anh chị em rất ư là chênh lệch. Nói chỉ biết than rằng: Các con được sinh ra cùng mẹ cha, các con ăn cùng một mâm, được hướng dẫn, dạy dỗ cùng một cách thức thế mà đời sống của các con thật là khác biệt. Ôi nói sao cho cùng về những suy tư của người làm cha như nó.

Lại bàn đến nỗi lo âu của các linh mục, những người làm cha lo về phần linh hồn cho giáo dân. Nó cứ tưởng cuộc sống của các linh mục có tiêu chuẩn giống nhau, nhưng thực tế lại rất khác. Tuỳ theo các tiểu bang giàu nghèo, tuỳ theo tín hữu đông hay ít, tuỳ theo xứ đạo hay cứ điểm truyền giáo mà cuộc sống của các linh mục có sự khác biệt. Nó nhớ lại lời Đức cha Oanh đã giảng hôm đại hội Đức Mẹ La Vang lần thứ hai: Ở địa phận Kontum có ít nhà thờ, nhưng ngược lại thì địa phận của Đức cha có rất nhiều chuồng thờ được dựng lên để làm lễ cho các giáo dân thuộc sắc tôc thiểu số.

Nó cứ ngỡ chuyện ‘chuồng thờ’ chỉ có ở bên Việt Nam. Ai ngờ, khi được nghe cuộc phỏng vấn giữa cha Phêrô Nguyễn Huấn với phóng viên UB, nó giật mình vì sự sống hy sinh của các cha Truyền giáo tại các xứ đạo, hay nói rõ hơn là tại các cứ điểm truyền giáo lại trọn vẹn đến thế. Cha Huấn hàng tuần lái xe, đi theo đường rừng cả hàng trăm cây số, để đến làm lễ cho người thổ dân sống trong bộ lạc biệt lập của họ. Nơi đây không có nhà thờ, cũng không có chuồng thờ, mà ở rừng thì chỉ có những cây cao, to che ánh nắng. Cha làm lễ ở dưới gốc cây cho những người giáo dân này. Nó gọi là những người giáo dân cho có vẻ đông chứ thật ra nhiều khi được 3 người là may lắm lắm rồi đó. Cha thuật lại chuyện vui đời truyền giáo như sau: Có một hôm có người đến xin rửa tội cho con của họ. Họ hẹn với cha vào ngày mai sẽ mang con đến nhà thờ. Cha vui mừng quá sức, từ sáng sớm cha đã sửa soạn để chờ họ, nhưng đến giờ cha nhìn thấy họ đi ngang qua nhà thờ nhưng không vào. Cha cố chờ thêm vài giờ nữa mà chẳng thấy họ trở lại, bèn cởi áo, cất dọn bàn thánh. Ngày hôm sau cha gặp lại họ và hỏi họ: “Sao hôm qua không thấy đem con đến nhà thờ”. Người thổ dân ấy trả lời tỉnh bơ: “Tại tôi bận, thôi để khi khác nhé”. Chuyện sống đạo của người thổ dân là thế ấy. Các cha truyền giáo phải học biết văn hoá của họ, để hội nhập với cuộc sống  của họ đã có từ 60 ngàn năm. Cha cho biết ở nơi đây mình không có quyền tức giận, văn hoá của họ là thế đấy, và tại mình chưa hiểu họ có thế thôi. Khi hỏi tiếp thánh lễ có đông giáo dân không cha, thì được cha trả lời rằng : Trừ lễ đám ma ra, vì lễ đám ma thì khắp mọi nơi, mọi bộ tộc đều kéo về nhà thờ dự lễ, cho nên số giáo dân có thể lên tới trên 400 người. Còn các lễ Chúa nhật thì thỉnh thoảng có khi được tới 20 người, còn phần đông là được 3 người, hoặc nhiều tuần lễ chỉ có mình cha. Cha trả lời về sinh hoạt, chi phí của nhà thờ hoàn toàn do Đức cha của Địa phận Darwin trợ cấp (Địa phận miền Bắc). Ngài cũng đi xin từ các Địa phận miền Nam như tổng giáo phận Melbourne, Sydney để trợ giúp cho cha tiền xăng đi đến các cứ điểm truyền giáo khác, cách chỗ cha ở từ 100 đến 200 cây số, tiền mua thức ăn. Cha Huấn cho hay rằng về đời sống vật chất cá nhân thì không thiếu thốn gì cả, các thức ăn của các anh Cursillo từ miền Nam lên thăm cha, ăn không hết và để lại cho cha ăn dần dần cũng đủ, hơn nữa cha tự trồng rau, đi câu cá về ăn, cuộc sống của cha thoải mái như người thổ dân. Hơn nữa cứ 2 tuần cha đi lên thành phố Darwin làm lễ cho một số anh chị em giáo dân Việt Nam, và được một số anh chị làm chủ lò bánh mì cho bánh mang về, thế là cha lại có quà mang về phân phát cho giáo dân của cha tại xứ Daly River. Khi hỏi đến tiền xin lễ trong nhà thờ, cha cười và nói đây là vấn đề tế nhị, nhưng phóng viên hỏi thì cha trả lời rằng: Để tập cho giáo dân của cha biết chia sẻ với nhau, cha cho truyền giỏ xin tiền, chứ các cứ điểm khác thì không có xin tiền. Về số tiền xin được trong buổi lễ Chúa nhật nhiều nhất và thỉnh thoảng mới có là 11 đô, có nhiều khi không có gì. Cha nói số tiền thu được trong cả một năm là 400 đô. Cha dùng tiền này mua bánh bisque và nước ngọt cho giáo dân dùng sau thánh lễ.

Khi được hỏi nếu như được nhắn nhủ với các thanh niên thì cha muốn nói gì? Cha muốn các anh tuổi từ 30 đến 40 hiện còn độc thân và có ý muốn đi tu thì xin hãy gia nhập dòng Truyền giáo Missionaries of the Sacred Heart Australia, vì Địa phận Darwin đang rất cần ơn gọi, hiện nay mới có 1 chủng sinh người gốc Phillipine.

Vấn đề bảo trì nhà nguyện, vì nhà thờ được làm ở cạnh bờ sông Daly River, cho nên đến mùa mưa thì nước lũ tràn về tạo thành những trận lụt tràn lên bờ, vì thế nhà thờ hang năm cần phải tiếp tục bảo trì. Khi anh chị em ở dưới miền Nam của nước Úc cho cha tiền mua sơn, thì một mình cha sơn cả nhà thờ mất độ hai tháng là xong. Đức cha của Địa phận miền Bắc nước Úc (Darwin), cùng Cha Huấn gởi lời cảm ơn đến các anh chị em Cursillo đã giúp cha sửa chữa, bảo trì nhà thờ này trong những năm vừa qua.

Nó tự nghĩ làm cha trong gia đình thì vất vả, còn đi tu làm cha phần đạo chắc sướng lắm. Ai ngờ nghe chuyện cha Huấn tự nguyện xin đi phục vụ các anh chị em thổ dân còn vất vả hơn. Cha phải học cách sống để hiểu được văn hoá và sống giống như họ. Cách sống nội tâm của họ, cách cầu nguyện với Thiên Chúa của họ, khác hẳn với những gì mà cha đã học được từ nhà trường. Cha đã noi gương các bậc truyền giáo tiền nhân của cha, đặc biệt là ở Địa phận Kontum, vì hồi còn ở Việt Nam, cha đi tu thuộc Địa phận Kontum, giúp đỡ cho anh chị em giáo dân người Thượng. Hồi năm 2015 khi Đức Cha Oanh sang Melbourne, có người tặng cho 2 cuốn CD: “Dân làng hồ”. Nó nghe xong 2 đĩa đọc truyện ấy mà thấy cảm phục, nhớ ơn các cha Truyền giáo Dòng Thừa Sai Paris. Nay được coi trên facebook cuộc phỏng vấn với cha Peter Huấn Nguyễn, chánh xứ nhà thờ St. Francis Xavier, thuộc vùng Daly River của Địa phận miền Bắc Úc thì nó càng khâm phục sự hy sinh, hiến thân  của cha Huấn cùng các cha Dòng Truyền Giáo Thánh Tâm (MSC) trên bước truyền giáo cho anh chị em người thổ dân.

Còn một người Cha chung của chúng ta nữa ở trên Trời. Không biết có ai đã để ý lưu tâm đến những ưu tư của Cha là Thiên Chúa của chúng ta hay không?

Theo nó suy từ trong gia đình của nó, và nó tự nghĩ thì sự đau buồn nhiều nhất của Ngài không phải là tội lỗi của chúng ta đã phạm và tái phạm nhiều lần, vì Người là Đấng hay thương xót và hay tha thứ. Nhưng điều mà Thiên Chúa đau lòng nhất, ưu tư nhất là vì chúng ta sống thiếu tình thương đối với nhau, chúng ta không biết hy sinh chia cơm sẻ áo cho nhau. Chính những điều này đã làm cho Lời của Chúa bị ngăn cản không thể đến được với người chưa biết Chúa, và cũng vì thế mà các công cuộc truyền giáo khó có thể nhanh chóng thực hiện được. Hơn thế nữa là di chúc của Thày Giê-su chí thánh bị chúng ta là những người con cái của Chúa vô tình lãng quên.

Nó quyết tâm sẽ thực hiện trong đại gia đình của nó một “Hộp tiền giúp việc truyền giáo cho Địa Phận miền Bắc Úc”. Vì các cụ thường nói rằng: “Làm phúc nơi nao, để cầu ao nhà mình rách nát”.  Hy vọng làm gương cho các con cháu ý thức được việc Truyền Giáo là bổn phận của mọi người trong Hội Thánh, bao gồm cả Giáo dân và Giáo sĩ. Đúng thế vì kẻ giúp công, người giúp của để Nước Chúa được lan rộng khắp mọi nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là nước Úc.

Ý nguyện của nó cũng trùng hợp với lời mời gọi của cha Huấn xứ đạo St Francis-Xavier, ở vùng Daly River. Cha nhắn nhủ các anh em từ 30 đến 40 tuổi còn độc thân, hãy dấn thân trong tiếng gọi của Thiên Chúa qua bước đường đi tu, vì Địa Phận miền Bắc Úc đang rất cần. Cha cũng mong đợi sự tham gia đóng góp vào việc truyền giáo của tất cả quý ông bà, anh chị bằng lời cầu nguyện, bằng những việc hy sinh để giúp cho việc truyền giáo tại miền Bắc Úc này được thực hiện ngày càng phát triển hơn.

Nếu có thể được xin mọi người hãy gởi những đóng góp cho việc truyền giáo về trực tiếp qua tài khoản của Địa Phận hay qua tài khoản của giáo xứ Thánh Phanxicô Xaviê dưới đây:

Tài khoản NAB. Bank.

Tên tài khoản: St Francis Xavier Parish

NAUIYU.

Số BSB: 085933.

Account number: 742739525.

Nhân dịp này cũng xin gởi đến mọi người địa chỉ, email của cha Huấn:

Daly River Aboriginal Community

Fr. Peter Huan Nguyen MSC – Parish Priest

Postal Address:  PMB 28, Nauiyu, NT 0822

Ph:  (08) 8978 2449

Email:  fxnauiyu@bigpond.com

Thuỵ Miên.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.