Nước Chúa Cần Được Mở Rộng Trên Toàn Cõi Địa Cầu

Thuỵ Miên.

Theo thống kê của nước Úc năm 2016 thì số giáo dân đạo Công giáo Roma chiếm 22.6 % dân số của nước Úc. Tổng dân số là 25 triệu dân, số dân không tôn giáo là 30.1%; Cơ Đốc giáo chiếm 18.7%; Anh giáo chiếm 13.3%; Hồi giáo có 2.6%; Phật giáo 2.5% Ấn Độ giáo có 1.3% Do Thái giáo có 0.4%; Không xác định hoặc không công khai là 9.6% Các tôn giáo khác chiếm tỉ lệ là 0.8%.

Trong khi đó tại Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam theo thống kê 2018, được trình báo cho Giáo hoàng trong chuyến thăm Ad Limina của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì Công giáo tại Việt Nam có khoảng 7 triệu giáo dân, với 4.000 Linh mục, 4.500 giáo xứ, 22.000 tu sĩ với hơn 240 dòng tu, hơn 2400 đại chủng sinh.  Với gương sống đạo của 117 vị thánh tử đạo  và còn muôn ngàn người đã  bị giết vì Đức Tin, thì việc truyền giáo tại Việt Nam so với dân số hiện nay của nước Việt Nam là 97,437,900 người, quả là còn quá khiêm nhường. Vì tại Việt Nam còn có hơn 90 triệu người chưa biết Chúa, hay hiểu Chúa một cách sai lạc. Trong số báo này, xin mọi người cùng với người viết, để tìm ra những nguyên nhân, những phương thế tốt nhất, để Nước Chúa được mở rộng trên khắp mọi miền của đất nước.

ĐI THEO CHÚA

Phải chăng tại điều kiện đi theo Chúa quá khó khăn, hay người giáo dân chưa thực sự sống đời

truyền giáo? Người ta chưa biết Chúa vì lý do không có ai chịu nói cho họ biết; Hay bị người chống đối lại đạo của Chúa ngăn cản?

Phân tích lời kêu gọi của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người đưa ra hai điều kiện cho bất cứ ai muốn đi theo Chúa, phải thi hành: “Từ bỏ chính mình, và vác thập giá mình để đi theo Chúa”.

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH.

Đây là quyết định đầu tiên của việc theo Chúa. Quả vậy, muốn theo Chúa thì chúng ta phải khước từ tất cả những cản trở bên ngoài như tha nhân, xã hội, tạo vật. Và do những cản trở ở bên trong bản thân mình là các khuyết điểm, thói hư tật xấu, tội lỗi: Hờn giận người thân, lười biếng cầu nguyện, mê đắm sự thế gian, không khiêm nhường và bác ái, không can đảm khi thấy sự xấu mà không dám cản ngăn, và không yêu thương anh em đủ như Chúa Giêsu đã yêu chúng ta.

Đức thánh Cha Phaolô VI trong buổi triều yết chung cho giáo dân ngày 11.03.1970 đã nói: “Đối với chúng ta những người thời nay, một trong những khía cạnh ít được hiểu biết nhất và cũng có thể nói ít được thiện cảm nhất trong đời sống Công giáo: Đó là sự từ bỏ”.

Từ bỏ mình tức là từ bỏ ý riêng mình, mà chấp nhận thánh ý Chúa.  Người ta nói: 3 với 4 là 7, có đúng không ? Chưa đúng.  Muốn thực hiện 3 cộng với 4 là 7, thì phải làm sao cho tan rã hai con số 3 và 4, rồi đúc nó lại thành con số 7 mới được. Chớ cứ để 3 với 4 kề nhau mãi thì làm gì thành 7 được, mà chúng vẫn là 3,4.  Cũng thế, muốn từ bỏ chính mình là phải làm tan rã ý riêng của ta cho hòa vào ý Chúa, lúc đó chúng ta mới thực sự là từ bỏ chính mình.

Một hình ảnh nữa để chúng ta suy nghĩ: Quan sát các nhà điêu khắc tạc tượng, họ chọn một phiến đá cẩm thạch, rồi họ kiên nhẫn đục đẽo, khoét dần mài đi, cho tới khi thành một cỗ tượng mỹ thuật. Không bao giờ thấy nhà điêu khắc lại đắp thêm vào. Cũng thế, trong việc từ bỏ mình, chúng ta phải dẹp lòng ham muốn, để mình sống xả thân thuộc trọn về Chúa.

Chúng ta phải cố thi hành việc đục khoét bỏ bớt những gì bận rộn không cần thiết, gạt chúng ra một bên, nếu có bận tâm thì chỉ bận tâm vào việc nhà Chúa: “Sự sốt sắng việc nhà Chúa làm tôi hao tổn tinh thần” (Tv 68,10).

(Nguyễn duy Phượng, Thực yêu thanh bần, 1967, tr 124-125)

Truyện : Thánh Têrêsa chịu đựng.

Trong cuốn “Một tâm hồn”, thánh nữ Têrêsa Hài đồng có kể: “Hai chúng con giùng giằng lèo xèo làm cho mẹ Bề trên (đang liệt bệnh) mở mắt thức dậy, thế là mọi lỗi đổ cả lên đầu con. Chị kia liến thoáng nói một thôi dài, mà đại ý chỉ có thế này: Chính là tại Têrêsa Hài đồng đã làm om sòm. Nóng mặt, con muốn cãi lại ngay… Nhưng con bảo mình: nếu mà cãi phải cho mình bây giờ, chắc sẽ mất sự bằng an trong lòng. Đàng khác, vì còn kém nhân đức lắm, nên con đã không thể đứng yên để nghe chị ấy đổ tội cho mà không thưa lại một vài lời cho ra nhẽ, con liền tính kế “Dĩ đào vi thượng sách” (Trích Một tâm hồn, tr 40-41).

Nghĩ xong, con lủi đi như con quốc… nhưng vì trái tim quá hồi hộp thổn thức không thể bước đi xa được, chân như rủn ra, con phải cưỡng bách ngồi xệp xuống chân thang để được bình tĩnh tạo hưởng cái thú không chiến mà thắng.

VÁC THẬP GIÁ MÌNH.

Đây là khía cạnh tích cực của việc theo Chúa. Quả vậy, theo Chúa thì chúng ta phải nỗ lực, cố gắng trong việc sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin mừng trong sự chịu đựng và kiên trì.

Thập giá thường là dấu chỉ của khổ hình ô nhục, xưa kia quân Roma dùng nó để đóng đinh những tội phạm nô lệ và tiện dân phạm trọng tội đối với đế quốc. Nhưng đối với người Hy lạp, Thập giá trở thành hoa văn xinh đẹp trang hoàng trên các lâu đài sang trọng. Đối với người Ai cập, thập giá tượng trưng cho sự bất tử. Những người thám hiểm Tây ban nha đã khám phá thấy thập giá nơi thổ dân Trung Mỹ xưa là biểu tượng của thần mưa ân phúc. Các nước Tiểu Á và Đông Á vẽ thập giá hình chữ vạn hay chữ thập tượng trưng trời chiếu sáng khắp bốn phương.

Nhìn chung, nhân loại phân chia Thập giá làm hai thứ: một thứ thập giá nhục hình tử tội đen tối, một thứ thập giá vinh quang sáng ngời. Cả hai đều mang dấu vết thương đau khác nhau: một đàng thương đau xấu xa tiêu diệt, nên gọi là khổ giá, một đàng thương đau để được sống trường sinh nên được gọi là thánh giá.

Trong đời sống Kitô hữu. Ai cũng phải vác thập giá vì không ai có thể trốn tránh được đau khổ. Đau khổ chính là thập giá chúng ta phải vác hằng ngày. Công việc chúng ta là phải vác như thế nào: tự nguyện hay miễn cưỡng?  Theo kinh nghiệm của chúng ta và cũng là của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, nếu ai vác bổng thánh giá lên thì sẽ thấy nó nhẹ, còn ai vác uể oải hay kéo lê thì thánh giá sẽ trở nên nặng nề… Tuy nhiên, Thiên Chúa biết sức chịu đựng của từng người, có người Chúa trao cho thánh giá nặng, có người Chúa trao cho thánh giá nhẹ, nhưng thánh giá nào cũng vừa sức cho mỗi người.

Truyện: Thánh giá vừa sức mình.

Thánh giá ta đang mang là thánh giá vừa sức ta. Câu chuyện ngụ ngôn dưới đây chứng minh điều đó: Có một người luôn than van những nỗi khổ cực của mình. Một tối kia, thiên thần hiện đến phán bảo:

“Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó người ta để lại thánh giá của mình. Con hãy mang thánh giá của con ra để đó và hãy lựa thánh gía vừa sức con.

Ông ta mang thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa, ông bắt đầu chọn cái khác nhẹ hơn, ông tìm kiếm mãi mà không được: có cây dài quá, có cây quá ngắn, có cây thì nhẹ nhưng sù sì, khó vác, có cây thì trơn tru nhưng nặng quá, và sau cùng ông nói với thiên thần:

Thưa thiên thần, cây nào cũng khó vác quá, chỉ có cây con định vứt đi là vừa với con thôi.

Phải, Chúa đã trao cho con một cây thánh giá vừa sức, con hãy vui lòng vác đi, đừng than van gì nữa”.

 ĐI THEO CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.

Qua bài Tin mừng của thánh Mát-thêu (Mt. 16, 24-28). Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta cần phải nhìn rõ vào gương tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, để can đảm và sẵn sàng từ bỏ mình và vác thập gía mình mà sống theo Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Tại sao Chúa bảo chúng ta:”Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”.  Bởi vì thánh Matthêu viết sách này vào khoảng năm 8090 SC, nghĩa là ông viết vào những ngày cay nghiệt nhất. Những lời này có ý nói rằng: “Đã đến lúc người ta có thể cứu mạng sống mình bằng cách chối bỏ niềm tin, nhưng như thế thì chẳng những không cứu được mạng sống mình theo đúng nghĩa thật sự mà là đánh mất nó”.

Người giữ lòng trung tín có thể chết, nhưng chết để mà sống. Còn người bỏ đức tin mình để được an thân, thì có thể sống nhưng sống để mà chết. Trong thời đại chúng ta, không có những cuộc cấm đạo khắt khe như thế, nhưng của cải vật chất, chức quyền, danh vọng… có thể làm cho chúng ta chết mà mất linh hồn.

Đứng trước thập giá, đứng trước đau khổ, chúng ta không thể hiểu, không thể cắt nghĩa được vì đó là mầu nhiệm. Cuối cùng, tất cả những gì chúng ta có thể làm khi gặp đau khổ là tín thác vào Chúa Giêsu, Đấng đã phán: “Bất cứ ai chấp nhận mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được sự sống ấy”. Trong cuộc sống, người ta luôn gặp thập giá, đau thương, gian nan, thử thách… Tất cả những cái đó có thể làm nên những điều có lợi cho chúng ta như câu chuyện ‘Biến bại thành thắng’dưới đây:

“Người ta kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: trong một khu rừng có một con hổ lớn và dữ tợn. Lũ khỉ ghét con hổ này lắm. Một ngày kia, chẳng may, con hổ bị sa xuống hố do người thợ săn đào sẵn. Không còn cách nào thoát thân, con hổ chỉ còn biết ngồi chờ thần chết đến.

Lũ khỉ đi qua thấy thế mừng lắm, chúng chế diễu và thay nhau lấy đá, lấy đất và bẻ các cành cây ném xuống đầu con hổ cho bõ ghét. Con hổ chỉ còn biết ngồi chịu trận, không còn biết làm cách nào khác. Thấy thế, lũ khỉ thích chí càng ném hăng, ném mãi không chán, nhưng không ngờ, chính những hòn đá, cành cây vứt xuống nhiều quá, làm cho hố cứ đầy dần lên, đến nỗi con hổ có thể nhờ đó mà nhảy ra ngoài hố được”.

Đời là thế. Đau khổ cũng có ý nghĩa riêng của nó. Người ta nói: cái khó bó cái khôn. Nếu ta biết từ bỏ mình, vác thập giá mình thì chính những cái ấy có lợi cho ta. Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này: Thập giá đã nói lên chân lý ấy, và “hạt giống có mục nát ra thì mới sinh hoa kết quả được. Có lẽ chúng ta không bao giờ hiểu được mầu nhiệm của đau khổ trong thế giới này, nhưng đây là điều chắc chắn: Một khi về trời chúng ta sẽ hiểu được điều ấy. (Lm Giuse Đinh lập Liễm).

ĐỜI SỐNG ĐẠO THƯỜNG NGÀY CỦA NGƯỜI KI-TÔ HỮU

Thánh hoá bản thân. Người Công giáo phải nỗ lực để trở thành môn đồ thực sự của Giêsu. Họ mong đợi tìm kiếm được sự tha thứ cho những tội lỗi của mình, qua tấm gương và lời giảng dạy của Giêsu. Họ tin rằng thông qua Giêsu, Thiên Chúa đã ban bảy phép bí tích cho mình, như những công cụ để trợ giúp họ thực hiện được điều này. Người Công giáo tin rằng Thiên Chúa luôn luôn tác động giữa loài người trên thế giới này.

Cầu nguyện liên lỉ. Người Công giáo được “Thánh hoá” là nhờ các phép bí tích của Giáo hội và qua cả những lời cầu nguyện, những công việc phúc đức, hành hương, ăn chay và hãm mình. Cầu nguyện cho chính mình, cho người khác, thậm chí cho kẻ thù, và những người ngược đãi mình là một nhiệm vụ của Kitô hữu.

Người Công giáo cho rằng có bốn mục đích của việc cầu nguyện với Thiên Chúa là: Tôn thờ, tạ ơn, ăn năn và khẩn cầu. Đức Chúa Giêsu cũng đã dạy với các tông đồ rằng: Khi có hai, ba người họp lại mà cầu nguyện thì Thiên Chúa ở cùng họ; Khi chúng ta nhân danh Chúa Giêsu để xin điều gì, thì Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta. Bởi thế, sống theo ý Chúa là điều chúng ta cần phải tin vào Lời Chúa, nhân danh Chúa Giêsu mà xin ơn được sống theo ý Chúa, để làm trọn bổn phận của chúng ta hàng ngày.

Sống kết hợp theo ý Chúa. Bổn phận của người tín hữu là ngợi khen Thiên Chúa và sống thực hành theo Lời Chúa dạy, chỉ có bấy nhiêu đó mà thôi, đã khó thực hiện, nhưng Giáo hội còn khuyên chúng ta phải sống theo ý Chúa, để ý của Chúa Cha được thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời nữ. Đây mới là điều, chúng ta thi hành không phải dễ. Hoạ may là các bậc tu trì, các vị thánh sống mới làm tròn bổn phận làm con cái của Chúa.

Tuy nhiên Ông Frank Duff đã viết cuốn sách với tựa đề: “Chúng ta có thể là thánh không?”

Ông đã định nghĩa thánh là gì: “Đó là người làm tròn những bổn phận bình thường của mình một cách phi thường, với mục đích làm vui lòng Chúa. Một đời sống như vậy có thể sống không một chút gì đáng nói, không một chút gì lạ cả, rồi sẽ bị lãng quên, nhưng đó là đời sống của những bạn thân thiết của Chúa”.

Đức Hồng Y Newman đã khuyên giáo dân của Ngài rằng: “Nếu bạn hỏi tôi phải làm gì để trở nên hoàn toàn, tôi nói, trước hết không nằm nướng trên gường quá giờ dậy, dâng những tư tưởng đầu tiên cho Chúa, chầu Thánh Thể, đọc kinh Truyền Tin một cách thành kính, ăn uống để vinh quang Chúa, cầu kinh Mân Côi, trầm tư, loại bỏ tư tưởng xấu, nghiện ngẫm lời Chúa, xét mình hằng ngày, đi ngủ đúng giờ và bạn trở nên gần như hoàn toàn.” Thánh hoá đời mình là việc làm không khó, chỉ cần chúng ta có quyết tâm bắt tay ngay vào việc làm, theo những lời đã khuyên ấy hay không mà thôi.

Cha ông chúng ta cũng thường nói: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng mình ngại núi e sông”.

NHỮNG LÝ DO KHIẾN LỜI CHÚC NGÔN CỦA CHÚA GIÊSU KHÓ THỰC HIỆN?

 Làm tôi hai chủ. Trước hết chúng ta hãy xét lại đời sống phần hồn của chúng ta. Cuộc sống đạo của chúng ta đang dẫn chúng ta đi con đường nào. Thành công trên con đường mà Chúa Giêsu đang dẫn chúng ta đi, tiến tới cái chết như của người trộm lành trên đồi Gôl-gô-tha, được ở cùng Chúa, hưởng nhan thánh Thiên Chúa đời đời sau khi chết.

Hay chúng ta chọn lựa đi theo con đường của Satan, với những lời hứa hẹn của nó về: giàu sang, địa vị, quyền hành, để kết qủa là cái chết với đầy sự than khóc trong vương quốc Hoả ngục của nó mãi mãi muôn đời.

Tuỳ theo sự chọn lựa của chúng ta. Thiên Chúa có thể làm tất cả chẳng cần đến chúng ta, nhưng Người đã không làm như vậy, mà ngược lại Người muốn chúng ta cộng tác theo sự tự do chọn lựa của chúng ta.

Sự chọn lựa ấy, phải được xác định rõ rệt. Chúng ta không thể vừa làm con cái của Thiên Chúa, và vừa làm tôi tiền bạc, thân xác, danh vọng, quyền lực và của ma quỷ được. Từ khi có trí khôn, chúng ta đã phải có quyết định rõ ràng cho suốt cả đời sống ở nơi thế gian này. Khi chúng ta còn ấu thơ, cha mẹ là người có trách nhiệm dạy bảo, hướng dẫn cho chúng ta, như lời họ đã thề hứa trong thánh lễ Hôn Phối của họ.

Nói như thế, thì còn rất nhiều người chưa hiểu biết về tín lý, giáo lý, kinh thánh hoặc hiểu sai Lời Chúa và của Giáo Hội đã phán dạy.

Sống thiếu tình thương với tha nhân. Tuỳ theo quan niệm sống của chúng ta. Một lý do khác nữa là tại chúng ta sống ích kỷ, và đã không dành thì giờ cho việc đem Chúa và đem tin Mừng đến cho tha nhân. Chúng ta chỉ muốn một mình chiếm hữu Chúa mà thôi, để mà nhận ơn nhiều hơn mà không phải chia sẻ cho ai khác. Giống như người thanh niên nọ đã tranh luận rằng: “Tôi ăn ngay ở lành, không làm hại ai, thế là đủ rồi”. Thế nhưng, anh ta còn thiếu làm việc bác ái, giúp đỡ kẻ nghèo khó, an ủi kẻ âu lo, chia nỗi buồn với những ai đang sầu khổ, thăm viếng những kẻ bị tù đầy…

Vâng đúng thế, nếu chúng ta không được ơn Chúa ban và có Chúa trong đời sống thiêng liêng qua việc tham dự thánh lễ, thì làm sao chúng ta có thể mang Chúa đến với người khác được. Chúng ta chỉ đến với tha nhân bằng cái “tôi” to đùng của chúng ta mà thôi. Có lẽ đây là lý do chính đáng nhất để giải thích tại sao việc truyền đạo bị cản trở.

Sống thiếu Lời Chúa. Thiếu Lời của Chúa là lý do đã cản trở việc truyền giáo trong xã hội ngày nay. Người ta có thể tiêu khiển thời gian bằng những đêm ca nhạc, bằng những ngày tháng trong các sòng bạc lớn, hay qua những bộ phim, những cuốn sách hay. Thế nhưng, khi nói đến sách lời Chúa, thì có mấy ai chịu đọc và suy ngẫm.

Vì không thấu hiểu lời Chúa, nên thiên hạ sống sa đoạ ngày càng nhiều hơn.

“Lời Chúa” là thuốc trị bệnh “đau khổ” hữu hiệu nhất.

Có một bệnh nhân già nọ đến tìm vị Bác sĩ nổi danh để xin ông ta chữa bệnh cho bà, vì bà bị đau quá sức.

Bác sĩ hỏi: Bà đau làm sao, đau đầu phải không?

Bà ta lắc đầu, và tay ôm ngực.

Thế thì bà bị đau ngực, phải không?

Bà ta bắt đầu khóc, nhưng đầu bà vẫn lắc từ chối.

Thế chắc là bà bị đau bụng phải không, để tôi khám cho bà nhé !

Lần này thì bà ta khóc to hơn và nói: tôi không bị đau bụng nhưng là tôi…bị đau đớn.

Vị bác sĩ giơ hai tay ôm đầu và trả lời: Bệnh đau đớn làm gì có thuốc trị, nhưng tôi muốn tặng bà một cuốn Phúc Âm, mỗi ngày khi thức dậy, bà đọc một bài. Khi đọc xong cuốn sách này, bà sẽ khỏi bệnh. Nếu mọi người biết được Lời Chúa có sức mạnh an ủi, chữa lành và thay đổi cuộc sống đau khổ của chúng ta, thì thế giới này đâu còn hận thù, chiến tranh. Thiên Chúa là tình yêu, lời của Chúa là đèn soi, dẫn đưa chúng ta đến an bình và hạnh phúc ngay ở trần gian này. Ước mong tất cả ông bà, anh chị em đều hiểu biết và quý trọng Lời Chúa, để sống tín thác vào lòng thương xót của Chúa, và để phụng thờ Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, cùng yêu mến tha nhân như chính Chúa Giêsu yêu thương chúng ta. Được như thế thì chúc ngôn cuối cùng của Chúa Giêsu mới được mọi người quyết tâm thực hiện, và Tin Mừng của Chúa được lan truyền trên khắp địa cầu. Amen.