ƠN GỌI GIÁO DÂN VÀ NHIỆM VỤ TƯ TẾ

Trần Bá Nguyệt

  1. Những câu chuyện tưởng như đùa

1.1 Ông N. là một ông trùm tại Thủ Đức. Một hôm ông nói với cha xứ (còn trẻ) rằng một người “ngoài đạo” hỏi ông về đạo công giáo. Tỷ như chuyện “Tại sao tôi lại phải rửa tội. Tôi sinh ra có làm gì đâu, nghĩa là có tội gì đâu mà phải rửa.” Hay có lần một người hỏi, “Đạo Công Giáo khoẻ thật, cứ phạm tội rồi đi xưng tội là hết tội!?” Ông trùm giở hết mọi thứ cẩm nang nhà đạo để trả lời. Cha bảo, “Ông không học Lời Chúa làm sao trả lời!” Ông trùm nói, “Con nói bằng lời thế gian!” Ông nói với họ, “Ông tổ loài người là Adam phạm tôi ăn trái cấm. Trái cấm là trái không được ăn. Bà Eva bị con rắn dụ dỗ ngon ngọt thế nào mà hái một trái để ăn, rồi hái một trái khác đưa cho ông Adam ăn. Chúa phạt. Vì thế con cái cháu chắt từ đó về sau phải làm thủ tục rửa tội tổ tông vì là tội do nguyên tổ đã phạm. Cái lý do là ở chỗ người công giáo tin rằng tổ tiên loài người là Adam và Eva! Quý anh tin tổ tiên loài người là khỉ là vượn thì mấy anh không rửa tội là chuyện của mấy anh!”

Còn chuyện, “xưng tội là xong thì không đúng, phải đền tội và dốc lòng từ nay về sau không phạm tội đó nữa. Khó đấy! Nhưng phải cố gắng thôi! Chứ  ‘xưng tội’ xong rồi ra ngoài lại phạm nữa thì … bó tay!” Nhất là những tội dễ phạm như nói xấu, thêu dệt chuyện “nghe nói” về người khác, hay dèm pha, ngồi lê đôi mách, so sánh giàu có, xe cộ, nhà cửa, sân, si, hiềm khích, cãi cọ, tham lam của cải của người khác, … Nhà Phật gọi chuyện nói xấu người khác là “vọng ngữ”, giới thứ ba trong Ngũ Giới của nhà Phật. Không cố gắng tránh phạm những tội đó thì  … cà lăm là phải. Đạo Bụt còn gọi những chuyện “phạm giới” như vậy là “khẩu nghiệp”. Cái nghiệp tạo ra do chính cái miệng có cái lưỡi (biểu hiện tự do trời ban cho con người). Chính cái lưỡi của mình tạo thành nghiệp chướng, và đã thành nghiệp chướng thì khó mà cải đổi hay khó mà được tha thứ.

1.2 Ông Bảy là một thợ mộc chuyên đóng tủ thờ. Ông sinh sống ở Mỹ Tho và làm quen với rất nhiều người dân Nam Bộ chân chất, hiền lành khi ông đến nhà họ trong miền quê để làm việc. Sau ngày 30-4-75, nhiều gia đình Nam Bộ là những gia đình tập kết. Họ trở về Miền Nam sinh sống. Trong câu chuyện họ hỏi Ông Bảy, “Ông là công giáo, chắc ghét cộng sản chúng tôi lắm!” Ông Bảy trả lời, “Đạo chúng tôi dạy phải yêu thương hết mọi người, kể cả những người không yêu thương mình hay những người mà mình không thích! Người cộng sản các anh hô hào xoá bỏ giai cấp, nhất là giai cấp bóc lột là tốt. Ai cũng mong như vậy. Đức Khổng dạy phải tu thân. Đức Phật dạy tránh tham, sân, si để cuộc đời khỏi phiền não ngõ hầu có thể thanh thản vào cõi Niết Bàn – Nirvana – vì cuộc đời là bể khổ trầm luân. Còn đạo công giáo là đạo yêu thương. Thế đấy!”

Từ đó họ không nêu thắc mắc gì với Ông Bảy và coi ông như người “phe ta”.

1.3 Chuyện ông giáo già

Hơn 50 năm dạy học ở nhiều nơi và nhiều cương vị trong ngành giáo dục, ông giáo già trải nghiệm nhiều thắc mắc về con người từ học trò, từ những đồng nghiệp ngoài công giáo. Thực ra ông không phải là người giáo dân theo đạo kiểu đọc kinh cho nhiều, đi lễ hàng ngày, hay tham gia hàng năm, bảy hội đoàn. Ông cũng không phải là người tin tuyệt đối vào các vị thừa tác viên tư tế của giáo hội. Nhưng ông luôn luôn nói với anh em và với học trò khi có một sự việc nào xảy ra hay sự việc làm nhiều người thắc mắc một câu nói đơn giản. Câu nói của Ông là, “Có Chúa”. Khi có một tại nạn xảy ra cho ai đó, ông không nói “hãy cầu nguyện cho linh hồn a,b,c,” nhưng ông nói, “Có Chúa!” Chỉ hai chữ vắn gọn ấy bao hàm nhiều ý nghĩa. Sự sống, sự chết không phải do con người tính toán được. Con người không biết được ngày nào Chúa gọi mình về. Con người phải tỉnh thức và cầu nguyện chờ ngày Chúa đến với mình.   Khi thấy hình ảnh trên CNN về vụ 911 xảy ra cho Toà Tháp Đôi Twin Tower bên New York, ông ngửa cổ, mắt lim dim qua cặp kính cận, “Có Chúa!” Nghe nói về bão lụt, thiên tai, động đất, sóng thần, ông nói, “Có Chúa!” Khi tai ông không còn bén nhậy để nghe nhanh và nghe rõ mọi âm thanh, giọng nói của anh em hay của băng, dĩa CD bài học, ông nói, “Có Chúa!” Vì tuổi già nên nghễnh ngãng là chuyện tự nhiên như sông có ngày sẽ cạn, núi có ngày sẽ mòn, cuộc đời mau qua chóng hết, không ai khoẻ mãi và không ai tránh được tuổi già với những sự yếu đuối về cả tinh thần lẫn thể xác. Thiên tài như Albert Einstein, hay nhà Vật lý học thiên văn Stephen Hawking, Ông chủ Apple là Steven Job rồi cũng chết. Vâng, “Có Chúa!” Everywhere. Con người phải nhận cái kiếp sống mong manh của chính mình mà mình không thể muốn kéo dài hay rút ngắn.

Ba câu chuyện vừa kể chỉ là để chứng minh một việc. Đó là người giáo dân luôn luôn phải đối mặt với những câu hỏi hóc búa, những “ý kiến, ý cò” tào lao mà người hỏi nghe nói ở đâu đó về các chức sắc trong đạo, về các lễ nghi, kỷ luật tôn giáo, về các hành vi người công giáo làm mà người đời cho là “sao kỳ dzậy!” Những câu hỏi ấy không xảy ra nơi nhà thờ để các cha giảng giải dùm, cũng không xảy ra nơi có những thảo luận nghiêm túc để các bậc tài giỏi giải thích dùm mà xảy ra bất cứ chỗ nào, từ bất cứ người nào và vào bất cứ lúc nào. Người giáo dân lặng im hay phản ứng kiểu tiêu cực dễ dẫn đến cãi lộn. Tỷ như, “Chú mày biết gì mà hỏi!”

Có điều chàng thanh niên Giêsu là con người có thật, một con người có ghi trong sử sách, có dấu tích, có nhân chứng, có chết và có sống lại. Chuyện sống lại mấy ai tin nếu Giêsu chỉ là một người con Ông thợ mộc bình thường. Nhiều người vô thần, “chống công giáo ra mặt” khi được mời đi viếng những nơi mang dấu ấn lịch sử của Giêsu đã trở thành những người công giáo ngoan đạo. Câu chuyện này đã do chính Cha Phạm Bá Lãm hạt Hoà Hưng kể lại về anh trưởng đoàn đi viếng Thánh Địa với đoàn hành hương do Cha tổ chức vào tháng 10 năm 2000, đúng dịp Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ Ba (Jubilee of the Family) tại Roma.

Vậy thì đúng ra người giáo dân có và phải có trách nhiệm vô cùng quan trọng nơi thương trường, nơi sở làm, nơi chợ búa, nơi trường học, nơi ăn uống … nơi mà chẳng thể tìm ra những vị thừa tác viên tư tế (Ministerial Priesthood) được huấn luyện chính mạch đàng hoàng. Giáo dân phải trả lời cho những người hay thắc mắc hay nhiều khi dè bửu về công giáo. Giáo dân là những “tư tế cộng đồng –  Lay Priesthood, Common Priesthood”. (Xin xem phần 6 bên dưới để hiểu rõ hơn về vai trò “tư tế cộng đồng” của giáo dân.)

2. Người giáo dân (Laicus) ở vị trí nào?

a. Giáo dân là tất cả các tín hữu ngoại trừ những người có chức thánh và bậc tu sĩ (Lumen Gentium 31).

b. Giáo dân tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào các việc trần thế (Lumen Gentium 31; Gaudium et Spes 43 – Giáo Hội Trong thế giới ngày nay; Apostolicam Actuositatem 2, 5, 7 – Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân).

c. Giáo dân có Chúa Kitô là Anh Trưởng (Lumen Gentium 32).

d. Giáo dân tham dự vào sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội (Lumen Gentium 30, 33; Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân AA 5,10).

e. Giáo dân phải cộng tác trực tiếp hơn nữa với hàng giáo phẩm (Lumen Gentium 33).

f. Giáo dân tham dự vào chức Tư tế, Ngôn sứ (Tiên Tri) và Vương Đế của Chúa Kitô. (Apostolicam Actuositatem – AA 2, Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo dân.)

g. Giáo dân là chứng nhân của sự sống lại (Lumen Gentium 38).

h. Giáo dân là sứ giả của niềm tin (Lumen Gentium 35).

i. Giáo Hội khó có thể hiện diện và tác động nếu không có hoạt động của giáo dân (AA 1, 10 – Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân).

j. Giáo dân làm tông đồ cho người có hoàn cảnh giống như mình (AA 13 – Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân).

k. Giáo dân thực hiện sứ mệnh của họ trong thế giới bằng nhiều cách khác nhau (AA 13 – Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo dân).

3. Có phải người giáo dân giảng đạo bất đắc dĩ?

Đúng, nhưng không đúng!

Đúng, hiểu theo nghĩa hạn hẹp của những người đi đạo và chỉ chuyên lo việc giữ đạo, siêng năng đọc kinh, đi lễ và chỉ có thế. Giữ khư khư vì sợ người khác lấy mất. Giữ đạo cho mình và chỉ cho riêng mình không cần biết đến người chung quanh. Gặp Chúa thì chỉ toàn “Xin cho con … điều này, xin cho con điều kia…” Chuyện giảng đạo là của mấy ông cha, mấy nhà tu, mấy bà mụ.

Không đúng, vì người có đạo không phải lúc nào cũng vỗ ngực xưng tên, làm dấu cho to và đọc kinh cho lớn tiếng giữa bàn dân thiên hạ để chứng tỏ mình là người có đạo (như câu chuyện người Pha-ri-siêu trong Kinh Thánh khi vào đền thờ). Không đúng là vì anh phải là “men trong bột”. Người thợ làm bánh bỏ men trong bột và trộn đều. Anh ta không biết đâu là men, đâu là bột, nhưng nhờ chút men ấy mà chậu bột của anh lên men để bột thành bánh.

  • Người giáo dân giảng đạo là nhiệm vụ và trách nhiệm (GLCG 783-786).
  • Giáo dân là chứng nhân của sự sống lại (Lumen Gentium 38).
  • Hoạt động Tông Đồ của Giáo Dân tham dự vào Sứ mạng của Giáo Hội (Lumen Gentium – Hiến chế về Giáo Hội, 33, 35)
  • Giáo dân thi hành hoạt động Tông Đồ cá nhân hoặc tập thể (AA – Apostolicam Actuositatem – Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân, 15).
  • Giáo Hội khó có thể hiện diện và tác động nếu không có hoạt động của giáo dân (AA 1, 10 – sđd như trên).
  • Giáo dân làm tông đồ giữa, với và cho những người có hoàn cảnh giống như mình (AA 13 – sđd như trên).

4. Những chuyện khiến mọi người băn khoăn

  • Ngày nay, những netizen (công dân mạng) ở khắp mọi nơi và tung lên mạng vô tội vạ khiến mạng toàn cầu tràn ngập đủ mọi thứ bài viết, thông tin và danh hiệu khiến không ai biết đâu là thật, đâu là giả. Vậy mà vẫn có những netizen sùng bái trang mạng như Kính Thánh của riêng mình. Mở miệng một chút là Internet nói, Facebook ghi, Instagram kể, Tweetering “xô” showed, … Rồi lúc nào cũng kè kè i-phone bên mình và gật gù ra vẻ đã tìm được những gì vô cùng thú vị.
  • Có vị còn trách cứ người giáo dân là chỉ dành cho Chúa những giờ dư thừa, có hai tiếng một tuần khi đi lễ ngày chúa nhật, còn những giờ khác là không có Chúa. Nhưng cũng có linh mục giảng rằng nếu bận quá không đến nhà thờ được thì đọc kinh bù, cũng chẳng sao, miễn là đừng quên Có Chúa trong cuộc sống của mình. Bên Phi-luật-tân tại các khu chợ búa, đài truyền hình yêu cầu khách hàng dừng lại nửa giờ giữa trưa để giáo dân đi chợ dâng thánh lễ tivi.
  • Có vị còn lên án những giáo dân sống bên lề giáo hội vì thiếu vắng việc đi lễ, hay “đi xem lễ” mà không khuyến khích trách vụ “ăn ngay ở lành của họ” nơi họ làm việc để “người ta cứ dấu này mà biết các con là con Ta”.
  • Có giáo dân thích lấy các đấng bậc mũ tím, mũ đỏ để làm đầu đề câu chuyện, hoặc để muốn chứng tỏ mình giỏi về đạo hơn những vị ấy. Thỉnh thoảng trên mạng chúng ta lại thấy có những bài lên án hồng y không biết viết thư mục vụ hay nhà dòng hoặc trung tâm mục vụ nọ kia họp bàn về tình dục trong hôn nhân hay tránh thai tự nhiên … trong những chương trình học hỏi.
  • Và còn nhiều nữa. Nhưng người giáo dân làm nhiệm vụ tư tế lúc nào và ra làm sao?

5.  Nhiệm vụ Tư Tế (Sacerdotium; Priesthood; Sacerdoce)

Tự Điển Công Giáo do Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin (Tiểu Ban Từ Vựng) thuộc HĐGMVN ấn hành (trang 367) định nghĩa chức Tư Tế như sau.

CHỨC TƯ TẾ : Sacerdotium, Priesthood, Sacerdoce

Tư: chịu trách nhiệm; Tế: dùng lễ vật mà dâng cúng.

Chức Tư Tế: nhiệm vụ lo việc thờ phượng (phụ trách việc tế lễ) trong các tôn giáo.

Trong Cựu Ước, chức tư tế  được dành riêng cho Chi tộc Lê-vi. Các tư tế chuyên lo giữ gìn thánh điện và dâng hy lễ. Dân Israel là vương quốc tư tế (Xh 19,6) của Thiên Chúa. Đây là nguồn gốc của chức tư tế cộng đồng trong Tân Ước.

Tất cả mọi tín hữu trong Hội Thánh, những người đã lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, nhờ việc xức dầu của Thánh Thần được tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, Vị Tư Tế duy nhất (x. GLHTCG 1141): “Chức tư tế cộng đồngcủa các tín hữu được thực hiện qua việc làm tăng trưởng ân sủng Phép Rửa, đời sống tin cậy mến, đời sống theo Chúa Thánh Thần” (GLHTCG 1547).

Ngoài chức tư tế cộng đồng, còn có chức tư tế thừa tác là những người được tuyển chọn, huấn luyện và thánh hiến nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh (giám mục, linh mục). Họ được Thiên Chúa mời gọi để đảm nhận việc phục vụ chức tư tế cộng đồng, giúp làm tăng trưởng ân sủng Phép Rửa của mọi Kitô hữu” (GLHTCG 1547). 

  • Tư tế Thừa Tác (Ministerial Priesthood, Ministry of Priests) là nbười được truyền chức đặc biệt, tức Bí Tích Truyền Chức Thánh (Sacrament of Holy Orders / Ordination) để dâng Thánh Lễ và trao ban các Bí Tích. Linh mục không thuộc giáo xứ nhưng đến giáo xứ để thăm viếng hoặc giúp đỡ giáo dân được gọi là Cha Khách (Missionary Priests). Linh mục thuộc một dòng tu nào đó được gọi là linh mục dòng (Religious Priests); linh mục không thuộc dòng tu được gọi là linh mục triều (Secular Priests); linh mục thợ hay linh mục lao công (Working Priests) là người đi làm như những người thợ. Sau khi thụ phong, vị linh mục được bổ nhiệm vào công tác trông coi họ đạo (Cha xứ, cha sở), công tác truyền giáo (linh mục thừa sai), giảng dạy (Cha giáo), linh hướng (Cha linh hướng), v.v. Linh mục phá giới được gọi là Spoiled Priests.
  • Tư tế Cộng Đồng (Lay Priesthood; Priesthood of the Faithful; Common Priesthood, Baptismal Priesthood)

Giáo dân là thành phần thứ hai trong Dân Thiên Chúa nhờ Bí Tích Rửa Tội. Họ được dự phần vào các chức năng Tư Tế, Tiên Tri và Vương Đế của Đức Kitô. Tuỳ theo điều kiện riêng của mình, họ được mời gọi thực thi sứ vụ được Thiên Chúa trao cho Hội Thánh (GLHTCG 871, 872 và 934). n

(Xin đọc các phần sau trên DCUC về các chức năng  Tiên Tri hay Ngôn Sứ và Vương Đế.)