Phụng Vụ Mùa Phục Sinh

(Nguồn: Reflection trong Empowering Asia’s Laity của Charles F. Bertille)

Mùa Phục sinh mang một ý nghĩa của niềm vui hân hoan vì Chúa Kitô đã sống lại khải hoàn, Người đã chiến thắng thần chết và đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.[1] Mùa Phục sinh kéo dài 50 ngày từ Chúa nhật Phục sinh đến hết Chúa nhật Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Trong khoảng thời gian đó, tuần Bát nhật Phục sinh được xem là lễ Phục sinh kéo dài với các lễ mỗi ngày được xem là lễ trọng về Chúa. Tuần Bát nhật Phục sinh cũng là thời gian Giáo hội đặc biệt cầu nguyện cho các tân tòng và giúp người tín hữu sống ơn bí tích Thánh Tẩy cách trọn vẹn. [2] Ngoài ra, các lễ như lễ Chúa Giêsu về Trời và lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống cũng là những lễ trọng đặc biệt trong mùa Phục sinh. Với những ý nghĩa đặc biệt của mùa Chay và mùa Phục sinh, chúng ta cùng thử tìm hiểu nguồn gốc lịch sử, cấu trúc, cách thức cử hành và đào sâu thêm ý nghĩa các nghi thức của hai mùa Phụng vụ này.

I. Nguồn gốc lễ Phục sinh

Lễ Phục sinh có nguồn gốc từ lễ Vượt qua của Do Thái giáo. Người Kitô hữu nhận ra cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu hoàn thành những gì biến cố Xuất Hành đã biểu hiện trước, đó là giải phóng con người khỏi sự dữ và đưa họ vào cuộc sống do Thiên Chúa trao ban. Lễ mừng Chúa Giêsu sống lại được cử hành vào mỗi ngày Chúa nhật.

Kinh thánh Tân ước không có đoạn nào nói về lễ Phục sinh của Kitô giáo. Lễ này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ hai công nguyên. Các Giáo hội Đông phương thuộc miền Tiểu Á như Êphêsô, Smyrne… theo sát với truyền thống Do Thái giáo, và họ mừng lễ Phục sinh vào 14 tháng Nisan, cho dù ngày này rơi vào một ngày trong tuần chứ không bắt buộc phải là ngày Chúa nhật.

Ngược lại Giáo hội Tây phương tại Rôma, bên Palestine, Ai Cập, Hy Lạp và xứ Gaule (Pháp) lại mừng lễ Phục sinh vào ngày Chúa nhật vì Chúa Giêsu sống lại ngày Chúa nhật. Ngày Chúa nhật này có thể rơi vào ngày 14 Nisan của Do Thái, hay là Chúa nhật kế tiếp nếu như ngày 14 Nisan không là một ngày Chúa nhật.[3]

Cuộc tranh cãi về việc mừng lễ Phục sinh cũng như việc cử hành phụng vụ đa dạng tại các vùng khác nhau và nêu lên sự hiểu biết khác biệt về lễ Phục sinh. Khi mừng lễ Phục sinh vào ngày 14 Nisan, Giáo hội Đông phương cũng mừng mầu nhiệm Đức

Giêsu chết và sống lại, nhưng họ đánh dấu trọng tâm vào cái chết của Người, trong khi đó bên Tây phương nhấn mạnh vào sự sống lại. Cuộc tranh luận suýt gây ra đổ vỡ giữa hai bên. Vào năm 192, Đức Giáo hoàng Victor quyết định dứt phép thông công các Giáo hội miền Tiểu Á. Thánh Irênê can thiệp ôn hoà và Đức Giáo hoàng rút lại vạ tuyệt thông. Tại Công đồng Nixêa năm 325, các Giáo hội Kitô giáo đồng ý tách biệt lễ Vượt qua Do Thái giáo và lễ Phục sinh Kitô giáo. Các nghị phụ chấp thuận mừng lễ Phục sinh vào ngày Chúa nhật tiếp theo tuần trăng tròn (14 Nisan) sau ngày phân xuân.[4]

Lễ Phục sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo, thường diễn ra vào tháng 3 hoặc 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu. Phục sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ Công giáo gọi là mùa Phục sinh, kéo dài đúng 50 ngày, từ Chúa nhật Phục sinh đến lễ Hiện xuống.

Năm mươi ngày hoan lạc Phục sinh của các tín hữu Kitô giáo dựa trên cách tính lễ Ngũ tuần của người Do Thái. Nhưng theo cách tính của người Do Thái, thì lễ Ngũ tuần là ngày thứ 50 sau lễ Vượt qua, trong khi các tín hữu Kitô lại coi đó như là tuần lễ gồm hết 50 ngày. Mùa Phục sinh bắt đầu với Chúa nhật Phục sinh, cũng là ngày cuối của Tam Nhật Vượt qua và ngày đầu của bát nhật Phục sinh hay tuần lễ áo trắng (in albis – chú thích 98 trang 113), để kết thúc vào ngày thứ 50, tức Chúa nhật VIII Phục sinh.[5]