Sống Trong Niềm Vui

Thuỵ Miên.

Có nhiều người cho rằng một năm mới bắt đầu với một ngày như mọi ngày. Họ vẫn thức giấc khi trời vừa sáng. Họ vươn mình rồi ngồi và đứng lên để đi đánh xúc miệng, đánh răng và ăn sáng, uống trà hay cà phê. Sau những việc thường lệ cần phải làm cho thân xác thì họ mới bắt đầu mới làm những công việc theo bổn phận của riêng từng người.

Xã hội ngày xưa có rất nhiều người làm việc chăm chỉ, nhưng cũng có rất nhiều người chỉ biết ăn chơi, vì sinh nhầm vào những gia đình giầu có. Bài ca dao dưới đây nói lên sự vất vả nhưng đầy vui tươi với công việc của những nông gia trong việc đồng áng của họ:

“Tháng giêng là tháng ăn chơi.

Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.

Tháng ba thì đậu đã già,

Ta đi, ta hái về nhà phơi khô.

Tháng tư đi tậu trâu bò,

Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm.

Sớm ngày đem lúa ra ngâm,

Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.

Gánh đi, ta ném ruộng ta,

Đến khi nên mạ, thì ta nhổ về.

Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê,

Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi.

Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,

Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai.

Ruộng thấp đóng một gàu dai,

Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.

Chờ cho lúa có đòng đòng,

Bây giờ ta sẽ trả công cho người.

Bao giờ cho đến tháng mười,

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.

Gặt hái ta đem về nhà,

Phơi khô quạt sạch ấy là xong công”.

Người Kitô hữu sống trong niềm vui của năm mới

Trước khi bắt tay vào công việc công tác Tông đồ, một việc làm cần thiết theo bổn phận của tất cả những ai được Thiên Chúa mời gọi làm con, dân của Chúa bao gồm:

  • Dâng ngày mới cho Chúa qua lời cầu nguyện ban sáng.
  • Kết hợp với Chúa qua tư tưởng, hoặc qua việc tham dự thánh lễ, nếu có thể.
  • Xét mình và tìm ra những việc, những nhân đức mà chúng ta đã hứa trong năm cũ, để quyết tâm sửa chữa lỗi lầm còn thiếu sót.
  • Quyết tâm làm việc theo ý Chúa, và kết hợp với Đức Mẹ, cùng xin ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng cho chúng ta biết việc phải làm.
  • Đừng ôm đồm quá nhiều việc mà chẳng đem lại lợi ích gì cho linh hồn của chính mình hay cho linh hồn của tha nhân.
  • Đừng yêu tha nhân theo kiểu, mà chúng ta nghĩ rằng họ là kẻ không có chân tay, họ là trẻ thơ, hay là người già nua, bệnh tật. Vì họ phải chịu trách nhiệm về mọi việc đã làm với Thiên Chúa.
  • Tránh xa dịp tội và nhất là tội làm sáng danh của chúng ta, hơn là sáng danh của Thiên Chúa: Tội kiêu ngạo.
  • Canh tân, hoán cải đời sống tâm linh hàng ngày, và cầu xin nhân danh Chúa Giêsu giúp sức, để chúng ta chiến thắng những cám dỗ của tính xác thịt của chúng ta, của thế gian và của ma quỷ.

Viết đến đây, tôi chợt tự hỏi mình rằng: Làm thế nào để tôi biết chắc rằng Thiên Chúa đang ở trong tôi, với tôi và đồng hành trong cuộc sống của tôi?

Chúa vẫn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, bởi vì những lý do sau đây:

Tôi là người còn vướng mắc nhiều lỗi lầm

Điều kiện cần có trước nhất, để có được Chúa ở cùng: Tôi phải hoán cải cuộc sống và quay trở về với những điều luật của Chúa đã dạy, và tôi phải tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu vô bờ bến, lòng thứ tha của Chúa, để tôi thực hiện sự hoán cải, quyết tâm sửa chữa lỗi lầm và quay trở về với Chúa.

Cuộc sống quá khứ của tôi đã bị thế gian cùng ước muốn của xác thịt biến tôi thành một kẻ hoang đàng, sống ngụp lặn trong vũng lầy của tội lỗi, và tôi đang mong chờ ơn Chúa cứu độ. Chúa Giêsu là người mục tử tốt lành, và Người giống như người cha nhân hậu đã chờ đón người con trở về, ngay từ lúc anh ta bỏ nhà ra đi theo ý riêng của anh ta. Tôi và mọi người đều được tự do, để chọn lựa cách sống của chúng ta. Cũng vì thế mà có nhiều người sống theo kiểu “con chiên đi lạc đường”. Chúng ta càng đi lạc xa bấy nhiêu thì tâm hồn, trí óc của Chúa càng lo lắng cho chúng ta bấy nhiêu.

Chúa quyết tâm đi tìm chúng ta cho bằng được, vì Chúa xuống gian trần này là để cứu chuộc những người tội lỗi, như người thầy thuốc đi tìm bệnh nhân để trị bệnh cho họ. Đây là ý tưởng khiến cho tôi tin rằng trong tư tưởng của Chúa luôn có tên tôi và của mọi người chưa phải là thánh sống.

Mỗi khi tôi đọc Lời Chúa và quyết sống theo Tin Mừng.

Khi Lời Chúa được đọc lên một cách rõ ràng, nghiêm trang, thì Chúa Giêsu hiện diện và ở với chúng ta. Chính vì thế mà tôi biết một cách chắc chắn rằng Chúa luôn hiện diện với tôi mỗi khi tôi đọc Lời Chúa và thực thi các việc mà Chúa đã giảng dạy qua bài giảng trên núi về: “tám mối phúc thật”.

 Gương của thánh Phanxicô khó nghèo, thành Assisi, đã giúp tôi biến đổi cuộc sống, để trở thành người Kitô hữu thực sự. Cuộc sống của Ngài đã giúp tôi tìm ra ý của Chúa trong mọi hoàn cảnh, để yêu mến và phụng sự Thiên Chúa một cách tốt đẹp hơn. Lời của Kinh Hoà Bình đã giúp tôi biết yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi người; Biết đem yêu thương vào nơi oán thù, và đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…

Khi tôi tham dự thánh lễ, hay tham dự giờ Chầu Thánh Thể

Tôi đoan chắc là Chúa ở cùng tôi mỗi khi tôi tham dự thánh lễ và dự các giờ chầu Thánh Thể. Thánh lễ gồm có hai phần: Phụng vụ Lời Chúa và phần Phụng vụ Thánh Thể. Vì thế tôi được nghe Lời Chúa như chính Chúa Giêsu đang nói với tôi về Tin Mừng, và qua Bí Tích Thánh Thể, Linh mục đã làm cho bánh và rượu được trở nên mình và máu của Đức Giêsu Ki-tô. Chính vì thể qua giờ Chầu Thánh Thể, tôi được chiêm ngắm dung nhan của Chúa Giêsu qua tấm bánh đã trở nên thân thể thật sự của Chúa. Chúa Giêsu đang hiện diện giữa chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Khi tôi tham dự những buổi cầu nguyện chung: Chúa hiện diện trong nhà thờ, nơi tư gia hay chính trong gia đình của mình. Vì nơi đâu có hai, ba người họp lại mà cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu, thì Chúa sẽ hiện diện và lắng nghe tiếng ta nài van.

Cũng nên nhắc lại về Á Bí Tích theo bài viết của cha Ngô Tôn Huấn.

“Á Bí Tích (sacramentals): Á bí tích là những vật dụng, hình ảnh hay lời nói có liên hệ đến việc lãnh nhận ơn thánh của Chúa trong Giáo Hội.

Thí dụ: lời ban phép lành của linh mục, giám mục hay của Đức Thánh Cha. Nước thánh là phương tiện thanh tẩy các tội nhẹ. Chén thánh là vật dụng linh mục dùng để dâng Thánh lễ, bình đựng Mình Thánh Chúa để lưu trữ Thánh Thể trong Nhà Tạm… Áo lễ là á bí tích mà Linh mục, Giám mục mặc khi dâng Thánh Lễ. Tràng hạt, các ảnh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ, hài cốt các thánh (Relics), v.v, đều là các á bí tích được tôn kính trong Giáo Hội.

  Á bí tích khác bí tích ở điểm căn bản là bất cứ bí tích nào cũng là phương tiện thông ban ơn Chúa cho người lãnh nhận. Trong khi á bí tích, tự nó  không có mục đích thông ban ơn thánh của Chúa mà chỉ là các dụng cụ hay hình ảnh có liên quan đến việc lãnh nhận ơn Chúa mà thôi.

Thí dụ tràng hạt là phương tiện sùng kính Đức Mẹ và để lãnh nhận ơn Chúa ban qua lời cầu bầu của Đức Mẹ. Cũng vậy, sách kinh hay sách lễ là phương tiện để cầu nguyện và dâng Thánh Lễ để lãnh nhận ơn thánh Chúa ban qua lời kinh nguyện và tham dự Thánh Lễ để lãnh nhận ơn thánh Chúa ban qua Thánh Lễ.

Các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh nam nữ đều là các á bí tích giúp ta nâng hồn lên với Chúa, Đức Mẹ và các Thánh đang ở trên trời mà các ảnh tượng kia là dấu chỉ hữu hình trong trần thế. Vì chỉ là á bí tích, nên ta chỉ phải cúi đầu tôn kính trước ảnh tượng của Chúa, Đức Mẹ và các Thánh, trong khi phải thờ lậy Chúa Kitô hiện diện thưc sự trong bí tích Thánh Thể. Do đó, khi vào nhà thờ, chúng ta phải bái quì trước Nhà Tạm, nơi có đặt Mình Thánh Chúa Kitô để thờ lậy trong khi chỉ cần cúi đầu trước ảnh tượng của Chúa, Đức Mẹ và các Thánh để tỏ lòng tôn kính mà thôi.

Sau hết, một điều phải rõ là các á bí tích, tuy không phải là bí tích, nhưng vẫn đòi hỏi chúng ta phải kính trọng đúng mức. Do đó, không thể có những hành vi bất kính như liệng bỏ hình ảnh Chúa, Đức Mẹ, các thánh vào thùng rác; đổ nước phép xuống cống rãnh; phóng uế hay phạm tội trong nhà thờ, nhà nguyện. Các nơi thánh này là các á bí tích được dùng để cử hành các bí tích và là nơi cầu nguyện đã được thánh hiến, do đó phải tôn kính các á bí tích này cách đặc biệt. Ai phạm tội trong nhà thờ, nhà nguyện (tội dâm ô) thì ngoài tội chính đã phạm còn thêm tội phạm thánh nữa, vì đã không tôn kính nơi đã được thánh hiến để cử hành các nghi thức phụng vụ thánh của Giáo Hội”. (Linh mục Ngô Tôn Huấn).

Ngày nay, giới trẻ đua nhau treo trong phòng những hình các tài tử điện ảnh, thể thao, ca sĩ mà họ cho là thần tượng của họ. Tìm mãi chẳng thấy bàn thờ của Chúa, Mẹ Maria và của thánh quan thầy của họ. Thật đúng theo câu nói: “Lòng người ta ở đâu thì hồn của họ ở đấy”. Bởi thế trong tâm hồn của họ không có chỗ cho Thiên Chúa ngự trị. Vì không ai có thể làm tôi hai chủ, một là phụng thờ Thiên Chúa, hại là làm nô lệ tiền bạc.

Hãy sống trong niềm vui

Sống trong niềm vui là sống trong ơn nghĩa của Chúa. Đó là một niềm vui đem lại bình an cho cuộc sống chúng ta một cách viên mãn và hạnh phúc. Vì chúng ta được Thiên Chúa ở cùng. Người làm chủ, và ngự trị trong tâm hồn của mọi thành viên trong gia đình, trong hội đoàn và trong giáo xứ. Còn về phần chúng ta hãy sống xứng đáng vai trò làm con cái của Thiên Chúa, tuân giữ luật Chúa truyền ban và thực thi mọi điều Chúa đã dậy.

Sống trong niềm vui là được sống trong tình yêu thương của gia đình, bạn bè, thân nhân và của những người quen biết trong họ hàng, xóm làng. Bằng những việc làm bác ái hy sinh của mọi người hay của chính chúng ta, để giúp đỡ cho tha nhân, những người chưa biết đạo lý của Đức Chúa Trời, những người già nua, neo đơn, lỡ bước và khốn cùng. Chúng ta không cần đợi đến khi gần chết thì mới làm phúc bố thí, hay vì biết rằng chúng ta chẳng mang theo được của cải vật chất, quyền bính khi chúng ta nhắm mắt lìa đời. Hãy tạo niềm vui cho những người đang sống xung quanh ta, những người đang cần chúng ta vui vẻ, niềm nở đón tiếp họ và nhất là những ai đang chờ lòng xót thương của chúng ta.

Vui khi chúng ta được tha thứ và biết tha thứ cho người xúc phạm đến ta.

Hãy lắng nghe Chúa Giêsu trả lời các môn đệ: “Thầy không bảo các con phải tha bảy lần. Nhưng dù anh em con có sai phạm đến bảy mươi lần bảy, mà nó tỏ lòng hối lỗi, rồi đến gặp các con để xin tha thứ, thì con cũng phải tha cho nó.”

Sống trong niềm vui là biết dâng hiến cuộc sống của chính mình cho Đức Mẹ. Người hội viên Legio hàng năm vào dịp gần ngày Lễ Truyền Tin (25/3), họ tổ chức Lễ Acies, còn gọi là ngày dâng mình cho Đức Mẹ. Trong thánh lễ, tất cả mọi hội viên bắt đầu là cha Linh Giám và tiếp theo sau là hội viên lần lượt theo hàng một, để tiến lên trước bàn thờ Đức Mẹ, tay phải đặt lên cán của Vexillum, rồi đọc to: “Lạy Nữ Vương là Mẹ của con. Toàn thân con thuộc về Mẹ, và mọi sự của con là của Mẹ”. Sau đó người hội viên cúi đầu chào Đức Mẹ, và trở về chỗ ngồi. Người Legio dâng mình cho Đức Mẹ vào dịp lễ Acies như thế, để nhắc nhở lời hứa trung thành cùng với lời giao ước tận hiến tất cả xác hồn của chính mình cho Đức Mẹ, và hoàn toàn lệ thuộc vào Nữ Tướng của mình trong cuộc chiến đấu với kẻ thù là ma quỷ.

Sống trong niềm vui là được dâng mình cho Chúa. Niềm vui được sống theo ý Chúa hơn là theo ý mình. Vui khi chúng ta dám quên mình, để đi theo tiếng Chúa gọi, chúng ta dám từ bỏ cái tôi của mình để vâng phục bề trên, những người đã chỉ dạy đàng lành cho chúng ta. Thực tế đã cho chúng ta biết qua các con số thống kê của Giáo hội: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Cánh đồng truyền giáo đang cầu mong Chúa sai nhiều thợ gặt, để họ có thể đi đến tận hang cùng, ngõ hẹp mà loan báo Tin Vui cho muôn dân trên khắp toàn cõi địa cầu.

Để kết thúc bài viết sống trong niềm vui của năm 2020 này. Tôi xin mời mọi người đọc câu chuyện vui đầu năm, được trích trong cuốn “Cái cười của Thánh Nhân”. Tác giả là thầy Nguyễn Duy Cần, người đã dạy tôi môn Triết học Đông Phương, tại Đại Học Văn Khoa năm 1970, với tựa đề: Suối Trường Sinh.

“Miya Jima nước Nhật Bản xưa kia là một hòn đảo nổi tiếng linh thiêng. Dân ở đảo này hầu như không ai có quyền chết. Đảo này là một trong ba thắng cảnh đẹp nhất xứ Phù Tang. Toàn đảo có một ngôi đền danh tiếng ở ngay trên bờ biển. Cửa chính của đền hướng ra biển. Những lối đi trong đền dựng không biết bao nhiêu những cây đèn bằng đá, liên tiếp từ cửa này đến cửa khác. Nơi đây có những con nai đi lại nhởn nhơ không chút sợ sệt sự qua lại của những người mộ đạo. Không khí rất trong lành, biện một màu xanh biếc. Bên kia eo biển, xa xa hiện lên những dãy núi tim tím, những cánh buồm rơm vuông vắng của những chiếc thuyền đánh cá phản chiếu ánh sáng mặt trời, trông như những đám lửa nhỏ nổi lên mặt nước.

Trong số dân cư ngụ tại đảo nầy có hai vợ chồng người tiều phu già, hết sức già. Chồng là Yoshida, vợ là Fumi. Họ được cả làng yêu mến vị nể. Ai nấy đều khen sự kiên nhẫn chịu đựng mọi sự mà họ đã trải qua, và ca tụng sự trung thành của hai người đối với nhau trên sáu mươi năm chung sống.

Họ không quen nhau mấy, hồi mà cha mẹ họ quyết định sự hôn nhân. Yoshida chưa bao giờ dám nói chuyện với Fumi, nhưng khi gặp nhau trên bãi biển thì chàng cứ nhìn nàng bằng cặp mắt trìu mến và cứ nhìn theo nàng mãi. Nàng đi thong thả, hơi cúi về phía trước (đó là lối đi của những thiếu nữ có giáo dục). Những ngày hội, chàng thích tìm nàng trong đám đông để thấy khuôn mặt trái xoan của nàng, có cặp má đào đỏ hây, cái áo dài màu ngọc trai xám có thắt ngang một cái thắt lưng lớn, gấu áo viền bằng lụa nâu có thêu những bông cúc trắng.

Fumi cũng không khao khát ngày cưới lắm, vì nàng biết đời nàng đã được định đoạt rồi, và mấy tháng trước ngày cử hành hôn lễ, nàng đội cái “mũ cưới” tượng trưng cho người con gái sắp thành hôn. Bản tính Fumi dịu dàng, mà nàng vẫn sợ trước những sự nghiêm khắc, những sự bất hòa có thể xảy ra giữa vợ chồng. Nàng nghĩ đến câu phương ngôn: “Lòng người đàn ông dễ thay đổi như trời thu”. Nhưng nàng sẽ nhất định giữ được tình yêu của chồng bằng sự kiên nhẫn, dịu dàng và sự âu yếm kín đáo của nàng. Nàng có biết câu phương ngôn: “Nếu người ta ngồi ba năm trên một tảng đá nó cũng sẽ nóng…”

Cuộc hôn nhân của Yoshida và Fumi đã được cha mẹ định đoạt đúng luật lệ cổ truyền, nên được vui vẻ và tồn tại giữa hai vợ chồng. Ngay từ buổi đầu, Yoshida yêu Fumi với tất cả mối tình nồng thắm của tuổi trẻ và Fumi đền đáp lại bằng sự yêu kính chồng rất mực.

Họ được hưởng những lúc vui sướng cũng như những hồi buồn bã. Vui, là họ sinh liên tiếp ba trai. Rất buồn là ba con lúc đã trưởng thành lại bị chết một ngày vì nghề đánh cá. Một hôm ra khơi, biển đã cướp mất cả ba người con. Yoshida và Fumi trong lòng tan nát, cố chịu đựng trước bạn bè, gượng cười ra vẻ thản nhiên. Nhưng khi chỉ có riêng họ, họ khóc sướt mướt. Tay áo họ luôn luôn đẫm lệ đau thương. Họ đặt bài vị ba con trên một cái bàn nhỏ bằng gỗ quý, tại một căn phòng đẹp nhất để ngày đêm tưởng niệm. Mỗi ngày trước bữa ăn, họ đặt thức ăn lên một cái bàn bằng gỗ sơn, đốt hương để khấn các con về thụ hưởng. Những lúc đó họ ngồi hàng giờ để nghĩ tới những người con đã mất.

Bây giờ chỉ còn có hai vợ chồng, họ lấy sự kính yêu nhau làm nguồn an ủi duy nhất. Mỗi người đều muốn làm cho người kia bớt đau khổ, họ tìm đến cách âu yếm lẫn nhau. Dần dần tâm hồn họ bình thản trở lại, và họ trở nên kiên nhẫn. Họ lấy câu tục ngữ sau đây để tự an ủi: “Khi hoa anh đào đã tàn, không phải lấy sự tiếc thương mà làm cho hoa anh đào nở được”.

Giờ đây họ đã già lắm, già như những con đồi mồi cổ kính. Yoshida thì nhăn nheo, khô héo, chân tay run rẩy, Fumi thì tóc và lông mày đã rụng nhẵn.

Người ta gặp họ đi chơi với nhau, bước chân chập chạp, vợ đi sau chồng một chút (vì tập tục như vậy). Thỉnh thoảng đôi vợ chồng già này đi đến tận ngôi đền nguy nga làm cho hòn đảo nổi tiếng khắp nước.

Ở nhà, dù Fumi đã nhiều tuổi, vẫn cố gắng giữ gìn nhà cửa được sạch sẽ, xinh xắn. Bà ưa màu trắng của bức tường bằng giấy và ánh sáng của chiếc chiếu mới với một ý nghĩ rất tế nhị hòa hợp tình cảm, bà thường thay đổi sự trang trí tùy theo thời tiết, tùy theo từng mùa hoặc tùy theo màu sắc của từng ngày, tùy theo nỗi buồn trong tâm tưởng khi treo những bức tranh lụa trên tường, một trong cái bình bằng đồng bà cắm ba cành hoa rất khéo léo mỹ thuật.

Đôi khi cạnh lọ hoa, bà đặt hai pho tượng nhỏ, tượng trưng cho hai ông bà già đang quét lá thông. Đó là tiêu biểu tình nghĩa vợ chồng những cặp vợ chồng già được ví như hai cây thông đã mật thiết mọc liền thân với nhau đến nỗi trông như một và cùng già bên nhau.

Cũng có khi Fumi đặt trên bàn một pho tượng sơn, tượng một vị thần mà bà thích nhất, một vị thần rất ngộ nghĩnh, có bộ râu dài, đội một cái mũ kì lạ, tay cầm một cái gậy, còn tay kia cầm một quyển kinh, đó là một trong bảy vị linh thần, mà là vị thần tượng trưng cho hạnh phúc của tuổi già.

Yoshida và Fumi kể là đôi vợ chồng già sung sướng, biết gác ra ngoài những nỗi khổ cực của loài người để hưởng sự yên tĩnh và thương yêu lẫn nhau.

Nhưng dù sao họ vẫn có một mối sầu vương vấn. Bây giờ họ đã quá già, lòng luyến tiếc thời trẻ trung xưa kia đã quá xa. Người nào cũng nghĩ rằng: Khi mà một trong hai người chết đi, người còn sống sẽ đau khổ biết chừng nào, cô đơn biết chừng nào! Giá bây giờ họ còn trẻ cả hai, họ sẽ hưởng được một cuộc sống lâu dài bên nhau. Đời sống họ sẽ trở nên thơ mộng biết bao, êm đềm biết bao!…

Một buổi thu, trời trong sáng, Yoshida như có một cảm hứng huyền bí gì, đi về phía rừng một mình. Nơi đây, trước kia ông đã làm nghề đốn củi rất cần cù, bây giờ trước khi chết muốn nhìn lại cây cối mà ông đã sống gần suốt đời.

Nhưng khi đến nơi, ông không còn nhận ra phong cảnh xa xưa kia nữa. Ngay cửa rừng ông không còn thấy cây Phong to lớn lá đỏ của mùa thu, nổi bật giữa đám lá thông xanh thẫm. Ông không nhận thấy cả cái suối nước trong, trong một cách lạ lùng, màu xanh lơ…

Sau khi đã ngồi, ông thấy khát nước, thấy có một dòng suối trong xanh ngay cạnh lối đi. Với hai lòng bàn tay, ông bốc nước lên, uống thong thả…

Nào ngờ? Khi nhìn bóng mình trong suối nước, ông thấy thay đổi hết: Tóc đã trở nên đen nhánh, mặt hết nhăn nheo, trong người các bắp thịt có một sức mạnh đang vươn lên. Yoshida đã trẻ lại như người mới hai mươi tuổi, ông đã vô tình uống được nước suối “trường sinh”.

Khỏe mạnh, tươi vui, đầy nhựa sống, ông già Yoshida bây giờ là một chàng thanh niên trẻ trung yêu đời. Anh ta sung sướng chạy về nhà.

Bà già Fumi trông thấy một thanh niên đẹp trai đi vào nhà. Bà thốt lên một tiếng: “Ồ” rồi từ ngạc nhiên đến sợ hãi, làm bà chết đứng như người mất trí.

Yoshida vội an ủi vợ và giải thích rõ ràng sự may mắn vừa đến với anh.

Bây giờ đến lượt bà lão đáng thương vừa cười vừa khóc vì sung sướng. Sáng mai bà cũng sẽ ra cái “suối tiên” đó. Uống nước rồi, khi về, bà cũng sẽ trẻ lại như một thiếu nữ hai mươi.

Hai vợ chồng sẽ lại sống cuộc đời tươi đẹp, với bao sự vui thú của tuổi trẻ và sẽ hài lòng khi nghĩ đến những kỷ niệm đã qua.

Sáng hôm sau khi nắng hồng mới hé, sau làn không khí trong trẻo. Fumi vội vàng đi ra cái suối nước trong… Yoshida ở nhà, anh ta đợi, không có gì sốt ruột. Anh biết rằng phải mất độ hai giờ cho một người già để đi đến suối, và lúc về sẽ mau hơn.

Vậy mà đã hơn hai giờ, Fumi vẫn chưa về. Yoshida ngạc nhiên: Từ suối về có bao xa, mà sao lâu đến thế? Rồi những giờ phút trôi qua, sự sốt ruột của anh càng lúc lại càng tăng.

Thời giờ cứ tiếp tục trôi đi một cách tàn nhẫn, chậm chạp. Đã ba giờ qua, bốn giờ qua, năm giờ qua… Sự gì đã xảy ra?

Yoshida không còn kiên nhẫn hơn được nữa, vì sự sợ hãi cứ tăng dần lên. Anh đóng cửa lại rồi chạy ra rừng. Anh chạy vội đến chỗ “suối tiên”. Anh nghe thấy nước chảy hòa lẫn tiếng lá reo trên cành. Chú ý im lặng tìm kiếm một vùng rộng, mà vẫn không thấy vợ đâu, anh bắt đầu thất vọng.

Bỗng một tiếng kêu, một tiếng rên, có lẽ một con vật bị thương… làm cho anh chú y.

Yodhida đã đến gần bờ suối… Khi đến tận bờ, anh đứng lại, ngạc nhiên trông thấy giữa đám cỏ cao, có một bé con… một đứa bé gái độ chừng vài tháng, chưa biết nói, chỉ giơ tay về phía anh với vẻ thất vọng…

Yoshida bế đứa bé lên. Nhìn vào mắt đứa bé, cặp mắt lạ lùng! Cặp mắt đó làm cho anh nghĩ đến những kỷ niệm xa xôi của đời anh. Sao lại có cặp mắt giống hệt cặp mắt vợ anh một cách lạ lùng đến thế? Anh đã nhận được cặp mắt của người vợ anh: Khóc khi anh buồn, cười khi anh vui. Lòng anh xúc cảm mạnh.

Rồi đột nhiên anh hiểu được tất: À, ra chính đứa bé này là vợ anh, là bà vợ già của anh, là Fumi đáng thương đã trẻ lại. Và đã trẻ quá, vì nó muốn trẻ lại hơn chồng, nên đã uống quá độ, nên đã biến thành một đứa hài nhi…

Yoshida thở dài, bồng đứa nhỏ lên và mang nó sau lưng, như bà mẹ thường địu con… Anh buồn bã trở về, nghĩ rằng, từ đây anh sẽ phải như một người cha săn sóc và nuôi dưỡng dạy bảo đứa bé mà trước đây là vợ mình: Người bạn trung thành của anh trên đường đời.”

Kính chúc mọi người một năm mới an khang, thịnh vượng, tràn đầy hạnh phúc trong ơn nghĩa của Thiên Chúa.