Sự Sống Sau Khi Chết

Thuỵ Miên.

Tháng 11 có một vai trò quan trọng đối với người tín hữu, mà ít ai không biết đến. Đó là tháng cầu nguyện cho các linh hồn, trong đó có tổ tiên, ông bà, cha mẹ và tất cả mọi người thân quen trong gia tộc đã quá cố.

Theo lịch sử của Giáo Hội, thánh Ôđilon, viện phụ thứ năm của đan viện Cluny dòng Biển đức đã ấn định dành ngày 2 tháng 11, sau ngày 1/11 Lễ kính Các Thánh, để cầu nguyện cho tất cả các tín hữu đã qua đời, qua việc dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện và làm việc bác ái.  Nhờ uy tín của các đan viện Cluny, tục lệ này sớm lan tràn khắp châu Âu từ thế kỷ XI.

Ngay từ thủa còn bé, lũ trẻ chúng tôi thường được bố mẹ sai đi dọn dẹp mồ mả ở ngoài nghĩa trang cho ông bà, vào những ngày cuối tháng 10, để chờ đón cha xứ ra ngoài nghĩa làm lễ cầu hồn nhân vào mùng 2 tháng 11 hàng năm. Bọn trẻ con chúng tôi thích thú và hăng hái nhổ cỏ, vì có dịp tha hồ mà bắt dế. Những con dế than đen, gáy khoẻ, và đá nhau rất mạnh. Chúng thường làm ổ ở ngoài nghĩa địa, để ban đêm chúng hát cho mọi người nằm ở đấy nghe cho vui tai.

Ai cũng phải chết

Con người khi được sinh ra thì đã có ngày phải chết, các cụ thường nói bốn chữ: Sinh, lão, bệnh, tử gắn liền với số mệnh của loài người. Thế nhưng, người ta sẽ chết như thế nào đây, một là chết lành, hai là chết dữ.

Giáo xứ Bùi Vĩnh vào năm 1958, ở mặt tiền của thánh đường có hai bức tranh đúc bằng thạch cao: Một bức diễn tả người chết lành: có một người bệnh đang được Linh mục xức dầu, có nhiều thiên thần đứng vây chung quanh, có thiên thần cầm kèn thổi nhạc, có thiên thần ca hát chúc tụng Thiên Chúa thay cho người bệnh. Còn bức kia  thì có người bệnh quay mặt đi trong khi Linh mục đang cầm sách đọc, đầu giường bệnh nhân có vài thằng quỷ, đen đủi đang ra sức lôi kéo cái giường đi về hướng chúng nó. Tôi còn nhỏ nên không hiểu ý nghĩa của hai bức tranh ấy, nên tôi hỏi bố tôi lý do cha xứ lại cho tạc hai bức tranh như thế. Bố tôi giải thích vắn gọn rằng: “Ai sống, giữ đạo và làm theo Lời Chúa dạy, thì khi chết sẽ được các thiên thần đón về trời, hưởng nhan thánh Chúa. Còn ai không giữ Lời Chúa dạy, làm điều tội lỗi thì khi chết sẽ bị quỷ kéo xuống hoả ngục”. Tôi tin và rất sợ phạm tội

Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi, một mai sẽ trở về bụi tro”. Ngày nay, người ta thường mang xác đi thiêu rồi đem về nhà thờ, để con cháu, người thân dễ gặp gỡ khi đi lễ, cầu nguyện cho linh hồn người quá cố.

Còn linh hồn của họ, thì sau khi chết sẽ đi về nhà Chúa mà chịu phán xét riêng, về các việc họ đã làm hay thiếu sót khi còn sống ở trần gian. Ngoại trừ những bậc thánh nhân còn ngoài ra thì chẳng mấy ai mà không mắc phạm lỗi lầm. Ngoài ra còn có một loại người nữa, họ đã chối từ lòng thương xót của Chúa và theo lời xúi dục của ma quỷ, để đi vào nơi tối tăm, tách biệt với Thiên Chúa đời đời.

Những người giáo dân như cha ông chúng ta, vì thân xác yếu đuối, hay dễ bị cám dỗ bởi xác thịt, ma quỷ và thế gian cho nên linh hồn của họ sau khi chịu phán xét riêng, được đưa vào nơi chốn luyện hình để được thanh tẩy linh hồn cho trong sạch trước khi được hưởng nhan thánh Chúa muôn đời.

Vì thời gian sống ở trần gian đã hết, hay nói khác đi là thời gian để mọi người làm việc lành, tích đức đã chấm dứt, cho nên họ chỉ còn biết mong chờ con cháu, người thân quen và cả những người có lòng đạo đức giúp họ làm việc đền tội. Qua những ơn ích của các việc làm bác ái, hy sinh và nhất là những ơn ích do thánh lễ mà chúng ta xin cầu nguyện giúp cho các linh hồn ấy, mà họ mau chóng sớm được về hưởng nhan thánh Chúa.

Việc tưởng nhớ những người qua đời được gặp thấy ở nhiều tôn giáo, nhiều dân tộc, với nhiều cách và ý nghĩa khác nhau. Ngay tại Việt nam, chúng ta thấy có nhiều sắc dân châu Á như người Kinh, người Thượng, người Tàu, Ấn, Nhật… Còn về tôn giáo thì gồm: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài, Hoà hảo. Tuỳ theo tục lệ của làng xã, địa phương và tín ngưỡng mà cách tưởng nhớ được tổ chức khác nhau, thí dụ như có nơi tổ chức lễ giỗ 49 ngày, 100 ngày, hay 1 năm, lễ mãn tang .

Có nhiều làng người ta tổ chức ăn uống sau khi đã đưa đám, để gọi là trả lễ, tri ân những người đã giúp đỡ nhà đám. Có nơi thì tin rằng hương hồn của người quá cố vẫn còn hiện diện với con cháu, vì thế họ tổ chức cúng giỗ để mời cha mẹ về tham dự những biến cố quan trọng của gia đình như đám cưới của con cháu. Có nơi tổ chức cúng giỗ để cung cấp lương thực như mâm xôi, con gà và đồ dùng bằng giấy, tiền mã cho người quá cố, bởi vì người ta tin rằng những người bên kia thế giới cũng có những nhu cầu và sinh hoạt giống như ở đời này. Người bên đạo Phật, thì con cháu tổ chức lễ cầu siêu cho người quá cố. Dĩ nhiên, không phải tất cả các quan niệm về lễ nghi này đều phù hợp với đức tin của người Công giáo chúng ta. Có thể nói chung là vào những dịp lễ giỗ thì con cháu có dịp gặp gỡ nhau, để ôn lại công đức của người qua cố, để bày tỏ lòng ngưỡng mộ, tri ân và đồng thời để con cháu tỏ tình đoàn kết, yêu thương, và nâng đỡ nhau hơn. Vì những người quá cố nếu là bậc cha mẹ, ông bà thì đều mong muốn con cái của họ yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau suốt đời.

Quan niệm của người Công Giáo Việt Nam về việc cầu nguyện cho người thân qua đời như thế nào?

Ảnh hưởng văn hoá, phong tục, làng xã và tín ngưỡng về việc tưởng nhớ người quá cố. Chúng ta hẳn có lẽ ai cũng biết sự khác biệt về việc cầu nguyện cho người thân qua đời của người Công giáo, so với người ngoài đạo. Thí dụ như xin lễ, viếng xác, đọc kinh cầu cho linh hồn vừa qua đời. Khi quan tài còn quàn tại nhà thì hội đoàn đến chia buồn và đọc kinh suốt ngày. Sau khi đã đưa đám ma.nhà đám mời bà con, bạn bè trong thôn xóm đến nhà đọc kinh cầu nguyện cho người qua đời thêm 3 tối nữa. Khi người qua đời được 100 ngày thì lại tổ chức đọc kinh và xin lễ cầu cho linh hồn người quá cố. Có nơi nhà đám nhận vòng hoa và tiền phúng điếu; Có nơi thì nhà đám từ chối, miễn nhận vòng hoa và tiền phúng điếu của mọi người.

Ảnh hưởng tuỳ theo sự hiểu biết và cách sống Lời Chúa.

Phần đông khi còn ở Việt Nam, chúng ta sống và sinh hoạt theo xứ đạo, tuỳ theo các cha tổ chức và truyền dạy như dâng những việc làm hy sinh, bác ái, cầu nguyện, và để hợp một ý với các linh mục dâng thánh lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Có giáo xứ, giáo dân muốn xin lễ cho đúng ngày giỗ thì phải trình cha trước cả tháng, vì cha chỉ dâng thánh lễ cho một người trong một thánh lễ mà thôi. Có nơi thì cha xứ dâng một thánh lễ mà cầu nguyện cho vài chục linh hồn theo ý nhiều người xin.  Có người thì xin lễ giỗ và đòi cha làm lễ vào đúng ngày thì mới chịu. Có người mời nhiều cha về đồng tế lễ, với hy vọng Chúa sẽ nhận lời nhanh hơn. Có lẽ vì chưa có cha nào giảng thuyết về cách xin lễ, cầu nguyện cho các linh hồn như thế nào để được Chúa nhận lời, cho nên mỗi nơi mỗi khác. Cha mẹ nuôi con công lớn bằng trời, bằng biển, thế mà đạo làm con chỉ trả ơn bằng cách xin lễ, cầu nguyện, đền tội giùm cho các ngài, mỗi năm một lần mà thôi ư?

Ảnh hưởng theo Đức Tin.

Tin hay không tin vào sự sống sau sự chết, cũng làm cho giới trẻ theo chủ thuyết khoa học ngày nay bỏ bê việc thờ phượng Thiên Chúa.

Họ cho rằng chết là hết, và vì thế mà họ không còn quyến luyến gì với người đã qua đời. Trong những vở kịch hài, có vở tuồng diễu người đàn bà goá còn trẻ, vở kịch bắt đầu bằng cảnh người vợ ra ngoài nghĩa địa, tay cầm cái quạt phe phảy trên nấm mộ, miệng thì hát rằng: “Anh hỡi, anh ơi! Anh có linh thiêng thì hãy chỗi dậy, đây mâm xôi, đây con gà. Em mời anh xơi rồi cho phép em đi lấy chồng”. Mâm xôi vẫn còn khi người ấy ra về, còn con gà thì chỉ chốc lát biến mất bởi lũ trẻ chăn bò ngoài nghĩa địa. Linh thiêng thật vì chỉ vài tháng thì chị ta đã có người tình mới.

Có người lại cho Chúa nhân lành vô cùng, tội trọng mà Chúa còn tha, thì huống gì nếu họ chỉ phạm tội nho nhỏ, chút xíu thì Chúa đâu có bắt nhốt linh hồn họ vào nơi thanh luyện làm gì.

Thực ra, luyện ngục là nơi mà thời gian không còn được tính bằng năm, bằng tháng như ở trần gian. Các linh hồn ấy không còn làm được điều gì khác để đền tội nữa nhưng phải trông chờ vào mọi người thân quen, hay người có lòng rộng lượng cầu cho các linh hồn còn lưu đày ở nơi thanh luyện.

Giới trẻ ngày nay được chia làm 3 loại: Loại được dạy dỗ giáo lý và sống giữ đạo vững vàng; Loại thì sống đạo cách ơ thờ, lúc vui thì đi lễ, lúc buồn thì không; Loại cuối cùng là những thành phần bỏ đạo, đi theo đạo khác, vì họ cho rằng giáo hội buộc họ phải giữ nhiều giới răn quá, khiến họ bị mất tự do.

Thế nhưng, thực tế thì chết không phải là hết, chết là một sự biến đổi vào một cuộc sống mới. Cuộc sống sau sự chết sẽ tuỳ thuộc vào những điều lành phúc đức mà họ đã làm trong thời gian còn sống nơi trần gian. Xin mời mọi người đọc bài phúc âm của Thánh Gioan (11, 38-44) để tăng thêm niềm hy vọng và hiểu biết về quyền năng của Chúa qua phép lạ Ngài đã làm cho ông Lazarô sống lại, sau khi ông đã chết được 3 ngày. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã nói: “Ta là sự sống lại” và điều này đã chứng minh bằng cái chết của chính Ngài và sau 3 ngày, Ngài đã sống lại thật. Đấy là chính là điều mọi tín hữu chúng ta đã tin về việc Chúa Giê-su Phục Sinh.

Qua thập giá đau khổ, và qua cái chết, chúng ta sẽ được vinh quang và sống lại với Đức Ki-tô. Nếu chúng ta cùng vác thập giá của chính mình mà đi theo Chúa Giê-su đến chặng cuối cùng của cuộc đời mình, thì chúng ta sẽ được sống lại trong ánh sang Phục Sinh của Chúa Giêsu trên Nước Trời. Vì Người đã xin cùng Chúa Cha chp chúng ta được ở cùng với Người trên thiên đàng.

Gần đây tôi gặp một người hàng xóm, ông ta có thể nhìn khuôn mặt của người thân quen và nói cho họ biết, ai là người có vùng hào quang sáng tỏa ra chung quanh đầu. Tôi nghe nhưng không thấy gì làm lạ, vì người hiền lành, hay các thánh nhân trong truyện các thánh thường được Chúa cho chiếu toả những nhân đức bằng hào quang sáng rực rỡ chung quanh đầu.

Có một đêm tôi nằm mơ thấy rất nhiều người tín hữu đã qua đời. Họ đông lắm và đang đứng xếp hàng chờ Chúa gọi tên vào Nước Chúa. Trên trán của họ đều có một cây thánh giá nhỏ sáng rực rỡ, nhưng độ sáng thì khác nhau, những người đứng hàng đầu thì thánh giá thật là sáng, còn những người đứng ở các hàng đàng sau thì độ sáng yếu dần đi.  Tôi lại thấy cùng ở phía ấy có đoàn người mang thánh giá màu tro xám trên trán, khuôn mặt họ như đang khắc khoải, mong đợi điều gì đó đến với họ.

Tôi quên khuấy đi mất giấc mơ ấy, cho đến ngày 23/9/17 vừa qua. Khi tôi đi tham dự lễ giỗ 100 ngày của một người cùng xứ Bùi Vĩnh. Tôi đã đến sớm hơn giờ lễ, nên tôi vào nhà thờ đọc kinh cầu cho linh hồn ấy. Lúc sinh tiền, ông là người đã sống và làm nhiều việc lành phúc đức cho bà con trong giáo xứ, ông là tấm gương sống đạo cho con cháu, và cho nhiều người trong xứ về việc tông đồ giáo dân, trong số đó có tôi.

Tôi nhìn vào bức ảnh của ông trong nhà thờ hôm ấy. Bỗng nhiên, tôi thấy trán của ông có cây thánh giá sáng chói, và tôi giật mình và nhớ lại giấc mơ trong quá khứ. Tôi xua đuổi ý nghĩ vẩn vơ bằng cách cho rằng: Có lẽ, tại con cháu chụp hình cho ông rất hoà hợp màu sắc và ánh sáng, nền của bức hình là màu xanh da trời nhạt, cộng thêm ánh đèn của nhà thờ chiếu vào, đã khiến cho tôi nhìn thấy cây thánh giá ở trên trán của ông. Đầu cây thánh giá bắt đầu từ đỉnh đầu của ông, cây ngang nằm ở trán, và chân thánh gía nằm ở vị trí cuối xương ức. Tôi lại nghĩ đến giấc mơ và cho rằng ông là người tốt lành, nên sau khi đã được Chúa phán xét riêng, thì ông đã được ghi dấu ấn Thánh Giá Chúa Ki- Tô trên trán. Tôi cười thầm và sung sướng kêu lên: “Xin ông nhớ đến tôi với nhé”.

Sau thánh lễ giỗ hôm ấy. Khi về đến nhà tôi lại miên man suy nghĩ về những dấu thánh giá mà tôi đã được ghi dấu khi: chịu phép Bí Tích Rửa tội, chịu phép Bí Tích Thêm Sức, và hàng năm vào ngày Thứ Tư Lễ Tro, tôi được ghi dấu thánh giá trên trán bằng than tro. Tôi vào phòng rửa mặt để soi gương, tôi cố nhìn vào trán của mình thật kỹ để tìm thánh giá, nhưng tôi không nhìn thấy gì cả. Trán của tôi vẫn trơ ra như gỗ, đá của kẻ cứng lòng.

Ôi! Lạy Chúa. Tại sao tôi là không tìm thấy dấu ấn nào cả? Chẳng lẽ, tôi không phải là con cái của Thiên Chúa ư?  Hay tại cách sống đạo của tôi bây giờ đã quá ư lạnh nhạt với Chúa.

Ngay cả dấu thánh giá đen của mùa Chay cũng chẳng thấy, có lẽ vì tôi chẳng có gì gọi là ăn năn, sám hối hay sửa đổi cuộc sống của mình hay sao?

Tôi đã trở nên là một phần tử khiến cho thế giới này trở nên sa đoạ hơn, vì tôi sống mà chẳng bao giờ sống cho Chúa hay cho tha nhân, và đặc biệt là tôi đã chẳng làm gương sáng cho giới trẻ noi theo.

Giấc mơ trong quá khứ, đã cho tôi nhìn thấy đoàn người có dấu thánh giá sáng chói loà trên trán của họ, và phía sau họ là một đoàn người có dấu thánh giá đen in trên trán. Tất cả được sắp xếp đứng về một bên của Chúa Giê-su Phục Sinh. Phía đối diện, có nhiều người xếp hàng mà trên trán của họ chẳng thấy ghi thánh giá nào cả, mặt mũi của họ đen tối đến nỗi tôi chẳng nhìn rõ mặt.

Họ là ai thì tôi không biết, nhưng ngay bây giờ tôi soi mặt mình vào trong gương, tôi cũng chẳng thấy dấu ấn ấy. Tôi sợ hãi và vội làm “dấu kép” trên trán của tôi. Vì tôi hy vọng vào Lời Chúa phán: “Nếu ai dám xưng danh Chúa ra trước mặt thiên hạ, thì Chúa cũng sẽ tuyên xưng họ trước mặt của Chúa Cha trên trời”. Tôi thì thầm kêu lên rằng: Lạy Chúa! Xin ghi dấu ấn khổ giá của Người trên trán của con, trong trí óc, trong tâm hồn của con. Tôi lại nhủ thầm, có lẽ mình còn đang sống ở trần gian, tâm hồn dễ thay đổi, có lúc thì để Chúa ngự trị tâm hồn, có lúc thì tôi lại đuổi Chúa ra khỏi nhà linh hồn, thì làm gì có dấu thánh giá ở trên trán như những người đã mãn đời.

Dù ai đó tin vào Chúa hay không, thì sự chết cũng sẽ đến và chấm dứt sự sống của mọi người trên đời này. Sự chết tuyên bố chiến thắng tất cả, vì ai cũng phải chết. Chính vì thế mà tôi quyết tâm từ bỏ những thứ xa hoa, không cần thiết cho đời sống vật chất, tâm linh ngay tự bây giờ.

Vâng đúng thế, vì khi người ta đã chết, thì cũng chỉ một vài vòng hoa, một vài vành khăn: trắng, vàng, đỏ, và ít nhiều giọt nước mắt của người thân. Nào ai có mang theo được của cải vật chất gì về trời đâu.

Tạo khổ cho người thân hơn nữa mà làm chi, khi ta đòi được nằm trong cỗ quan tài mắc tiền, hay đám ma thật to, có nhiều cha dâng lễ cho sang trọng. Thân phận tôi lúc ấy chỉ còn là cái xác, nặc mùi thối rữa mà thôi. Nếu không mau đem chôn thì có thể hại đến sức khoẻ của nhiều người. Ôi thân phận mỏng dòn của con người là thế ấy.

Linh hồn của tôi có mang thể theo về trời, để chịu phán xét riêng là những công đức và những lỗi phạm, những điều thiếu xót đã không thực hiện lúc tôi còn sống ở thế gian mà thôi.

Cầu nguyện cho các linh hồn là việc giúp người, giúp mình. Vì cầu nguyện cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi mọi tội lỗi, là một việc làm thánh thiện và có giá trị cứu rỗi. Hơn nữa đó là việc tốt lành vì nay người, mai đến lượt ta.

Việc cầu nguyện xin lễ cho người quá cố còn giúp cho giới trẻ ý thức được việc phải làm điều lành, lánh xa sự dữ, phải làm phúc bố thí, hy sinh, hãm mình. Vì khi chúng ta phạm tội và dục lòng ăn năn, hối cải và đi xưng tội thì tội ấy được tha, nhưng vạ thì phải đền. Chúng ta phải đền tội thế nào cho xứng, để được sạch tội và sau khi chết thì linh hồn mới đáng được về hưởng nhan thánh Chúa đời đời.

Giới trẻ theo khoa học và sẽ đặt ra câu hỏi: Linh hồn người quá cố đã phạm những tội gì mà sau khi họ chết lại phải chịu thanh luyện trong nơi luyện tội? Họ sẽ tự đi tìm ra nguyên nhân, và chính sự tìm tòi nguyên nhân ấy, mà họ tránh xa dịp tội, và các thanh niên ấy sẽ thương và cầu nguyện cho các linh hồn nhiều hơn.

Cầu nguyện liên lỉ, sẽ giúp cho con cháu ý thức ra được việc phạm tội qua lời nói, việc làm, trong tư tưởng cùng các điều thiếu xót mà các bậc tiền nhân đã mắc phải. Câu chuyện trong kinh thánh về người giàu có và ông già ăn mày Lazaro, sẽ giúp cho chúng ta hiểu hơn về những nỗi thống khổ của các linh hồn. Họ muốn nhắc nhở con cháu, về những gì họ còn thiếu sót khi còn sống ở nơi gian trần. Yêu thương các linh hồn cần phải thực hiện bằng các việc làm bác ái và chia sẻ cho tha nhân. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã nói cùng mọi người đi theo Người rằng: “Không phải những ai chỉ kêu: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào nước trời, nhưng chỉ những ai biết lắng nghe Lời Chúa và thực hiện các điều Người đã giảng dạy, thì mới được vào Nước Trời”.

Cầu nguyện cho các linh hồn quá cố, còn là sự hiệp thông quan trọng giữa hai Hội thánh của những người còn đang sống ở trần gian và của các linh hồn nơi luyện ngục. Bạn muốn trả ơn nghĩa cho ông bà, tổ tiên ư? Xin hãy cầu nguyện và làm việc đền tội thay cho họ. Chính vì thế mà việc cầu nguyện cho người thân quá cố, không phải chỉ là mỗi năm một lần vào ngày mùng 2 tháng 11, nhưng phải là cầu nguyện và tưởng nhớ đến họ hàng ngày. Chính điều này giúp chúng ta thấy những linh hồn của người thân trong gia đình vẫn còn sống mãi trong trí óc của chúng ta.

Cầu nguyện chân thành là sự trả ơn chân thật nhất dành cho các linh hồn ông bà cha mẹ, tổ tiên. Món qùa cao quý nhất mà mọi linh hồn đang chờ đợi đó là những thánh lễ Misa cùng với sự hãm mình tránh xa dịp tội, hy sinh của chúng ta dâng lên Thiên Chúa làm của lễ đền tội thay cho các linh hồn trong nơi thanh luyện.

Tưởng nhớ đến những người đã quá cố là cách chúng ta rút tỉa được những kinh nghiệm sống của các bậc tiền nhân, học biết được những đau khổ mà họ đã phải chịu đựng khi còn sống ở trần gian, và biết ơn họ về những công ơn mà chúng ta được hưởng do lòng rộng lượng của họ. Các bậc tiền nhân đều mong muốn con cái của họ yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau như câu nói: “Chị ngã thì em nâng”. Hay giúp đỡ người thân quen, khi họ bị sa cơ thất thế như câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Cũng như thánh Gioan đã viết rằng: “Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21).

Tưởng nhớ đến các linh hồn, sẽ giúp chúng ta biết cách sống theo ý Chúa muốn: Mến Chúa, yêu người cùng biết đem Tin Mừng chia sẻ cho muôn dân. Mến Chúa thì chúng ta sống theo đường Chúa đi và làm theo Lời Người chỉ dạy: Thờ phụng Thiên Chúa và trung thành với giao ước của Người; Thảo hiếu với cha mẹ qua sự phụng đưỡng chăm sóc cho các ngài khi họ còn sống, và khi họ đã qua đời thì cầu nguyện cho họ và luôn làm theo các lời khuyên mà chúng ta đã được dạy bảo; Yêu người là biết chia cơm, sẻ áo cho người bần cùng, thăm viếng kẻ tù rạc, ốm đau. Không tham lam, ham muốn của người. Không tà dâm, không giết người, không trộm cắp, không gieo oán thù. Để hiểu rõ hơn về tình yêu tha nhân, hằng ngày chúng ta nên suy gẫm đoạn văn của thư thánh Gioan: “Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1Ga 3,1419).

Tháng 11 giúp cho chúng ta hồi tâm và suy nghĩ về cách sống của chúng ta đối với anh em, họ hàng và những người sống xung quanh chúng ta. Hãy sống cho xứng là người con của Thiên Chúa: Hiền lành, khiêm nhường, chậm giận và giàu tình yêu thương tha nhân. Về phía những người quá cố, chúng ta siêng năng đi tham dự thánh lễ cùng dâng mọi việc lành phúc đức mà chúng ta tích góp được làm của lễ xin Thiên Chúa tha phần phạt cho các đẳng linh hồn đang còn ở nơi thanh luyện, đưa họ về hưởng nhan thánh Chúa cùng với cộng đoàn các thánh trên trời.

Ước mong những lời nguyện cầu, những việc hãm mình, hy sinh cùng với những thánh lễ mà mọi người tham dự trở thành những trận mưa hồng phúc, sớm đem các linh hồn tín hữu còn đang ở nơi thanh luyện về hưởng nhan thánh Chúa trên Nước Trời. Amen.

Thuỵ Miên.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.