Thanh Thiếu Niên Với Hoạt Động Tông Đồ – Trang Học Sinh – SỐ THÁNG 8, 2018

Thầy giáo trường Dòng

Các em học sinh thân mến, tháng 8 lại đến với chúng ta. Xin mạn phép nói về đời sống đạo của người thanh thiếu niên Công Giáo với các em. Mong những lời đề nghị trong bài, sẽ góp được phần nào trong tiếng chuông cảnh tỉnh các em trở về với sự thờ phượng Thiên Chúa là Chúa duy nhất của chúng ta.

Một trong 3 nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến, thì Đức Mến là trọng nhất. Người Công giáo của chúng ta thường mang một đồng phục, để mọi người nhận biết chúng ta. Đó chính là đức Mến, hay còn gọi là nhân đức Bác ái. Ngày nay, thế giới đang có khuynh hướng thờ ơ trước những đau khổ của tha nhân, hay nói rõ hơn là người ta thay vì an ủi, giúp đỡ, thì họ lại bóc lột ức đáp kẻ yếu đuối.

Là một chứng nhân của Chúa Giê-su Phục Sinh. Xin các em cùng tôi đọc bài viết về Đức Ái của cố Tổng Giám Mục Bùi Văn Đọc đã viết, mà tôi xin phép được trích trong trang web site của Simonhoadalat. com về bài viết:

ĐỨC ÁI

  1. BÁC ÁI LÀ YÊU THƯƠNG GIỐNG NHƯ THIÊN CHÚA.

Thiên Chúa là “Lòng Mến”, Thiên Chúa là “Tình Yêu”. Ai yêu thương thì sinh bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa (1Ga 4, 7).

Nếu chúng ta không yêu thương, thì chúng ta không biết Thiên Chúa và không có sự sống đời đời.

Nhưng tình yêu nơi chúng ta không bắt nguồn từ chúng ta, mà bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước và đã sai Con của Người đến làm lễ hy sinh vì chúng ta (1Ga 4, 10).

1Ga 4, 11 nhấn mạnh: “Thiên Chúa đã yêu mến chúng ta như thế, thì chúng ta cũng phải yêu mến nhau”. Nếu chúng ta yêu mến nhau, Thiên Chúa mới lưu lại trong chúng ta. Dấu hiệu chúng ta lưu lại trong Người, và Người ở trong chúng ta, đó là Thánh Thần mà Người đã ban cho chúng ta (1Ga 4, 12 – 13).

Phaolô cũng khẳng định: “Lòng Mến của Thiên Chúa đã được đổ xuống lòng ta nhờ bởi Thánh Thần Người đã ban cho ta” (Rm 5, 5).

  1. Yêu thương như Thiên Chúa (1Ga 4, 11), yêu thương như Đức Giêsu (Ga 15, 12) là những đòi hỏi quá lớn đối với chúng ta. Chúng ta không cách nào thực hiện được. Chỉ có một cách duy nhất là nhờ Chúa Thánh Thần, là “sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa”, của Đức Kitô, ở trong chúng ta, yêu mến trong chúng ta. Chúng ta yêu mến nhờ Thánh Thần, bằng tình yêu của Thánh Thần. Đó mới là “đức ái siêu nhiên”. Và đó là điều Thiên Chúa muốn.
  2. Chỉ khi nào có một cái nhìn siêu nhiên như thế về đức ái, chúng ta mới hiểu được Bài Ca Đức Ái trong 1Cr 13, 1 – 13.

Trong bài ca này, một đàng Phaolô dùng ngôn ngữ rất siêu nhiên, phải có quan điểm siêu nhiên mới hiểu được :

Nếu có mọi thứ tài, mà không có lòng mến, thì chỉ như thùng rỗng kêu to (c. 1).

Nếu có nhiều ơn, cả những ơn trọng đại, mà không có lòng mến, thì vẫn là số không. Nếu cho đi tất cả, hy sinh mạng sống, mà không có lòng mến, cũng chỉ là hư vô. Lòng mến ở đây phải hiểu theo nghĩa hoàn toàn siêu nhiên, và đó là Tình Yêu của Thiên Chúa trong chúng ta, là Thánh Thần của Thiên Chúa trong chúng ta.

  1. Nhưng đàng khác, khi kê khai những đặc tính của lòng mến (khoan dung, không ghen tuông, không ích kỷ, không tự mãn, kính tin, trông cậy, kiên nhẫn, không chấp nhất, không ba hoa, không khiếm nhã, biết chia vui … (c. 4 – 7), chúng ta thấy một ngôn ngữ hết sức tự nhiên, gần gũi, thực tế.

Ngôn ngữ tự nhiên không đi ngược với ngôn ngữ siêu nhiên, nhưng hài hòa với ngôn ngữ siêu nhiên, được lồng vào ngôn ngữ siêu nhiên. Nhiều yếu tố tự nhiên tốt đẹp nơi chúng ta bắt nguồn từ Thiên Chúa, và phải luôn bắt nguồn từ đó.

  1. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần, Vị Thầy dạy yêu mến, làm việc nơi con người chúng ta bằng những đường lối nhân bản, phù hợp với con người chúng ta. Chúa Thánh Thần, tác giả của biến cố nhập thể, sẽ làm cho chúng ta nên người giống Đức Giêsu Kitô, hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên những người con, giống Con Yêu Dấu của Thiên Chúa.
  2. BÁC ÁI TRONG TÂM TÌNH.
  3. Các cấp độ bác ái trong tâm tình. Yêu thương là hành vi của trái tim, nên khởi sự trong tâm tình.

Chưa có tâm tình yêu thương là chưa yêu thương.

a/. Chấp nhận.

Mức tối thiểu, điều kiện tối thiểu để có tâm tình yêu thương là chấp nhận con người tha nhân, dù tha nhân làm những điều mà mình không thích, có những cái không phù hợp với mình.

Có khi, theo tự nhiên, hai người không sống với nhau được. Nhưng với lòng bác ái siêu nhiên, thì được.

Tâm tình bác ái chính là tình yêu của Thánh Thần, ở trong tâm hồn chúng ta, thánh hóa biến đổi tâm tình chúng ta. b/. Kính trọng.

Mức độ thứ hai cao hơn mức độ chấp nhận là sự kính trọng. Yêu thương là kính trọng, không chỉ kính trọng bên ngoài, mà kính cẩn thẳm sâu trong tâm hồn. Người nào cũng sung sướng khi được kính trọng. Một con người bác ái không bao giờ coi thường ai cả, không bao giờ khinh dể ai cả. khinh dể là thái độ hoàn toàn trái ngược với yêu thương. c/. Đón nhận.

Yêu thương là đón nhận : đón nhận tình yêu, lời nói, cử chỉ, con người của tha nhân vào trong tâm hồn. tha nhân như người khách quý chúng ta đón vào nhà. Thái độ từ khước và lãnh đạm hoàn toàn trái ngược với đức ái (có thể từ chối nhưng đừng từ khước).

d/. Dâng hiến.

Mức độ cao nhất của tình yêu là dâng hiến. Dâng hiến cuộc đời cho Chúa, cho Giáo Hội, cho Hội Dòng, cho anh chị em, vì tha nhân là Chúa Kitô.

Kết luận: Bác ái là của một khoa học yêu thương. Nhưng đây không phải là bài học của trí tuệ, mà là bài học của trái tim.

II. THIỆN CẢM, ÁC CẢM, TÌNH CẢM LỆCH LẠC

Có cảm tình với ai là một điều tốt, càng có nhiều cảm tình càng tốt. Dễ có cảm tình với người khác là bằng chứng tình yêu dào dạt nơi con người của mình. Tình yêu đang triển nở, đang sống nơi con người của mình. Và tình yêu ấy cần phải lớn lên. Con người của chúng ta phải càng ngày trở nên dễ thương hơn. Ít hoặc khó có cảm tình với tha nhân là dấu hiệu không lành mạnh.

a/. Học yêu thương là nỗ lực không ngừng biến ác cảm thành thiện cảm. Đây là lãnh vực cần chiến đấu nhiều hơn cả để chế ngự bản năng ganh ghét trong con người của mình. b/. Tình cảm lệch lạc là một tình cảm không trong sáng, không bình thường, chi phối tâm hồn và làm cho mất tự do.

III. BÁC ÁI TRONG TƯ TƯỞNG

Tư tưởng và tâm tình là hai lãnh vực rất gần nhau, nhưng phân biệt với nhau. Có khi tâm tình chi phối tư tưởng, có khi ngược lại. Sự chi phối này có khi tích cực và tốt đẹp, nhưng cũng có khi rất tiêu cực và gây nhiều thiệt hại. Những khi ấy, phải cố gắng tách riêng tâm tình và tư tưởng.

  1. Người ta thường lỗi đức ái rất nhiều trong tư tưởng, vì hay xét đoán người khác. Đó là điều Đức Giêsu nhắc đi nhắc lại không ngừng, và đôi khi Người còn nhấn mạnh nữa: Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán. Có khi Người dùng lời lẽ rất nặng để nói về những ai hay lên án kẻ khác: “Đồ giả hình”. Theo các sách Tin mừng, hạng người đáng ghét nhất là hạng người này.

Không gì khác hơn là một “phán đoán” tiêu cực, khắc khe, bất công trong tư tưởng chúng ta về một người. Phán đoán xấu ấy sẽ ảnh hưởng trên tâm tình chúng ta, làm cho chúng ta không yêu được người ấy. Phán đoán xấu có khi chi phối cả lời nói và hành động của chúng ta.

  1. Muốn có bác ái trong tư tưởng, phải không ngừng điều chỉnh phán đoán của chúng ta về người khác. Đừng tuyệt đối hóa phán đoán của mình nhưng phải khiêm nhường nhận thức giới hạn của nó.

Sự khiêm nhường sẽ dẫn tới xét lại phán đoán nhờ tìm hiểu, đối thoại, nhờ thực tại khách quan.

Có những phán đoán rất khó sửa đổi và gây ra rất nhiều thiệt hại và đau khổ cho người khác, đó là những thành kiến. Thành kiến là phán đoán xấu và sai, giống như một cây xấu đã mọc rễ trong đầu óc chúng ta, khó mà nhổ đi được. Nhưng muốn sống đức ái trong tư tưởng, phải mạnh dạn nhổ bỏ thành kiến.

Con người chỉ có thể xóa bỏ thành kiến khi có đức ái siêu nhiên cao độ, có một khát vọng yêu thương làm cho con người vượt ra khỏi chính mình. Khi đã xoá bỏ được thành kiến, con người đạt tới sự gặp gỡ, sự hiệp thông chân thật với tha nhân.

Một khía cạnh tích cực khác của việc tập sống đức ái trong tư tưởng là tập “phê phán bao dung”. Phải không ngừng chiến đấu chống lại khuynh hướng khắt khe trong con người chúng ta: – thường xuyên nghĩ tới sự yếu đuối của bản thân – không ngừng suy niệm về lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ngoài ra, thái độ tin tưởng sáng suốt vào con người (lòng tin) là nền tảng cho một phán đoán vừa khách quan, vừa bao dung. Thái độ tin tưởng của chúng ta có thể làm cho người khác sung sướng và triển nở tốt đẹp.

IV. BÁC ÁI TRONG LỜI NÓI 1. Lỗi Đức Ái Trong Lời Nói

Cổ nhân có câu: “Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy”  (một lời nói ra, bốn ngựa đuổi theo không kịp).

Lời nói của con người có thể có hậu quả rất lớn và rất phức tạp ; có thể ích lợi hay tai hại, xây dựng hay phá đổ. Chính vì thế, bác ái rất cần trong lời nói.

Muốn bác ái trong lời nói, trước hết phải tế nhị, tránh những lời nói làm thiệt hại hay gây buồn phiền. Có thể đó là những lời nói hữu ý hay vô tình.

a/. Hữu ý

Đức ái đòi buộc chúng ta đừng bao giờ có ý xúc phạm hay làm phiền lòng người khác bằng lời lẽ của mình :

+ Lời nói “khó chịu” phản ảnh bản năng gây hấn của con người. Chúng ta không thể hoàn toàn chế ngự bản năng gây hấn, nhưng có thể làm cho dịu bớt.

+ Lời chọc tức có thể đưa tới những hậu quả xấu, trầm trọng hơn cả là làm cho tha nhân mất bình an nội tâm.

+ Lời nói sỉ nhục thì hoàn toàn đi ngược với tinh thần Phúc Âm, ngược với thái độ kính trọng mà mỗi người Kitô hữu phải có đối với tha nhân (Mt 5, 22).

b/. Vô tình

Đôi khi những lời nói vô tình cũng gây thiệt hại trầm trọng cho kẻ khác.

Có những lời nói vô tình làm cho người khác phiền muộn lâu dài, nhất là những lời nói phản ảnh phán đoán tiêu cực của chúng ta. Chúng ta không thể tránh hết các lời nói vô tình gây thiệt hại cho người khác, nhưng đức ái đòi chúng ta phải cảnh giác tối đa để khỏi làm phiền lòng họ. Ăn nói tế nhị vừa là một bài học nhân bản tự nhiên, vừa là một bài học bác ái siêu nhiên. Những người hay va chạm với người khác trong lời nói, cần phải ở khiêm nhường, tập uốn nắn và điều chỉnh cách ăn nói của mình.

c/. Lời nói đùa

Cần tránh những lời nói nửa đùa nửa thật để nhạo báng người khác. Vì là nửa đùa nửa thật, những lời nói này đã hàm ý đánh giá, biểu lộ một phần tâm tư người nói.

Những lời nói thuần túy bông đùa có thể tạo niềm vui cho kẻ khác, đánh tan bầu khí giá lạnh. Nhưng chúng cũng có giới hạn mà mỗi người phải nhận ra, để tránh gây thiệt hại uy tín cho người khác, khỏi làm phiền lòng người khác cách vô lý. d/. Lời nói sau lưng

Nói hành, nói xấu, làm thiệt hại uy tín và danh dự người khác, là điều lỗi đức ái nặng. Ganh tỵ là nguyên nhân chính gây ra nói hành nói xấu.

Có những người, do tính tự nhiên, nghiêng về việc nói xấu. Tính tình này là một nết xấu phải sửa đổi.

Chúng ta lỗi đức ái nặng nề nhất, khi lời nói sau lưng hoàn toàn đi ngược với lời nói trước mặt. Khuynh hướng này biểu lộ sự hèn nhát, không xứng với người Kitô hữu là con cái sự thật.

e/. Cử chỉ

Chúng ta cần lưu ý những cử chỉ đi ngược với đức ái :

+ Ẩu đả, vũ phu.

+ Những cử chỉ xua đuổi, xa lánh. + Những cử chỉ bực dọc quá đáng.

  1. Xây Dựng Tình Bác Ái Bằng Lời Nói

Chúng ta thường lỗi đức ái trong lời nói nhiều hơn cả, ngược lại cũng có thể xây dựng tình bác ái bằng lời nói nhiều hơn cả. Điều này đòi hỏi một ý thức mãnh liệt và thường xuyên. Nhờ ý thức mà chúng ta khám phá cơ hội thi hành bác ái bằng lời nói.

Bác ái trong lời nói không là ăn nói đưa đẩy hay tìm cách lấy lòng người khác bằng lời xu nịnh, cũng không phải là lời nói suông trên môi miệng, miễn trừ hành động thực tế. Nhưng là dùng lời nói như một yếu tố quan trọng để biểu lộ và xây dựng điều cốt yếu mà Đức Kitô dạy là tình yêu không giả dối.

Việc xây dựng tình bác ái bằng lời nói rất đa dạng, tùy người và tùy môi trường, nhưng cũng có những nét lớn căn bản : a/. Lời khích lệ

Lời nói khích lệ là lời nói tạo phấn khởi cho người khác, khi người ấy đang nỗ lực thi hành một công việc gì, hay đang cố gắng theo đuổi một chương trình gì.

Lời nói khích lệ có thể là lời khen chân thật, lời cổ võ, bày tỏ sự tin tưởng, lời biểu lộ cảm tình (những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn cần lời khích lệ hơn cả).

Lời khích lệ thực sự phải là lời chuyên chở ý muốn thăng tiến người khác, không mang màu sắc mỉa mai hay ghen tỵ, là lời chứa đựng tình yêu và biểu lộ tình yêu đối với người được khích lệ.

b/. Lời an ủi

Lời an ủi là lời thông cảm với người khác, xoa dịu nỗi buồn hay sự thất bại của người khác. Lời an ủi càng cần thiết khi người khác đang đau khổ. Trong một vài trường hợp, lời an ủi được thay thế bằng sự hiện diện, một sự hiện diện chứa đầy tình thương. c/. Lời thông cảm hay chia sẻ

Có những trường hợp, con người cần sự thông cảm hơn những thứ khác. Thông cảm là biểu lộ sự rung động của mình trước nỗi khổ của người khác. Lời nói thông cảm, biểu lộ tâm hồn mở rộng đón nhận đau khổ của tha nhân (vui với người vui, khóc với người khóc). d/. Lời nói làm vui lòng người khác

Người ta có thể làm vui lòng nhau bằng quà tặng, cử chỉ, hành vi hay lời nói. Trong thực tế, lời nói là điều con người dễ xử dụng nhất để làm vui lòng người khác. Phải lựa lời nói để đẹp lòng nhau (bộ mặt nhân bản của đức ái). e/. Lời nói xây dựng

Lời nói xây dựng là lời bày tỏ sự thật để góp ý thăng tiến người khác hay xây dựng lợi ích chung.

Tùy cương vị mỗi người mà lời nói xây dựng mang sắc thái khác nhau :

  • Lời của người trên phải đầy tình thương (đừng phẫn nộ khi lòng phẫn nộ, đừng nói, nên để lúc khác).
  • Lời nói xây dựng của người dưới phải khiêm nhường: trình bày hay góp ý, chứ không dạy đời.
  • Lời nói xây dựng của người ngang hàng phải là lời thân thiện (chia sẻ trong tình bạn). f/. Cử chỉ – Thân thiện.
  • Hòa giải.
  • Phục vụ, giúp đỡ.
  1. BÁC ÁI TRONG HÀNH ĐỘNG

(Hành vi bác ái – 1Ga 3, 18).

Hành vi đức ái là bộ mặt thực tế của tình yêu Kitô giáo, nhờ đó sứ điệp Tin Mừng không còn thuần túy lý thuyết, hay là tình cảm suông, nhưng trở thành đời sống.

1. Nghĩa rộng

Bất cứ hành vi nào có động lực là lòng bác ái yêu thương, đều là hành vi bác ái. Theo nghĩa này, mỗi người chúng ta đều được mời gọi sống đức ái tối đa. Đức ái dần dần phải trở nên linh hồn của mọi hành vi. Chúng ta luôn hành động vì yêu thương. Yêu thương trở thành hơi thở, sự sống, lương thực cần thiết cho người Kitô hữu. Con người thánh thiện là con người thấm nhuần tình yêu thương trong tư tưởng, lời nói, việc làm.

2. Nghĩa hẹp

Hành vi có nội dung bác ái, không những do động lực bác ái, mà còn biểu lộ lòng bác ái. Không phải lúc nào chúng ta cũng bó buộc làm những hành vi bác ái theo nghĩa hẹp, nhưng chắc chắn chúng ta bị đòi buộc phải làm khi có cơ hội. Những hành vi này bao gồm nhiều loại khác nhau, liên hệ tới cuộc sống thực tế và biểu lộ các khía cạnh khác nhau của đòi hỏi Tin Mừng. a/. Hành vi hòa giải •  Hành vi hòa giải với tha nhân

Khi có xung đột với tha nhân, chúng ta phải tìm cách làm hòa với họ ; đức ái Kitô giáo đòi hỏi chúng ta đi bước trước (Mt 5, 23 – 25).

  • Hành vi hòa giải người khác

Khi có xung đột giữa những người có quan hệ với chúng ta, Tin Mừng đòi hỏi chúng ta tìm cách hòa giải họ với nhau, vì Tin Mừng muốn cho người Kitô hữu trở nên khí cụ bình an (đem yêu thương vào nơi oán thù).   b/. Hành vi tha thứ

Khi có người xúc phạm đến chúng ta, chúng ta phải tha thứ, dù người ấy có xin lỗi hay không (đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn !). c/. Hành vi phục vụ •   Hành vi giúp đỡ

Tùy trường hợp, tùy khả năng, chúng ta bị đòi buộc phải giúp đỡ những người thiếu thốn, hoạn nạn, những người cần đến chúng ta. Phải tập đức tính “hay giúp đỡ người khác”, vì đức tính này rất gần với Tin Mừng.

  • Hành vi phục vụ

Phục vụ là đòi hỏi của Tin Mừng, là ơn gọi của chúng ta. Đức Giêsu đã nêu gương phục vụ và đã yêu cầu theo gương Người (Ta đến để phục vụ). Công việc phục vụ có thể thuộc bình diện tinh thần hay vật chất.

  • Hành vi chia sẻ

Chia sẻ là hành vi đức ái có quan hệ tới tinh thần khó nghèo. Chỉ con người khó nghèo mới có thể từ bỏ một phần của cải để chia cho người khác (vật chất + tinh thần).

  • Các hành vi tốt

Các hành vi tốt nhằm làm vui lòng người khác là những hành vi bác ái tham gia vào tình yêu của Thiên Chúa, có thể làm nảy sinh tình yêu nơi người khác, có giá trị cứu thế, khi được thực hiện với tâm tình của Chúa”… (Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc).

Hy vọng với bài viết của Cố Tổng Giám Mục Bùi Văn Đọc này. Các em Học sinh đang độ tuổi thanh thiếu niên, sẽ hiểu rõ được cách thực thi lòng Bác ái, tinh thần bác ái trong việc hoạt động việc Tông đồ của chính mình. Hầu tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện qua cuộc sống hàng ngày của các em. n

Thày Giáo Trường Dòng.