THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – SỐ THÁNG 11, 2017

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI ….Tiếp Theo

117 THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM TRÊN ĐẤT VIỆT

ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

SUY TÔN HIỂN THÁNH NGÀY 19.06.1988

Bốn Đợt Suy Tôn Chân Phước:

• 27.05.1900 Đức Lêo XIII: 64 vị

• 20.05.1909 Đức Piô X: 8 vị

• 02.05.1909 Đức Piô X: 20 vị

• 29.04.1951 Đức Piô XII: 25 v

Thời đại:

  • Trịnh Nguyễn (1745 và 1773) 14 vị
  • Cảnh Thịnh năm (1798 ) 02 vị
  • Minh Mạng (1820 -1840) 58 vị
  • Thiệu Trị (1841-1847)   03 vị
  • Tự Đức (1847-1862….1883) 50 vị

Các loại án:

  • Bá đao:     Cắt từng miếng cho đủ trăm mảnh (1 vị)
  • Lăng trì:   Chặt tay chân trước khi chém đầu (4 vị)
  • Thiêu sinh: Đốt sống (6 vị đều vào tháng 06.1862)
  • Trảm:     Chém đầu (75 vị)
  • Giảo:       Tròng dây qua cổ rồi kéo hai đầu dây cho đến chết (22 vị)
  • Rũ tù:       Chết gục trong tù (9 vị)

BẢN ĐỐI CHIẾU CÁC ĐỊA PHẬN XƯA VÀ NAY

I. ĐỊA PHẬN ĐÀNG NGOÀI (1659-1679) Theo khu vực Chúa Trịnh, từ sông Gianh ra Bắc.

Địa phận Tây Đàng Ngoài: (1679)

Vinh (1846) Hà Nội (1846)Hưng Hóa (1895) Phát Diệm (1901) Thanh Hóa (1932)Bùi Chu (1848)

Địa phận Đông Đàng Ngoài: (1679)

Thái Bình (1936) Hải Phòng (1848) Bắc Ninh (1883) Lạng Sơn (1913)

II. ĐỊA PHẬN ĐÀNG TRONG (1659-1844) Theo khu vực Chúa Nguyễn, từ sông Gianh vào Nam.

Địa phận Đông Đàng Trong: (1844)

Huế (1850) Qui Nhơn (1844) Đà Nẵng (1963) Kontum (1932) Ban Mê Thuột (1967) Nha Trang

(1957) Nam Vang (1850) Cần Thơ (1955) Long Xuyên (1960)

Địa phận Tây Đàng Trong: (1844)

Sài Gòn (1850) Xuân Lộc (1966) Phú Cường (1966) Vĩnh Long (1938) Đà Lạt, Mỹ Tho (1960) Phan Thiết (1975)

CHÂN DUNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Đọc lại hạnh tích 117 thánh Tử Đạo Việt Nam, nhiều người như bị choáng ngộp trước sự can đảm tuyệt vời, mà nếu chỉ xét theo bình diện nhân loại, các ngài thật xứng đáng liệt vào danh sách những vị anh hùng vĩ đại. Thế nhưng, khi nghiên cứu sâu xa hơn thì thái độ anh dũng, lòng nhân ái và sự an bình của các thánh Tử Đạo phải là kết quả đương nhiên của những con người tự nguyện làm chứng cho niềm tin, của những con người sẵn sàng hiến tế đời mình cho tình yêu. Và đúng hơn phải nói: Tử đạo là giây phút kết tinh toàn cuộc đời của họ, những kẻ sống trọn vẹn giá trị Tin Mừng giữa đồng bào, dân tộc.

Vì thế, để có một cái nhìn tương đối đầy đủ chúng ta sẽ quan tâm đến bốn chủ đề:

  • Đời sống các chứng nhân tử đạo
  • Tử đạo là hiến tế tình yêu
  • Tử đạo là chứng từ
  • Chân dung các vị tử đạo

I. ĐỜI SỐNG CÁC CHỨNG NHÂN TỬ ĐẠO

“Martyr” theo nguyên ngữ có nghĩa là “nhân chứng”. Trừ một vài vị tử đạo nhờ ơn Chúa đặc biệt để có được một quyết định quả cảm bất ngờ trước thử thách, còn bình thường cuộc đời của họ đã là một chứng từ, một quá trình hợp tác với ơn Chúa, trước khi phải làm chứng cho Ngài bằng máu đào.

Giai đoạn lịch sử thời 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam kéo đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi (Thánh Phanxicô Federich Tế và Matthêu Liciniana Đậu) đến vị cuối cùng 1862 (Thánh Phêrô Đa), qua các triều đình vua Lê Chúa Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức),. Nếu xét lịch sử Việt Nam theo niên biểu 1533, khởi đầu bằng giáo sĩ I-ni-khu (Inigo) được nhắc đến trong Khâm Định Việt Sử (1) thì thời các Thánh Tử Đạo phải nói là hoa quả của hai thế kỷ LỜI THIÊN CHÚA đã gieo trồng trên quê hương Việt Nam. Trong đó, gần một thế kỷ đi vào tổ chức chặt chẽ (từ năm 1659 có hai địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, rồi từ 1668 có linh mục bản xứ). Vì thế, có thể nói Giáo Hội đã có những lựa chọn cách sống tương xứng với giai đoạn lịch sử của mình.

Theo thống kê 1885, Giáo Hội Việt Nam có 430.000 tín hữu, chiếm tỷ lệ 2,3% dân số (2) , rải rác từ trấn Kinh Bắc, qua miền Thượng Du cho đến Châu Đốc, An Giang.

  • Xét về thành phần tử đạo, ngoài các giám mục, linh mục chuyên lo về tôn giáo, ta thấy còn có các giáo hữu thuộc mọi tầng lớp nhân dân: quan trường có thánh Hy, quan án có thánh Khảm, quân ngũ có những cai đội hoặc chưởng vệ, xuống đến những binh sĩ tầm thường, hương chức có những chánh tổng, lý trưởng.
  • Xét về nghề nghiệp, ta thấy có lương y, thương gia, có thợ may, thợ dệt, thợ mộc, cả dân chài, nhưng đông đảo nhất vẫn là giới nông dân (10 vị).

Để trả lời câu hỏi: Các thánh tử đạo đã sống thế nào? Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến năm vấn đề sau:

1. Thân ái với mọi người

Người Việt Nam thường nói: “Phép vua thua lệ làng”. Mặc cho triều đình nhà Nguyễn ra những chiếu chỉ bách hại, dấu hiệu tình thân giữa bà con chòm xóm đối với người Công Giáo là một sự kiện quá rõ rệt. Thí dụ trong vụ án linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói:

“Tôi thấy cụ khôn ngoan đạo đức thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cỗ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ”.

Chuyện hai linh mục Thi và Dũng Lạc, quan huyện Bình Lục nói: “Các ông là quan bên đạo, tôi quan bên đời”, rồi ra lệnh cởi trói và cho dọn cơm bằng mâm bát của mình. Đến khi cho áp giải hai vị về Thăng Long, quan lập đàn tế lạy Trời Phật để thanh minh mình vô can trong vụ án.

Đặc biệt chuyện linh mục Vũ Bá Loan, 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đòn đánh, và trong ngày xử, mười lý hình bỏ đao chạy trốn, đến người thứ 11, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền, cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về Trời xin cụ nhớ đến cháu nhé”.

Nhờ đâu ông Lê Văn Phụng, mỗi lần quan huyện đi truy lùng lại cho người đến báo trước? Nhờ đâu linh mục Lê Bảo Tịnh được quan Tổng trấn cho giấy phép mở chủng viện? Nhờ đâu miền Nam suốt thời Minh Mạng không có ai trong số 117 vị tử đạo? Rồi nhờ đâu khu vực dòng Đaminh bình an đến năm 1838, và hầu như an bình từ năm 1841- 1856? Nhờ đâu những Giám mục như Hermosilla Vọng, từng được nêu đích danh trong chiếu chỉ nhà vua, vẫn được an toàn trên 20 năm?

– Thưa, nhờ những quan chức địa phương không đánh giá đạo Công Giáo như nhà vua và nhờ những căn nhà “lương dân” luôn mở rộng cách hào hiệp.

Ngay cả khi vua Tự Đức ra Chiếu chỉ Phân sáp ngày 05.08.1861, phân tán các tín hữu, giao cho lương dân quản lý cả người lẫn của cải thì Giáo Hội vẫn tồn tại nhờ nhiều người không theo lệnh vua. Như lương dân làng Hảo Hội, đã che giấu và tiếp tế cho nhiều chủng sinh ở Kẻ Mốt đến ăn trốn(3). Con số hàng chục ngàn người bị giết trong giai đọan này cũng là lớn, nhưng đó chỉ là tỷ lệ vài phần trăm, còn hơn 90% giới Công Giáo vẫn sống sót qua cơn “Hồng Thủy”.

Chính trong bối cảnh thân ái của đại quần chúng bình dân Việt Nam, các tín hữu đầu thế kỷ XIX có nhiều cơ may thể hiện sự gắn bó, tinh thần phục vụ và lòng bác ái của Tin Mừng. Những cuộc truy lùng thường xuyên của triều đình đã giúp các nhà thừa sai sống sát hơn với tinh thần nghèo khó của người tông đồ và gần gũi với dân lao động trong các làng quê, sau lũy tre xanh. Đến Việt Nam, các vị liền lo học tiếng và phong tục (4). Rồi sau đó, cũng ăn nước mắm, ăn tương, ăn cà, cũng nón lá, áo bà ba, áo khâu… Sống với dân Việt, sống như dân Việt, có vị suốt 15 năm không dùng đến một miếng thịt. Thế nhưng các vị vẫn vui tươi. Thừa sai Gagelin Kính gửi thư về nhà: “Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng: Tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp trong hoàng cung của ngài”

Tuyệt đại bộ phận giới Công Giáo thuộc thành phần nào? Thưa, là những người nông dân tầm thường nhất, mỗi ngày lam lũ lao động để làm xanh giải đất quê hương. Linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Gia Tô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng”.

2. Tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương

Hội nhập vào nền văn hóa Á Đông theo chế độ xã hội gia trưởng, Giáo Hội Việt Nam đã có nét suy tư sáng tạo đặc biệt đóng góp cho Giáo Hội toàn cầu. Ngay từ thời linh mục Đắc Lộ, tín hữu Việt Nam đã coi nhà cầm quyền như một người cha, mọi người đều là con trong đại gia đình dân tộc. Linh mục Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính mến Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như Trung Phụ, và kính song thân như Hạ Phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được” (5).

Dĩ nhiên trong bối cảnh lịch sử “thượng tôn Tống Nho” của nhà Nguyễn thì việc đề cao chữ hiếu hơn chữ trung đủ làm cho triều đình thêm khó chịu. Vì khi đề cao hiếu hơn trung, người Công Giáo tuân lệnh vua một cách có suy nghĩ, có chọn lựa, tuân giữ luật lệ hợp lý, nhưng bạo dạn phản đối điều nghịch lý trái với lương tâm mình. Dầu sao giới Công Giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Alonsô Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí giới đánh giặc bách hại “chẳng phải là súng ống, gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái”. (6)

Đức cha Xuyên ra vạ tuyệt thông cho ai tổ chức bạo động, và buộc những ai vu cáo ngài cổ động nổi dậy phải cải chính công khai (7). Giám mục Hermosilla Liêm nhắc nhở các tín hữu phải tuân giữ luật nhà nước, còn nếu bị vu cáo tội chính trị thì cứ an tâm, vì Đức Giêsu từng bị dân Do Thái lấy cớ chính trị để giết (Ga 19, 12). Ngài nói tiếp: “. …con đừng hòa tập vuối giặc, đừng nghe chúng nói dối dá đấng ấy, đấng khác sai chúng nó, vì cái ấy là không hẳn”.(8)

Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, nguyên tại tỉnh Nam Định, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công Giáo, để rồi bắt đạp lên Thánh Giá (9). Trong ra lệnh sàng lọc các quan Công Giáo, cấm đạo đồ đi thi hay nhận chức vụ trong làng trong tổng (10). Thế mà sáu năm sau (1861), trong một đợt thanh trừng, triều đình còn bắt được 32 viên quan, ba người chối đạo, 18 bị giết, 11 bị án lưu đầy (11).

Các thừa sai Pháp sẵn sàng làm nhân viên thông dịch cho nhà vua. Chính Minh Mạng định phong các ngài làm quan chức trong triều đình. Linh mục Gagelin Kính đại diện anh em từ chối đặc ân đó, “tuy nhiên, những việc nào có thể dung hòa với nhiệm vụ linh mục của tôi, tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua”. Thừa sai Jaccard Phan liên tục giúp vua mười năm, dù bị lãnh án tử hình: lần đầu, vua giảm thành án xung quân để dịch sách, lần hai đổi thành án lưu đầy chung với thừa sai Odoricô Phương, vị này chết nơi rừng thiêng nước độc, còn ngài vẫn quan trường chiếu chỉ tháng 09.1855 sống sót và tiếp tục dậy sinh ngữ và dịch sách cho hoàng triều. Lần cuối cùng cha tử đạo vào ngày 21.09.1838. Trước đó, nhiều người khuyên ngài bỏ trốn, ngài nói: “Không bao giờ, tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều ác”.

Cuốn giáo lý đầu tiên cho người Công Giáo Việt Nam, cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” (1651) của cha Đắc Lộ đã khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa, đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo của nước Pháp (12). Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740- 1765), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong cuốn Hội Đồng Tứ Giáo (Tân Định, 1959, tr. 4- 6), các linh mục Công Giáo đã trả lời vấn nạn “Đạo Hoa Lang là đạo ngoại quốc” rằng: “Chớ thì đạo Phật chẳng từ Ấn Độ, đạo Nho từ nước Lỗ, còn đạo Lão chẳng từ đời nhà Châu ở Trung Hoa sao?” và khẳng định: “Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang, đạo chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết”. Linh mục Vũ Bá Loan trình bầy điều đó với quan: “Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời đất, Chúa của muôn dân thôi”.

Cũng vì vậy khi quân đội Pháp tiến vào Đà Nẵng năm 1858, giới Công Giáo không hề làm nội ứng như thừa sai Pellerin tưởng (13). Ngược lại, họ tình nguyện đi bảo vệ non sông. Có điều vua Tự Đức đòi họ tham chiến phải bỏ đạo trước đã. Tháng 07.1857, có 14 binh sĩ, một bỏ đạo, 13 bị lưu đầy. Tháng 04.1858, trong nhóm 20 binh sĩ, bốn bỏ đạo, 16 bị lưu đầy. Và khi tầu Pháp đến, 193 binh sĩ Công Giáo chuẩn bị lên đường xuống Đà Nẵng, vì không chối đạo đã lãnh án chung thân.

Một vị tử đạo thời này là binh sĩ Phanxicô Trần Văn Trung đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”. (14)

3. Sống Tin Mừng yêu thương

Thế nhưng, chân dung đích thực cuộc đời các vị tử đạo nổi bật ở lòng YÊU THƯƠNG. Với người “có đồng ăn đồng để” như y sĩ Phan Đắc Hòa thì ông rộng rãi giúp người nghèo khó, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa. Với ông Martinô Thọ thì : “Công bằng chưa đủ phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, và ông trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người túng thiếu. Người cùng tử đạo với ông là Gioan Cỏn, từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại một Lý trưởng đòi sưu cao thúê nặng. Ông Năm Thuông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Ông trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.

Nếu tình thương bác ái đã được Chúa Giêsu coi là những dấu hiệu của những môn đệ Ngài (Ga 13, 35), ta không lạ gì linh mục Emmanuel Triệu sẵn sàng nhường tiền bữa ăn ân huệ trước giờ xử tử: “Xin cầm tiền và gửi cho người nghèo dùm tôi”. Linh mục Phan Văn Minh dặn đừng tổ chức đám tang lớn, để dành tiền giúp người bần cùng. Linh mục Khanh trong tù sẵn sàng chữa bệnh cho thân nhân viên cai ngục. Và Giám mục Hernares Minh đi đâu cũng mang theo tráp thuốc chữa bệnh miễn phí.

Với ông Cai Tá thì yêu thương để xứng với tình Chúa yêu, ông thường châm chước cho những người mắc nợ và nói: “Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình”. Với ông Năm Quỳnh thì bác ái rõ rệt là hoa quả của đức tin, ông từng nói với gia đình: “Bà và các con không đồng ý cho tôi lấy của nhà để giúp người nghèo, tôi sẽ đi vay mựơn hoặc làm thuê kiếm tiền giúp đỡ họ.” Vì ông nói: “Tôi chưa thấy ai hay giúp người nghèo khó lại túng bấn bao giờ. Kinh Thánh chẳng dậy chúng ta coi họ như chi thể của Chúa đó sao? Chúa đã cho chúng ta sống, tất sẽ quan phòng cho ta đủ dùng”. Với quan Hồ Đình Hy thì: “Đừng làm điều thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý”. Ông từng chăm sóc nuôi nấng một người bệnh bơ vơ, suốt 15 ngày sáng tối thăm hỏi, và khi ngừơi bệnh lìa đời, đã tổ chức lễ an táng tử tế. Ông cũng nuôi hai bé gái bị bỏ rơi cho đến khi trưởng thành: một cô xin đi tu, một xin lập gia đình, ông quảng đại lo đến nơi đến chốn.

Chúng ta còn học được các tín hữu thời tử đạo hai mẫu gương bác ái tập thể:

  • Thứ nhất là phong trào Ấu Thánh (Saint Enfant). Mọi người thi đua nhau, nhất là các y sĩ, các dì phước và các bà đỡ, tìm mọi cách rửa tội cho trẻ em bệnh nặng chết yểu. Họ thăm nom, săn sóc nuôi nấng, thuốc men và tổ chức an táng. Nếu các em sống sót, họ dậy giáo lý và nghề nghiệp cho đến khi tự lập được. Nhiều gia đình rất quảng đại nhận trẻ mồ côi làm con nuôi. Địa phận Đàng Trong năm 1843, rửa tội 8.273 em (15). Địa phận Trung Đàng Ngoài năm 1855, rửa tội được đến 35.349 em (16).
  • Mẫu gương thứ hai thể hiện trong các mùa dịch toàn quốc năm 1850 – 1851: Các tín hữu có mặt bên giường các bệnh nhân, đưa đến nhà thương chăm sóc, đó là giai đoạn các linh mục đi lại tự do. Thậm chí ngay tại kinh đô Phú Xuân, người ta được chứng kiến những nghi lễ an táng trọng thể, đi đầu là Thánh Giá nến cao, tiếp đến hai hàng tín hữu, rồi linh mục với phẩm phục khăn choàng, họ vừa đi vừa hát vang lên bài thánh ca tiễn biệt.

Dù chưa đi sâu vào mẫu gương trong các cuộc tử đạo thì những mẫu gương yêu thương của hầu hết tín hữu đầu thế kỷ XIX với mảnh đất và con người Việt Nam, đối với Giáo Hội hôm nay, cũng đủ là một di sản quý giá thôi thúc kêu mời chúng ta phải phát huy, với những cách thế hữu hiệu và cụ thể hơn, để phục vụ tha nhân, nhất là những người cùng khổ.

4. Mặn nồng tình nghĩa gia đình

Một trong những đóng góp của giới Công Giáo vào cơ chế pháp lý gia đình Việt Nam, là luật lệ “một vợ một chồng”. Trong gia đọan văn hóa quá ảnh hưởng quan điểm nho giáo “trai năm thê bẩy thiếp”, các tín hữu đã góp phần đề cao đạo đức thủy chung của dân tộc trong truyện Trầu Cau. Dĩ nhiên không phải mọi tín hữu đều trung thành với với lời cam kết hôn nhân, như ông Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy… đã có thời gian sa ngã, thế nhưng tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Trong danh sách 117 vị tử đạo, trừ một số theo đạo khi đã trưởng thành, còn những ai sinh ra trong gia đình Công Giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay từ bé. Thầy Đaminh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo cha ông: “Nếu tôi cả gan bước lên Thánh Giá thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với cha mẹ. Vì song thân sinh ra tôi đã dậy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết”. Nói chung, các vị tử đạo khi bị bắt không thoát khỏi tình cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và…

Còn Tiếp

Ghi chú:

(1) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương mục XXIII, 6B.

(2) Địa phận Đàng Trong 86.000 giáo hữu; Địa phận Tây Đàng Ngoài 140.000 giáo hữu và địa phận Đông Đàng Ngoài 200.000 giáo hữu. Xem Bùi Đức Sinh, Dòng Đaminh Trên Đất Việt, q. !, tr. 281.

(3)  Bùi Đức Sinh, sách đã dẫn I, tr. 326.

(4)  Chúng ta có thể so sánh với việc truyền giáo ở Châu Mỹ Latinh, dân địa phương cho đến nay vẫn dùng tiếng Tây Ban Nha làm ngôn ngữ chính, trong khi đó ở Việt Nam, các thừa sai soạn chữ quốc ngữ. Điều đó cũng do đường lối truyền giáo của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin đựơc lập năm 1622. Xc. Daniel Rops Eglise des temps Classique, Fayard 1958, pp. 97-100

(5) Phép Giảng Tám Ngày, Tinh Việt 1961, tr. 11-16.

(6) Thư chung các Đấng Vicario, Kẻ Sặt 1903, tr. 63-68.

(7) Disquitio Promotoris Fidei, Roma 1917, I tr. 17-19.

(8) Thư chung các Đấng Vicario II, tr. 53-54.

(9) Gispert, Historia de las Misiones en Tunkin, Avila 1928, tr. 428-437.

(10) Louvet, La Cochinchine Religieuse II, tr. 204-207.

(11) Louvet, sách đã dẫn II, tr. 267.

(12) Phép Giảng Tám Ngày, tr. 17.

(13) Kỷ Yếu hội nghị Khoa Học Lịch Sử đạo Thiên Chúa, HCM 1988, tr. 39-41.

(14) Louvet, sách đã dẫn II, tr. 264-266.

(15) Louvet, sách đã dẫn II, tr. 128.

(16) Bùi Đức Sinh, sách đã dẫn I, tr. 258. Sử Ký Địa Phận Trung, Phú Nhai 1916, tr. 74.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.