THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – tháng 2, 2015

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Ngày 13 tháng 02

Thánh Phaolô LÊ VĂN LỘC

Linh mục (1830 – 1859)

Nỗi đau thương.
Phải giải tán chủng viện Thị Nghè. Đó là một quyết định đau lòng đối với cha
Giám đốc Lê văn Lộc. Nhưng biết làm sao hơn được? Tình hình Giáo Hội hết sức khó
khăn. Quan quân đang truy bắt những người theo đạo Công Giáo. Hai năm coi sóc
tiểu chủng viện, thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng ý thức trách nhiệm của cha Lộc
đối với Giáo Hội thật lớn, và tình thương của cha đối với các chủng sinh thật
thắm thiết. Cha không đành lòng bỏ rơi những người con thân yêu này. Trong tình
thế khó khăn đó, để cứu lấy mạng sống mình, chủng viện phải giải tán, nhưng việc
huấn luyện vẫn không thể ngừng. Cha Phaolô Lộc tìm cách trốn tránh quanh vùng
Sàigòn, Gia Định, khi thì ở với các chủng sinh, khi ở một mình, nhưng vẫn tìm
cách tiếp tục công việc huấn luyện các mầm non của Giáo Hội. Chính sứ mạng cao
quý này đã đứa cha đến phúc tử đạo, một vinh hạnh lớn lao cho chủng viện Thị
Nghè (Sàigòn).

Ngược dòng thời gian.
Phaolô Lê văn Lộc sinh năm 1830 tại làng An Nhơn, tỉnh Gia Định trong một gia
đình đạo đức. Mồ côi cha mẹ từ năm mười tuổi, cậu Lộc đựơc cha sở nhận nuôi và
cho theo học tại chủng viện Cái Nhum trong hai năm. Năm 1843, Đức cha Lefèbre
Nghĩa gửi cậu sang học thần học tại Pénang. Cậu được các giáo sư viết thư về
Giám mục địa phận khen là người tương lai đầy hứa hẹn.
Trở vế nước, thầy Phaolô Lộc tận tâm giảng dậy giáo lý và phụ trách việc huấn
luyện cho các chủng sinh. Ngày 07.02.1857, thầy được Đức Cha Nghĩa truyền chức
linh mục và đựơc bổ nhiệm làm Giám đốc tiểu chủng viện Thị Nghè. Ngoài việc chăm
sóc, giảng dậy các chủng sinh, cha Lộc vẫn cố gắng thu xếp những giờ làm công
tác mục vụ, bác ái. Có sử liệu ghi nhận trong khỏang một năm, cha đã dẫn về đoàn
chiên Giáo Hội hơn 200 tân tòng.
Trong tình thế khó khăn dưới thời vua Tự Đức như thế, nhiều quan chức ác cảm với
đạo, nhưng cha Lộc vẫn hăng say làm việc, duy trì chủng viện được hơn một năm.
Tháng 07.1858, mười bốn chiến thuyền Pháp đổ bộ lên cửa Hàn tỏ dấu khiêu khích.
Đô Đốc Rigault de Genouilly ngây ngô chờ quân Công Giáo trợ lực. Ông không biết
rằng người Công Giáo Việt Nam lúc đó không ưa gì ngoại xâm, như chúng ta thấy
trong chuyện Thánh Phanxicô Trung, họ không bỏ Chúa, nhưng cũng không phò Tây.
Họ tích cực xin đăng ký vào quân đội triều đình để chống Pháp. Thế mà các quan
chức Việt Nam tức giận cho rằng các tín hữu Kitô cấu kết với ngưới Pháp, nên
quyết định bắt giết các đạo trưởng trước khi quân xâm lược đến. Thế là chủng
viện Thị Nghè phải giải tán. Cha con phải ngậm ngùi chia tay. Tuy nhiên, cha Lộc
vẫn cố nán lại Sàigòn nay đây mai đó để gần gũi, hướng dẫn các chủng sinh của
mình.

Trên con đường khổ giá.
Cuối năm 1858, cha Lộc đến tạm trú ở nhà một cựu chủng sinh (thầy giáo Ngôn).
Dầu khó khăn nguy hiểm, cha tìm cách tiếp tế cho các chủng sinh bị lưu lạc. Việc
đó đưa cha vào vòng lao lý: Một phụ nữ ngoại giáo thấy cha, liền báo cáo với
quan quân. Họ liền đến bao vây, lục xét và bắt được cha ngày 13.12 năm đó.
Khi bị bắt, cha Lộc khéo léo trả lời, nên các quan đối xử với cha cách tử tế,
lại còn có ý định tha nếu cha chối đạo. Đầu năm 1859, thấy không thể chiếm đựơc
Huế, thêm vào đó 200 lính viễn chinh Pháp chết vì bệnh dịch tả, tướng Pháp quyết
định chuyển hướng đưa quân vào chiếm tỉnh Gia Định theo lối cửa Cần Giờ. Khi
quân Pháp bắn phá Sàigòn, các quan liền cấp tốc tâu vua cho trảm quyết cha
Phaolô Lê văn Lộc.

Đến vinh quang.
Ngày 13.02.1859, cha Lộc bị điều ra Trường Thi, bây giờ là góc đường Hai Bà
Trưng-Xô Viết Nghệ Tĩnh, và bị hành quyết tại đó. 29 tuổi đời, hai năm linh mục,
bản án vội vã gấp rút, cũng như chính cuộc đời của cha đã kết thúc thật ngắn
ngủi. Ngắn ngủi nhưng thiết tha, ngắn ngủi nhưng hết sức đậm đà tình yêu và
trách nhiệm. Cuộc đời vắn vỏi nhưng đã được thánh hiến bằng chính máu đào của
mình. Thật xứng đáng để được đón nhận vào nơi trường sinh. Cha Phaolô Lộc bước
vào cuộc sống vĩnh cửu là thế.
Phải chờ đến đêm, giáo hữu mới lên đưa thi hài vị tử đạo (vẫn bị trói ở cột) về
mai táng ở họ Chợ Quán, sau đựơc cải táng về dòng Thánh Phaolô, Sàigòn. Hiện nay
hài cốt của thánh nhân được lưu trữ tại Vương Cung Thánh Đường Sàigòn.
Đức Thánh Cha Pio X suy tôn Chân Phước cho cha Phaolô Lê văn Lộc ngày
02.05.1909.

Ngày 11 tháng 03

Thánh Đaminh CẨM

Linh mục dòng ba Đaminh
( ? – 1859)

Trên đường nhiệm vụ.
Đi bất cứ nơi nào khi trách vụ đòi hỏi.
Đó phải chăng là kỷ luật một người lính? – Như vậy thì cha Cẩm đích thực là một
“người lính” của Chúa Kitô, chiến đâu cho tình thương.
Đó phải chăng là đức tính của một người tôi trung? – Cha Cẩm cũng đúng thực là
một người đầy tớ khôn ngoan và trung thành “đúng giờ phân phối gạo cho gia
nhân”, và luôn “cầm đèn sáng chở đợi chủ về”.
Đi bất cứ nơi nào khi trách vụ đòi hỏi. Điều đó có
vẻ đơn giản quá, bình thường quá, chưa có nét gì lá một cuộc ra đi “vĩ đại”, một
cuộc lên đường “đảo lộn” cuộc đời. Thế nhưng nó vẫn là một cuộc lên đường thực
sự trong từng công việc bình thường, và nếu như cái vẻ ngoài bình thường của một
cuộc lên đường còn chưa bộc lộ được hết tấm lòng cương quyết, trung kiên của một
người lính, một cuộc đời tôi trung thì trong cuộc đời cha Cẩm, chính cái chết,
phải, chinh cái chết đã làm trọn tất cả, bộc lộ được tất cả những gì cao đẹp
nhất của những lần lên đường, vì thật ra nó chỉ là một cuộc lên đường duy nhất
về NHÀ CHA.

Linh mục nhiệt thành.
Đaminh Cẩm sinh tại làng Cẩm Giàng (hay Cẩm Chương), xứ Kẻ Roi, tỉnh Bắc Ninh
(nay là Hà Bắc gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang). Vì thông minh sắc sảo từ
nhỏ, nên cậu Đaminh Cẩm đã được thâu nhận vào nhà Chúa. Sau khi mãn khóa thần
học, thầy Cẩm được lãnh chức linh mục. Vị linh mục trẻ trung này chẳng bao lâu
đã xin gia nhập dòng ba Đaminh. Cha rất nhiệt thành với việc tông đồ, và đựơc Bề
trên cũng như mọi người quý mến.
Năm 1848, khi Tòa Thánh chia địa phận Đông Đàng Ngoài thành hai địa phận Đông
(Hải Phòng) và Trung (Bùi Chu) thì cha Đaminh Cẩm tuy sinh quán Bắc Ninh (thuộc
địa phận Đông) lại đựơc cử phục vụ ở địa phận Trung có số tín hữu đông gấp ba
lần. Tại đây, khi cuộc bách hại trở nên gay gắt, vì lợi ích của giáo dân, cha
phải ẩn trốn hết nơi này đến nơi khác. Nhưng mỗi khi trách nhiệm mục vụ đòi hỏi,
cha Cẩm sẵn sàng đi đến bất cứ nơi đâu, dù có nguy cơ bị bắt bớ.
Đầu năm 1859, khi cha về Hà Lang ẩn náu, một người phát hiện ra cha và tố cáo
với quan (lúc này người nào khai báo các thừa sai hay linh mục, đều đựơc thưởng
tiền bạc chức tước). Do đó, quan quân đến vây bắt cha tại Hà Lang ngày
21.91.1859 và giải cha về Hưng Yên.
Trước nặt quan Tổng đốc, cha Đaminh Cẩm khẳng khái nhận mình là linh mục Công
Giáo và sẵn sàng chấp nhận mọi hình khổ, chứ không bao giờ chà đạp Thánh Giá.
Sau nhiều lần khuyến dụ và đe dọa nhưng không kết quả, quan Tổng đốc ra lệnh
nhốt cha vào cũi chật hẹp ròng rã mấy tháng trời.

• Hào quang Thiên Quốc.
Trong thời gian bị giam giữ, tư cách và đức độ của cha Cẩm khiến quân lính cảm
kích, nên họ cho phép nhiều giáo hữu lui tới thăm viếng cha. Noi gương Thánh
Phaolô Tông Đồ, cha nhân cơ hội này tiếp tục giảng Tin Mừng và khuyên nhủ mọi
người trung thành giữ vững đức tin, hết lòng đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa.
Nhờ các giáo hữu liên lạc, nhiều lần cha đã viết thư cho vị giám mục địa phận,
Đức cha Valentinô Vinh, bày tỏ lòng trung kiên với Đức Kitô và mong mỏi khát
khao đựơc phúc tử đạo. Đức cha cho linh mục Hương vào thăm và giải tôi cho cha
Cẩm ngày 30.01.
Khi nhận được tin bị kết án trảm quyết, cha Đaminh Cẩm tỏ vẻ hân hoan vui mừng.
Trên đường đến pháp trường, cha hiên ngang như một chiến sĩ khải hoàn. Bà Maria
Huệ, một giáo dân hiện diện trong giờ hành quyết đã làm chứng:
“Khi tới nơi xử, cha quỳ gối cầu nguyện một lát, rồi vui vẻ làm hiệu cho lý hình
thi hành phận sự.”
Quân lính vung gươm chém cha ba nhát mà đầu vẫn chưa đứt. Họ phải cứa đi cứa lại
nhiều lần, đầu cha mới lìa khỏi thân. Hôm đó là ngày 11.03.1859. thi thể sau
được rước về an táng ở Cẩm Chương là nguyên quán của vị tử đạo
Ngày 29.04.1951, Đức Thánh Cha Pio XII suy tôn cha Đaminh Cẩm cùng với 24 vị tử
đạo khác lên bậc Chân Phước

Thánh Đaminh VŨ ĐÌNH TƯỚC

Linh mục dòng Đaminh
(1775 – 1839)

Kết thúc một Thánh Lễ.
Kể từ lúc bị bắt cho đến lúc chịu chết vì danh Đức Kitô, cuộc tử đạo của Thánh
Đaminh Tước chỉ vọn vẹn trong vài tiếng đồng hồ. Thế nhưng đây lại là cuộc tử
đạo có một không hai, viết nên một trang sử độc đáo của Giáo Hội Việt Nam. Vị
linh mục đạo đức đã sống những khoảnh khắc cuối cùng của đời mình như một Thánh
Lễ. Bị đánh trọng thương, nằm giữa các tín hữu thân mến và hấp hối trên vũng máu
đào của chính mình, thánh nhân vẫn tiếp tục khích lệ anh em, vẫn dâng lời chúc
tụng tạ ơn thiết tha và dâng chính mạng sống cho Chúa Giêsu, Đấng ngài không
ngừng gọi tên trong giây phút sau hết.

Dĩ đào vi thượng. . .
Đaminh Vủ Đình Tước sinh năm 1775 tại làng Trung Lao, tỉnh Nam Định. Ngay từ bé
ngài đã tỏ ra là người đạo đức vững chắc. Khi được làm linh mục, cha Tước tận
tụy không biết mỏi mệt trong việc thánh hóa các tín hữu. Ngày 17.04.1811, cha
Tứơc xin nhập dòng thánh Đaminh và tuyên khấn ngày 18.04 năm sau. Đức cha
Delgado Y bổ nhiệm cha coi sóc các tín hữu ở Xương Điền, một làng Công Giáo đông
đảo của địa phận Đông Đàng Ngoài.
Từ năm 1838, khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng trở nên mãnh liệt tại địa phận
Đông, cha phải ẩn náu trong nhà các tín hữu. Ông Đaminh Đoài kể rằng:“Cha Đaminh
Tước trú ẩn ở nhà tôi hai tháng. Trong thời gian này tôi đựơc chứng kiến đời
sống đạo đức sâu xa của cha. Ngài thức trắng đêm để cầu nguyện, dâng thánh lễ
ngay từ tảng sáng. Khi đó tôi ra ngoài vườn canh chừng giúp cha. Một hôm tôi hỏi
ngài: “nếu người ta đến bắt cha, cha sẽ xử trí thế nào?” Ngài liền đáp: “Chạy
trốn nếu có thể, còn không thể trốn nữa thì xin vâng theo ý Chúa. Điều ngài
thường lo lắng, là làm thế nào tránh không gây phiền hà hay thiệt hại cho chúng
tôi, những người cho ngài trú ẩn. . .”

Mưu sự tại nhân . . .
Gần nơi cha Tước trú ẩn có một viên quan Bát phẩm tên là Phan, phụ trách huyện
Cẩm Hà. Trước đây ông đã từng góp phần bắt Đức cha Henares Minh và thầy Chiếu,
được vua tưởng thưởng trọng hậu, nên rất sốt sắng trong việc tìm bắt các linh
mục khác. Ngày 02.04.1839, có tin mật báo, viên quan này liền dẫn khoảng 40
người đến bao vây bắt cha Tước tại nhà ông Nhiêu Tĩnh, nơi ngài trọ. Cha Tước
đang dâng lễ, nghe thấy tiếng động liền vội vàng cởi áo lễ, dự định chạy qua
vườn tới nhà một người khác. Nhưng đám người kia đã nhìn thấy và chặn cha lại.
Noi gương Thầy Chí Thánh xưa trong vườn Cây Dầu, cha hỏi: “Các ông đi tìm ai?”
Và khi họ nó đi tìm bắt linh mục, cha liền xác định: “Chính tôi đây”. Quả đúng
như cha dự đoán trước nếu không trốn kịp thì xin cho ý Chúa đựơc thể hiện. Thế
là họ trói cha lại và áp giải về Cẩm Hà, huyện Giao Thủy, Nam Định.
Các giáo hữu ở Xương Điền mới đầu tưởng là quân của triều đình nên tỏ ta ngần
ngừ. Đến khi biết nhóm này là của Bát Phan, liền xin bỏ tiền ra chuộc. Nhưng phe
đối phương không chịu, họ muốn nhận phần thưởng lẫn danh vọng do nhà vua trao
tặng. Thế là đoàn người vừa di chuyển, các tín hữu liền hô hào cầm gầy gộc rượt
theo để giải cứu cho người cha thiêng liêng yêu quý, nhiều phụ nữ cũng tham gia
vào cuộc giải cứu này.

Thành sự tại thiên . . .
Về phần nhóm người bắt giữ, vì phải lôi theo một “tù nhân” bị trói, thấy khó
lòng đạt mục đích, liền chọn giải pháp cuối cùng, thanh toán luôn “đối tượng”
trong tầm tay. Theo lệnh của viên chỉ huy, một người tên Ngọc liền bổ trên đầu
vị linh mục một nhát búa, khiến ngài ngã gục trong vũng máu. Sau đó, họ tản ra
chạy thục mạng để thoát thân. Các tín hữu lúc đó vừa rượt tới, một số ở lại săn
sóc cha Tước, còn tất cả nổi nóng đuổi theo đám sát nhân và bắt đựơc ít người,
trong đó có cả viên chỉ huy, rồi đem nộp cho quan xét xử.
Phần cha Tước, ngài tỏ ra rất bình tĩnh trong giây phút hấp hối. Người nhìn các
bổn đạo đang nức nở vây quanh, cha lựa lời trấn an họ, khich lệ tất cả kiên
trung làm chứng cho đức tin. Một tín hữu xé áo định băng vết thương đẫm máu trên
đầu cha, nhưng ngài ra dấu cản lại và kêu mời hiệp ý cầu nguyện. Sau đó cha sốt
sắng tạ ơn Chúa về những ơn lành đã nhận đựơc trong súôt cuộc đời, nhất là ơn đổ
máu vì đức tin.
Vì vết thương quá trầm trọng máu ra nhiều, sức lực vị linh mục cạn dần, lời cha
nói mỗi lúc càng nhỏ bớt, và cuối cùng mọi người chỉ nghe đựơc những tiếng thì
thào kêu tên cực trọng Chúa Giêsu. Thánh lễ dở dang buổi sáng giờ đây kết thúc
bằng hy lễ mạng sống của chính vị chủ tế. Các tín hữu coi ngài như vị tử đạo,
nên thấm máu ngài làm thánh tích.
Thi hài cha Tước được đưa về an táng tại nhà thờ Xương Điền. Giáo Hội đã xác
nhận chứng tá tử đạo của cha Đaminh Vũ Đình Tước, linh mục dòng Thuyết giáo.
Đức Lêo XIII suy tôn ngài lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Ngày 06 tháng 04

Thánh Phaolô LÊ BẢO TỊNH

Linh mục (1793 – 1857)

Từ ẩn sĩ đến tử đạo.
Khởi đầu là vị ẩn tu, kết thúc là vị tử đạo. Hai hình ảnh như có vẻ khác biệt
nhau. Nhưng đối với Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, điều quan trọng đâu có phải là
hình ảnh, là lối sống nhưng chính là NIỀM TIN: Thiên Chúa là tất cả. Lối sống
cóbthể thay đổi, nhưng niềm tin mới là nền tảng chính yếu. Chính niềm tin đó đã
dẫn dắt cuộc của Phaolô Tịnh, từ một vị ẩn sĩ trở thành một vị linh mục nhiệt
thành truyền giáo, một giáo sư tận tụy và sau cùng đến phúc tử đạo vinh quang.

Rừng vắng và sứ mạng.
Phaolô Lê Bảo Tịnh sinh năm 1793 tại xã Trinh Hà, huyện Hoàng Hóa, phủ Hà Trung,
tỉnh Thanh Hóa, là con thứ ba trong một gia đình Công Giáo. Năm 12 tuổi, cậu vào
ở với cha Duệ xứ Bạch Bát. Sau ba năm, cậu được cha gởi đi học tại chủng viện
Vĩnh Trị (Nam Định). Trong chủng viện, cậu là một chủng sinh gương mẫu. Trí khôn
bình thường, nhưng cậu hơn hẳn anh em về sự chăm chỉ, về tinh thần đạo đức, hãm
mình, cậu ăn chay các ngày thứ sáu, đánh tội và nằm đất. Khuynh hướng sống khổ
hạnh đó là bước đầu dẫn đến ý định ẩn tu của thầy Tịnh.
Có thể nói Lê Bảo Tịnh là một con người mến yêu Thiên Chúa triệt để. Thầy đã
cương quyết hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Thầy đã chọn Chúa và muốn thể hiện điều
ấy cách trọn vẹn. Chính vì thế, thầy tích trữ cơm khô, âm thầm rời bỏ chủng viện
vào sâu trong rừng vắng để có dịp cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa
bằng đời sống khắc khổ trong cô tịch.
Thế nhưng, đâu phải ai cũng có quyền sống đạo đức theo ý riêng. Thiên Chúa mời
gọi con người cộng tác vào công trình cứu chuộc của Ngài, thì chính Ngài sẽ xếp
đặt công việc cho họ. Chính vì vậy, Đức cha Longer Gia đã chỉ thị cho các cha
trong địa phận: “Nếu thầy Tịnh đến xưng tội, không linh mục nào được quyền giải
tội, phải bảo thầy đế gặp Đức cha ngay.”
Và vị ẩn sĩ ấy đã tìm ra ý Chúa qua vị Giám mục. Một năm trời quen với rừng sâu,
giờ đây thầy phải từ giã để đón nhận những hy sinh mới, những công tác mà Giáo
hội đang cần đến thầy.

Vị tông đồ đất Lào.
Để chuẩn bị cho những công tác lớn lao hơn, Đức cha cho thầy Tịnh về tiếp tục
học thần học, lãnh các chức nhỏ, đồng thời tiếp tục dậy học. Đức cha Havard Du,
kế vị Đức cha Gia, cử thầy sang Macao để nhận những khoản trợ cấp cho địa phận.
Hai chuyến đi trong hai năm, đồng thời cũng là hai lần thoát chết khỏi tay cướp
biển và giông tố.
Năm 1837, Đức cha đề ra chương trình truyền giáo tại Lào, thầy Tịnh đã hăng hái
lên đường. Sau một năm hoạt động, thấy việc tông đồ tiến triển tốt đẹp, thầy trở
về địa phận xin Đức cha phái thêm người đi truyền giáo. Thế nhưng tình hình
trong nứơc đã thay đổi. Thi hành lệnh vua, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lúc
đó ra lệnh cấm đạo gắt gao. Cha Mai Năm, ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ bị bắt và tử
đạo, chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa, Đức cha Du phải ẩn lánh và qua đời ngày
05.07.1838. Đức cha Cao chịu tử đạo không kịp lãnh nhiệm vụ. Vì vậy đoàn truyền
giáo ở Lào phải về nước, chuẩn bị nhận công tác mới.

Vào tù lần nhất và lưu đầy.
Đức cha Retord Liêu, người kế vị Đức cha Du, cử thầy Tịnh đi dậy giáo lý tân
tòng tại làng Thạch Tố, xứ Bích Trì, tỉnh Hà Nam. Cuối năm 1841, Lý trưởng làng
Thạch Tố đã rình bắt được thầy Tịnh. Giáo hữu đem tiền nộp quan mong chuộc được
thầy, nhưng thầy tỏ ra khí khái nói với quan: “Nếu chỉ vì có tiền mà tha thì tôi
không muốn”.
Thế là thầy Tịnh bị giải về Tuần phủ Hà Nam, rồi lên Hà Nội. Ở đâu con người ấy
tuy mảnh khảnh, y phục thô sơ, luôn đi chân đất, có đeo gông, nhưng tâm hồn thì
chính trực và cương quyết. Các vị quan hùng hổ đã không thế nào khuất phục nổi.
Họ chỉ còn cách là đệ án về kinh xin trảm quyết. Nhưng rất may, khi vua Thiệu
Trị lên ngôi, bầu khí ác cảm đã giảm đi. Sáu lần quan đệ án vào kinh, cả sáu lần
không được chấp thuận, để đến lần thứ bẩy chuyển thánh án lưu đầy chung thân ở
Phú Yên (Bình Định).
Trên đường lưu đầy, người tù có thân hình mảnh mai nhưng tâm hồn cương nghị ấy
luôn hứng tỏ lòng trung thành quả cảm với chân lý đức tin mình đang theo. Thầy
đã mãnh liệt phản đối khi người ta gọi “Gia Tô tả đạo”, đồng thời giải thích với
mọi người về tôn giáo của mình.
Thời gian phát lưu không lâu thì vua Thiệu Trị băng hà (04.11.1847). Vua Tự Đức
lên kế ngôi và ban ân xá, giải phóng tù nhân. Trở về địa phương với niềm vui
khôn xiết của nhiều người, thầy Tịnh vâng lời Đức cha lãnh chức linh mục, khi đã
56 tuổi. Khoảng một năm sau, vị tân linh mục được giữ chức Giám đốc kiêm giáo sư
chủng viện Vĩnh Trị. Nhờ trứơc đây đã từng là ân nhân chữa bệnh đau mắt cho quan
Tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng, nên cha Giám đốc đã xin được giấy phép cho
chủng viện đựơc hoạt động một cách bán công khai, dưới hình thức trường dậy chữ
Nho và thuốc.

Chân dung cha Phaolô Tịnh.
Thoạt nhìn, người ta chỉ có thể nhận thấy Phaolô Tịnh là một linh mục có thân
hình dong dỏng cao gầy guộc, dáng vẻ đạo mạo, khắc khổ. Nhưng chỉ những ai gặp
gỡ cha mới nhận ra đó là vị linh mục đầy lòng nhân ái, giản dị, khôn ngoan từng
trải. Có lẽ những bước thăng trầm đây đó cùng với số tuổi khá cao khi lãnh chức
linh mục, đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời tông đồ của cha. Ngài tận dụng thời
giờ thật khít khao, cốt sao đạt được ích lợi tối đa. Trong những năm tháng đảm
nhiệm chủng viện Vĩnh Trị với bao công việc, thế mà cha Giám đốc vẫn thu xếp
được thời giờ để viết lách. Ta có thể kể những tác phẩm của cha:
-Phúc Âm dẫn giải.
-Giáo lý đại cương.
-Lục vấn lương tâm.
-Những lời khuyên thực hành để giúp xa lánh tội trọng và dọn mình chết lành.
Trong khi hướng dẫn chủng sinh, cha thường khuyên các thầy tuân giữ kỷ luật, vì
chính cha đã từng có kinh nghiệm sâu sắc: Kỷ luật là ân nhân giúp thể hiện lòng
yêu mến Chúa, nâng đỡ đời tu. Đàng khác, cha còn chú tâm huấn luyện chủng sinh
về đời sống cầu nguyện. Theo cha, một nhà truyền giáo mà không quý trọng việc
cầu nguyện thì lời giảng không có sức thuyết phục. Lúc này, tuy không còn trực
tiếp coi sóc giáo hữu, nhưng cha Tịnh rất siêng năng giải tội, giúp đỡ các tâm
hồn hòa giải với Chúa. Một khía cạnh khác trong đời cha Phaolô Tịnh là lòng mến
Thánh Giá: Bất cứ nơi nào cha đã từng sống, đều có bóng dáng của cây Thập Giá.
Sau này khi bị bắt, các quan thấy cha có nhiều Thánh Giá quá, liền kháo nhau:
“Ông cụ này nghiện Thánh Giá”.
Đúng vậy, không phải cha “nghiện” Thánh Giá bằng cách dựng nên khắp nơi, nhưng
vì lòng tôn kính cuộc tử nạn của Chúa Kitô, đồng thời, ao ước sống cuộc đời
Thánh Giá, mong muốn mình đựơc góp phần vào dòng máu của Thầy Chí Thánh đã đổ ra
để cứu chuộc trần gian. Lòng yêu mến ấy đã đựơc bộc lộ qua nếp sống thật nhiệm
nhặt, cả khi còn làm thầy sống ẩn tu, cũng như khi làm cha Giám đốc chủng viện.
Bữa cơm thường nhật của cha là vài chén cơm với chút nứơc mắm và đĩa rau xanh.
Cha ngủ nghỉ thường ở dưới đất, và ít khi ở trên giường. Thân xác cha hao mòn,
nhưng bên trong vẫn chứa đựng một tâm hồn mãnh liệt, một trí thông minh sắc sảo.
Cha sống nhiệm nhặt đến quên thân mình, nhưng lại luôn lo lắng cho người khác.
Cha thường thăm viếng, an ủi, ban các bí tích, giúp đỡ người nghèo, nhất là các
bệnh nhân, kể cả những người bị bệnh nan y như phong cùi. Có thể nói cha Lê Bảo
Tịnh đã tử đạo ngay trong cuộc sống, trước khi đựơc phúc thực sự đổ máu vì đức
tin trung kiên.

Bị bắt lần hai.
Năm 1857, hai cha Kỳ và Hảo về tổ chức lễ tại nhà thờ Phát Diệm. Dịp này, ngoài
thánh lễ còn có những cuộc rước long trọng. Biến cố rầm rộ này bị kẻ xấu báo cáo
xuyên tạc với viên quan Ninh Bình: “Cụ đạo mở cờ khao quân”. Quan quân liền kéo
về Phát Diệm vây bắt, nhưng hai cha Kỳ và Hảo đã về Vĩnh Trị rồi, nên họ gửi
giấy yêu cầu quan Nam Định đi bắt hai linh mục đó. Quan Tổng đốc Nam Định Nguyễn
Đình Hưng vẫn nhớ ân tình với cha Phaolô Tịnh (vị ân nhân đã chữa mắt cho mình),
nên đã cố gắng cản ngăn nhưng không xong. Kế họach vây bắt đựơc ấn định vào ngày 27.02.1857 do quan phủ Nghĩa Hưng chỉ huy.
Trong khi đó, quan Tổng đốc đã nhờ người báo cho cha Tịnh ở Vĩnh trị, nhưng vì
bất ưng bị bệnh nặng, người đó không đi báo đựơc, nên chủng viện Vĩnh Trị vẫn
sinh hoạt bình thường cho đến khi quan quân vây kín làng. Sau mấy phút hội ý,
Đức cha Liêu và các cha đồng ý chạy trốn, chỉ để một mình cha Tịnh ở lại đối
phó, với hy vọng tránh đựơc những tàn phá. Cha Tịnh bình tĩnh mời quan phủ Nghĩa
Hưng và ông Phan Trứ vào phòng uống nước, rồi trình bầy giấy phép của quan Tổng
đốc. Tuy nhiên, vì thấy trong nhà trường có nhiều đồ quốc cấm như sách Latinh,
đồ lễ và nhiều vật dụng khác từ nước ngoài gửi về, nên quan phủ cho lập biên bản
và yêu cầu cha Tịnh ra tỉnh để điều tra thêm.
Trước khi đi, cha Tịnh vào nhà thờ cầu nguyện và từ giã các chủng sinh, những
người con yêu quý nhất của cha. Đức cha Liêu có tìm cách chuộc lại cha Tịnh
trước khi quan phủ giaỉ cha lên tỉnh, nhưng không thành công. Đức cha cho người
báo trước với quan Tổng đốc để nhờ quan lo liệu. Hôm sau ông Phán Trứ giải cha
Tịnh ra tỉnh. Tờ giấy phép mà quan Tổng đốc đã cấp cho cha Tịnh đã đưa quan vào
thế kẹt. Các quan khác nghĩ rằng, chắc hẳn cha Tịnh phải mất một số tiền khá lớn
mới kiếm đựơc tờ giấy phép này.
Quan Tổng đốc lâm vào tình thế thật khó xử, biết rõ cuộc đời, thân thế và sự
nghiệp của cha Tịnh, thế mà chính quan Thượng Hưng lại là người hỏi cung cha.
Trước tòa, quan không hỏi gì cả, chỉ xin cha quá khóa thì sẽ tha về, nhưng cha
Tịnh với tư cách là một linh mục làm sao có thể chấp nhận đề nghị ấy.
Năm ngày sau, cha Tịnh lại được đưa ra trước công đường. Cũng một câu hỏi, và
cũng một lòng son sắt đó. Khi đựơc lệnh viết lại bản lý lịch, cha vẫn xác nhận
mình là linh mục. Quan Thượng Hưng khuyên cha không nên viết thế, chỉ nên khai
là giáo hữu chuyên dậy chữ Nho và làm thuốc, mới hy vọng thoát án chết. Đáp lại,
cha cám ơn lòng tốt của quan, vẫn giữ y như lời khai vì cho đó là một vinh dự
lớn lao. Cha sẵn sàng chịu đựng tất cả vì vinh dự ấy. Lần cuối cùng quan Thựơng
Hưng tìm cách cứu gỡ vị ân nhân của mình.
Còn Tiếp…

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.