THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – Tháng 6, 2015

Thánh Nicolas BÙI ĐỨC THỂ
Quân nhân
(1792 – 1839)

Thánh Đaminh ĐINH ĐẠT
Quân nhân
(1803 – 18.07.1839)

• Dâng sớ biểu lộ niềm tin.
Một ngày mùa hạ 1839, vua Minh Mạng rời hoàng cung đi dạo và quan sát dân tình Huế. Tất cả sinh hoạt đều tạm ngưng, mọi người phải dạt vào lề đường, chờ xa giá nhà vua đi qua mới tiếp tục công việc mình được. Nhưng kìa, có hai người lính không thuộc đội cận vệ, bỗng từ đâu xuất hiện, tiến ra và quỳ rạp trước kiệu rồng, hai tay nâng cao trên trán một tờ sớ viết bằng chứ Hán. Viên quan hầu nhận sớ trình cho vua xem. Tuy chỉ có hai người lính, nhưng sớ ký tên ba người, là các ông Phan Viết Huy, Bùi Đức Thế và Đinh Đạt. Nội dung lá đơn ấy như sau:
“Cha ông chúng tôi đã theo đạo Gia Tô, năm ngoái các quan tra tấn ép buộc bước qua Thánh Giá, chúng tôi đã miễn cưỡng làm theo, chứ thực tâm không muốn. Nay chúng tôi xin tiếp tục giữ đạo để tròn đạo hiếu với cha ông chúng tôi.”
Đó là biến cố chính đưa đến cái chết tử đạo của ba quân nhân xã Lục Thủy, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Augustinô Phan Viết Huy sinh năm 1795 tại làng Hạ Linh, thuở bé có dâng mình cho Chúa, chuẩn bị làm thầy giảng, nhưng sau khi ra ngoài lập gia đình, ông đã phục vụ trong quân ngũ mười năm. Người thứ hai là Nicolas Bùi Đức Thể sinh năm 1792 tại làng Kiên trung, tính đến ngày bị bắt, ông mới đi lính được một tháng. Người thứ ba là Đaminh Đinh Đạt sinh năm 1803 tại làng Phú Nhai, tuy ít tuổi nhất nhưng đã gia nhập quân đội được 12 năm.

• Đâu phải lính là can đảm.
Tổng đốc Nam Định bấy giờ là Trịnh Quang Khanh. Năm 1838, ông đã từng bị triệu về kinh và bị khiển trách vì tội lơ là thi hành luật bắt đạo của nhà vua. Từ đó, ông trở thành một thứ “hùng xám” tỉnh Nam Định thề quyết không đội trời chung với “Gia Tô tả đạo” , cho quân đi lùng bắt khắp nơi. Để công việc có hiệu quả, đối tượng đầu tiên ông quan tâm là thanh lọc lại ngay trong hàng ngũ quân đội, những người ông sẽ phải thi hành chiến dịch truy lùng trong dân chúng.
Sau nhiều ngày suy tính kế hoạch và chuẩn bị, Tổng đốc tổ chức đại tiệc chiêu đãi tất cả các binh sĩ ở Nam Định, dựa vào lý lịch của họ. Hôm đó, có khoảng 500 anh em đến dự trong bữa tiệc, Tổng đốc đưa ra những lời hứa hẹn và ban thưởng cho những ai trung thành với vua. Ông cũng khéo léo đe dọa những ai cố chấp không bỏ tà đạo. Khi tiệc đã tàn, ông cho mời hết thảy vào dinh để thử lòng họ. Tại đây, quan để sẵn những dụng cụ tra tấn như gông cùm, xiềng xích, roi kìm . . . và đặt tượng Thánh Giá dưới đất. Tất cả được tự do lựa chọn, bước qua ảnh Chuộc Tội, hoặc chịu gia hình thì tùy ý. Tiếc thay trong số 500 lính hôm đó chỉ có 15 người trung kiên, từ chối bước qua ảnh tượng Chúa, còn lại bao nhiêu đều nhát sợ bỏ đạo. Tức khắc 15 người kia bị tống giam vào ngục tối.
Ngày hôm sau, quân lính đưa 15 tín hữu này ra công đường, đánh đòn và bắt ép các ông bước qua ảnh Chúa. Sáu người sờn lòng bỏ cuộc, chỉ còn chín người vững vàng trước trận đòn chí tử. Cả chín lại bị tống giam vào ngục. Ba ông Huy, Thể, Đại thuộc nhóm chín người này. Riêng ông Huy, vì trước đây có lấy vợ nhỏ ở tỉnh, đêm hôm đó trốn ra ngoài xưng tội và làm tờ cam kết bỏ vợ nhỏ với cha Năng tại họ Phúc Đường, rồi trở vô tù với anh em.
Ngày thứ ba, chín người trên lại được đem ra trình diện với quan, Tổng đốc hứa thưởng tiền cho ai bỏ đạo. Thoạt đầu không ai nghe lời, quan ra lệnh đánh đập tàn nhẫn, rồi cho lính đánh vào đầu ngón tay từng người. Chịu không nổi chín người bỏ cuộc, chỉ còn năm vị cương quyết trung thành với Chúa.
Đầu tháng sáu, vua Minh Mạng phái thêm tướng Lê Văn Đức đem 2.000 kinh binh ra tăng viện cho Nam Định. Viên tướng này vừa đến nơi đã là người cộng tác rất đắc lực với Tổng đốc trong cuộc bách hại. Ngày 25.06, khi đem Đức cha Henares Minh và thầy Chiếu đi xử tử, tướng Lê Văn Đức cho dẫn năm binh sĩ bướng bỉnh ra pháp trường, có ý hù dọa để các ông sợ. không ngờ các ông tỏ ra hân hoan vì tưởng sắp chết vì đạo.

• Chỉ còn ba người trung tín.
Thấy thế quan lại cho giải năm ông trở về trại giam. Ít bữa sau, quan truyền gọi năm ông ra tòa, mới đầu quan dùng lời ngon ngọt dụ dỗ, nhưng không thành công, liền thịnh nộ sai quân lính khiêng hai đầu gông từng người kéo lê trên tượng Chúa, các ông liền co chân lên. Họ lấy roi đánh túi bụi, vừa đanh vừa kéo chân các ông xuống đạp lên ảnh thánh. Thêm hai binh sĩ nữa bỏ cuộc sau trận đòn này, chỉ còn ba ông Huy, Thế và Đạt kiên quyết trả lời với quan rằng: “Các người cưỡng bách chúng tôi đạp lên tượng Chúa, nhưng lòng chúng tôi không chiều theo, thì chẳng phải chúng tôi bỏ đạo đâu.” Quan liền ra lệnh đóng gông thật nặng và giam cả ba vào ngục.
Từ đó trở đi, ba ông còn phải chịu nhiều cuộc tra tấn khác nữa. Khi thì mỗi người 24 roi, khi thì 150 roi. Một lần quan dùng lý luận khuyên các ông bỏ đạo tà, ông Huy thay mặt anh em đáp lại: “Quan lớn dậy chúng tôi bỏ đạo Thiên Chúa, thì chúng tôi theo đạo nào bây giờ? Chúng tôi chỉ theo đạo thật thôi.” Quan thét lên: “Nếu đạo chúng bay là đạo thật, sao Đức Vua lại nghiêm cấm?” Gấy giờ ông Huy có dịp sử dụng những gì xưa đã học khi chuẩn bị làm thầy giảng, để cắt nghĩa các lẽ đạo và trả lời cách mạch lạc sáng sủa những câu hỏi quan đặt ra. Thấy mình đuối lý, quan cho lệnh giam ba ông chung với linh mục Giacôbê Năm, ông Lý Mỹ và ông Trùm Đích. Cha Năm hỏi ba ông: “Hôm nay thế nào, được hay thua?” Các ông vui vẻ đáp: “Chúng con chẳng chịu quá khóa, nên quan đã làm án xử rồi.”
Thế nhưng án của các ông chưa đựơc vua Minh Mạng châu phê. Vua truyền các quan bằng mọi cách bắt ba ông bỏ đạo vì “khi đầu đã đứt, chẳng còn có phép chi nối lại được nữa.” Giai đoạn này, Trịnh Quang Khanh đang bị ngưng chức Tổng đốc, Tổng trấn Lê Văn Đức tạm thay quyền đã cho lệnh đóng gông và đưa ba chiến sĩ Đức Kitô phơi nắng chỗ công cộng, ông Huy và Thế ở cửa Đông, ông Đạt ở cửa Nam suốt 21 ngày liền, mọi người đi qua đều tự do hành hạ, sỉ nhục tùy ý. Nhưng quan lại một lần nữa thất bại.
Tháng 10.1838, Trịnh Quang Khanh được phục chức Tổng đốc, nên hết lòng tìm cách đền đáp ơn vua. Tổng đốc cho những người đã bỏ đạo trước đây vào ngục thất khuyên dụ ba ông bỏ đạo, nhưng những người này bị các ông khiển trách là kẻ hèn nhát dại dột, nên mắc cỡ không dám nói năng gì cả. Tổng đốc chuyển sang kế hoạch mới, dọa nạt vợ con, thân nhân, bạn bè của các ông, bắt họ vào nài nỉ dụ dỗ, hy vọng các ông sẽ xiêu lòng. Nhưng cả ba vị vẫn cương quyết trung thành với Chúa.

• Một phút lầm lỡ . . .và thống hối.
Cuối cùng Tổng đốc cho gọi các kỳ mục ba làng Hạ Linh, Kiên Trung, Phú Nhai đến, và ra hẹn trong một tháng phải ép ba chiến sĩ đức tin bỏ đạo, bằng không sẽ bị trừng phạt. Một tháng sau, những người này vẫn chưa hoàn thành được công tác khó khăn ấy. Quan liền tập trung các kỳ mục và cho lệnh đánh đòn họ trước mặt ba người chiến sĩ Đức Kitô. Và lần này ông thành công. Ông Thế động lòng trước cảnh một bô lão làng Kiên Trung chịu đòn thâm tím vì mình, xin quan tha cho cụ bằng cách đồng ý bước qua Thập Giá. Quan quân vỗ tay reo mừng. Tiếp theo ông Đạt cũng bước qua Thập Giá. Riêng ông Huy vẫn chưa chịu khuất phục.
Đêm hôm đó, quan cho người vào ngục dụ dỗ ông Huy:“Chẳng ai cười chú đâu, vì chú đã chịu khổ rất can đảm. Vua chẳng muốn giết chú, chỉ bằng cứ bước đại qua Thập Giá để khỏi rầy rà”. Ông Huy nghe thế hơi xiêu lòng, lại thấy hai bạn mình được tự do cả rồi, nên sáng hôm sau ông cũng theo chân các bạn bỏ đạo. Quan cho mỗi người mười quan tiền và cho trở lại trong phòng quân ngũ.
Thế nhưng ba người lính được tự do trở về nhà lại thấy lòng áy náy, lương tâm cắn rứt. Các ông không ngờ vụ án mình không chỉ là vấn đề cá nhân. Quá nhiều người quan tâm và cầu nguyện cho các ông mỗi ngày. Do đó, việc bỏ đạo của ba người cuối trong nhóm 500 binh sĩ trở thành tin buồn lớn lao cho tập thể. Có người không tin các ông đã đạp lên Thập Giá, dù các ông hoàn toàn nhận lỗi nơi mình, họ bảo rằng chắc các quan dùng thuốc mê khiến các ông mất sáng suốt. Thế là ba ông sau khi xưng tội, bàn bạc với nhau và cương quyết lên tỉnh để tuyên xưng đạo một lần nữa.

• Lòng can đảm hy hữu.
Đến tỉnh, ba ông vào thẳng dinh quan Tổng đốc trình bày nguyện vọng của mình:” Thưa quan, đạo Thiên Chúa là đạo thật, Chúa chúng tôi thờ là Đấng quyển năng vô biên. Mấy ngày trước chúng tôi đã trót dại quá khóa. Nay chúng tôi xin trả tiền lại cho quan để được giữ đạo Chúa cho thật lòng”. Quan nghe nói tức giận chửi mắng ba ông thậm tệ, rồi ra lệnh giam vào ngục để tìm cách dụ dỗ như lần trước. Nhưng vì quan đã báo cáo lên vua việc ba ông bỏ đạo nên muốn cho qua chuyện, chỉ truyền đánh đòn ba ông và rồi đuổi ra khỏi dinh. Số tiền các ông trả, quan trao cho hương chức ba làng của các ông.
Trở về nhà, ba ông cầu nguyện liên lỉ và tiếp tục bàn bạc với nhau, dự tính vào tận kinh đô dể tuyên xưng niềm tin. Ba ông đến hỏi ý kiến cha Tuyên và cha Năng. Các ngài nói tùy ý, chứ tội các ông không buộc phải đền bằng cách đó. Cha Chính Jimenô Lâm (sau này làm Giám mục địa phận Đông Đàng Ngoài) nghe tin thì viết thư tán thành sáng kiến đó. Thế là ba ông ngồi lại với nhau viết một lá đơn cho vua, bày tỏ niềm tin của mình. Ông Đạt cũng ký vào đơn, nhưng vì đang phải công tác với đội binh nên ở lại. Hai ông Huy và Thế có cơ hội tức tốc khăn gói đi vào Huế. Trước khi lên đường, cha Tuyên nhắc bảo hai ông phải trông cậy vào Chúa hơn là sức mình, phải cầu nguyện nhiều mới có thể can đảm làm chứng cho đạo Chúa. Hai vị xưng tội một lần nữa, chào giã biệt họ hàng thân thích và xin mọi người góp lời cầu nguyện. Sau 20 ngày đi, các ông vào tới kinh đô đầu tháng 05.1839. Một người con ông Huy mới 16 tuổi cũng theo chân cha để nghe ngóng tin tức.
Theo thủ tục khi đó, ba ông đến nộp đơn ở tòa Tam Pháp chờ đợi. Các quan nhận đơn, nhưng lại bỏ qua không trình lên vua. Trong thời gian chờ đợi, các ông ở trọ nhà bà Đông, cũng là một tín hữu ở Huế. Sau đó hai vị làm thêm một lá đơn thứ hai, nhưng tòa Tam Pháp vẫn im tiếng làm ngơ như cũ. Thế là các ông phải tính đến một kế hoạch táo bạo hơn. Nhân dịp vua Minh Mạng ngự giá đi dạo trong thành phố. Hai ông đón đường để trình đơn thẳng lên nhà vua. Đọc xong vua nổi giận tống giam cả hai, và giao cho các quan bộ Hình cứu xét.

• Khổ hình và vinh phúc.
Các quan ở kinh đô khuyến dụ, hứa hẹn nhiều điều, rồi tra tấn đánh đập, nhưng hai nhân chứng vẫn trước sau như một, tuyên xưng là những binh sĩ có đạo. Tướng quân Lê Văn Đức ở Nam Định trở về, vì đã từng biết sự gan dạ của hai ông nên nói: “Đừng hy vọng thuyết phục bọn này, đánh chúng chỉ mỏi tay thôi.” Một hôm quan hỏi tại sao trong đơn còn có chữ ký của Đinh Đạt, hai ông trả lời: “Thưa quan, anh Đạt cũng không chịu quá khóa, nhưng bận việc quân nên không đi với chúng tôi được. Anh ấy dặn: chúng tôi thế nào, anh ấy cũng như vậy.”
Các quan trình bầy sự việc lên vua để lãnh ý. Sau đó theo lệnh vua, quan cho bày trước mặt hai ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị trôi ngoài biển.” Hai ông bày tỏ ý muốn chọn gươm. Vua Minh Mạng nổi giận truyền viết bản án như sau: “Trước đây ta đã làm án tử hình, nhưng ta thương chẳng muốn giết, nào ngờ chúng đã mê dại chẳng biết sự phải lẽ. Ta đã mở lối cho chúng ăn năn chừa cải, song hai tên tội phạm cố chấp theo Gia Tô tả đạo, lại bỏ việc quân vào kinh nộp đơn. Thật là bọn kiêu ngạo đáng khinh, đáng ghét, chẳng thể để sống được nữa. Vậy hai tội phạm Phan Viết Huy và Bùi Đức Thế phải cho lính đem ra biển lấy rìu lớn chặt ngang lưng rồi bỏ xác xuống biển, để ai nấy biết tỏ điều răn cấm. . .”
Phần sau bản án, vua giao cho Trịnh Quang Khanh việc điều tra ông Đinh Đạt và dặn trình báo lại. Ngày 13.06.1839, quân lính điệu hai ông ra cửa Thuận An thi hành án lệnh. Họ dẫn hai ông lên thuyền chèo ra giữa biển, đặt một Thánh Giá ngay trong thuyền, để thử xem các ông có đổi ý đạp lên chăng. Khi thất vọng, họ trói hai ông vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng, họ chặt đầu trước rồi bổ thân ra làm bốn, ném xuống biển làm mồi cho cá.

• Bổ làm tám cũng được.
Về phần ông Đinh Dạt, sau khi đi công tác trên tỉnh, ông thu xếp việc nhà và chuẩn bị tâm hồn đón nhận cái chết anh hùng. Cuối tháng 06.1839, một người bạn đồng đội đến báo tin ông Huy và Thế đã b5 hành hình. Ông Đạt tỏ ra rất vui mừng, báo tin cho cha mẹ, bà con, từ giã mọi người. Ông không tính chuyện chạy trốn, chỉ chờ đợi ngày bị bắt. Vợ con khóc lóc, ông lựa lời an ủi và quả quyết Chúa sẽ lo liệu và qun phòng mọi sự. Khi quân lính đến vây bắt, ông lánh mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo họ lên tỉnh. Dọc đường ông sốt sắng lần chuỗi, suy niệm các mầu nhiệm kinh Mân Côi.
Đến Nam Định, lính đưa ông vào gặp Trịnh Quang Khanh, quan Tổng đốc bảo ông: “Hai bạn của ngươi vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ đi để về với vợ con.” Ông Đạt thẳng thắn thưa: “Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều hình khổ khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám khúc cũng được.” Quan biết có đe dọa cũng không thành công, liền lập án gởi về kinh xin xử giáo.
Ông Đạt khi nghe đọc bản án thì rất bình tĩnh, vui mừng đón nhận cái chết gần kề. Ngày 18.07.1839 ông theo lính ra pháp trường Bẩy Mẫu, vừa đi vừa chăm chú đọc kinh. Đến nơi xử, ông quỳ trên chiếu cầu nguyện giây lát, rồi chờ quân lính tháo gông trên cổ, ông nằm xuống. Lý hình đứng hai bên dùng dây xiết cổ ông cho đến khi tắt thở. Tín hữu làng Phú Nhai thương lượng với quan quân đem thi hài vị anh hùng tử đạo về an táng tại khu đât của người anh cả vị anh hùng. Sau hài cốt của ông Đạt được lưu giữ tại nhà thờ Phú Nhai.
Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn ba vị anh hùng tử đạo: Augustinô Phan Viêt Huy, Nicolas Bùi Đức Thể và Đaminh Đinh Đạt lên bậc Chân Phước.

 

Ngày 16 tháng 06

Anrê TƯỜNG

Nông gia
(1812 – 1862)
Vinh Sơn TƯƠNG,
Chánh tổng
(1814 – 1862)
Đaminh NGUYỄN ĐỨC MẠO,
Nông gia
(1818 – 1962)
Đaminh NHI, Nông gia
(1822 – 1862)
Đaminh NGUYÊN,
Chánh trương
(1800 – 1862)

• Niềm tin được chứng giám.
Cuộc đời năm vị tử đạo Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Mạo, Đaminh Nhi và Đaminh Nguyên tưởng như đã được trình bày cụ thể trong thư gởi giáo đòan Do Thái:“Có những người vì đức tin bị căng nọc, bị đanh đòn, họ đã từ khước giải thoát ngõ hầu được sự sống hoàn hào hơn. Có những người chịu thử thách, chịu sỉ nhục, chịu đòn vọt, họ còn bị xiềng xích và tù ngục. Họ bị ném đá, bị cưa xẻ, bị thiêu đốt, bị hiếp đáp, bị hành hạ. . . Hết thảy những người đó đã được Thiên Chúa chứng giám nhờ đức tin.” (Dt 11, 35-37. 39)
Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chiếu chỉ Phân sáp, năm giáo hữu đồng hương này đã đồng lao cộng khổ, để cúôi cùng đồng vinh quang trên Nước Trời.
Thiên Chúa đã chứng giám cho niềm tin của họ.

• Số phận gắn bó với nhau.
Dưới thời vua Tự Đức, xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định, địa phận Trung Đang Ngoài, có 13 họ đạo nằm trong chín làng xã. Do đó, làng Ngọc Cục bao gồm hai họ đạo Ngọc Cục (bổn mạng lễ truyền tin) và họ Phú Yên ( bổn mạng thánh Vinh Sơn).
Ba ông Anrê Tường, Vinh Sơn Tương và Đaminh Nguyễn Đức Mạo thuộc họ Phú Yên. Anrê Thường sinh năm 1812 và Vinh Sơn Tương sinh năm 1814 là hai anh em ruột. Thân phụ là Đaminh Tiên làm Trùm họ, và thân mẫu là bà Maria Gương. Ông Tương tuy thua anh hai tuổi, nhưng đã từng giữ chức Chanh tổng. Còn Đaminh Nguyễn Đức Mạo sinh năm 1818, con ông Đaminh Giỏi, làm xã trưởng và bà Maria Nhiên. Khi bị bắt ông đựơc 44 tuổi và làm Hương quản lo an ninh trật tự trong làng.
Hai ông Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi thuộc họ Ngọc Cục. Đaminh Nguyên sinh năm 1800, con ông Đaminh Duệ làm Xã trưởng. Khi bị bắt ông đang làm Chánh trương xứ Lục Thủy. Con trai ông là Đaminh Trình (35 tuổi) cũng bị bắt và tử đạo sau ông một ngày. Còn Đaminh Nhi, người trẻ nhất trong nhóm, sinh năm 1822, con ông Đaminh Vương và bà Catarina Vân.
Năm ông đều đã lập gia đình, đều là những tín hữu nông gia tôt bụng, khá giả, nên đựơc dân làng rất kính nể và tôn trọng. Riêng Đaminh Nguyên nhờ có nghề thuốc nên có nhiều cơ hội thực thi bác ái ngay cả với những người anh em ngoại giáo trong vùng. Không rõ trước khi bị bắt, các ông có thân thiết với nhau không, nhưng với một số điểm tương đồng trên, các ông đã là những đối tượng đầu tiên đựơc lưu ý khi chiếu chỉ Phân sáp được áp dụng tại làng Ngọc Cục.
Chiếu chỉ Phân sáp của vua Tự Đức ban hành ngày 05.08.1861 gồm năm nội dung chính: Phân tán các làng Công Giáo; sáp nhập họ vào các làng ngoại giáo; tịch thu tài sản ruộng nương; thích tự hai bên má những người theo đạo; rồi giao cho lương dân quản thúc. Trong bối cảnh đó, năm ông đã bị bắt ngày 14.09.1861. Quan phủ Xuân Trường ra lệnh ép các ông phải chà đạp Thánh Giá. Nhưng các môn đệ Chúa Kitô đã khẳng khái biểu lộ niềm tin của mình, cương quyết khước từ hành vi chối đạo, xúc phạm đến Chúa. Thế là quan giận dữ đày các ông sang làng Bạch Cốc, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

• Tù đầy và lời chứng.
Tiếp theo là bẩy tháng rưỡi bị giam cầm, cổ mang gông, chân tay xiềng xích, bị đanh đòn nhiều lần dã man, nhưng năm vị anh hùng vẫn kiên trung với đạo Thánh Chúa. Cũng theo chiếu chỉ Phân sáp này, quân lính dùng dùi sắt nung đỏ khắc chữ trên mặt các chứng nhân của Chúa, một bên má là chữ “Tả Đạo”, bên kia là tên làng xã. Nói sao cho xiết nỗi tủi nhục đau đớn của các ông. Đau vì nhức nhối khủng khiếp và vết phỏng lâu ngày trên mặt mới khỏi, nhục vì phải trình bày cho mọi người thấy dấu hiệu chế diễu khinh mạn niềm tin đạo giáo. Nhưng tất cả các ông nhẫn nại chịu đựng, miễn tấm lòng vẫn trung thành với đức tin chân chính.
Để kín múc ơn trợ lực của Thiên Chúa, hằng ngày các ông quây quần bên nhau cầu nguyện, đọc kinh Mân Côi, cùng nhau dâng lên Chúa lời tuyên xưng tuyệt đối của mình vào bàn tay quan phòng, và phó dâng đời mình cho thánh ý Ngài. Có thể nói, chính nhờ những lời nguyện sốt sắng phát xuất từ đáy con tim đó, các ông đã tìm được nghị lực và can đảm lướt thắng mọi gian nan thử thách. Ngoài ra, các ông còn giúp nhau sám hối những lỗi lầm, và tự nguyện hãm mình bắng chay tịnh mỗi tuần ba ngày để chuẩn bị đón chờ hông phúc tử đạo.
Trong bức thư đề ngày 07.08.1862, linh mục Estévez Nam đã trình bày cơn sốt bắt đạo tại Nam Định như sau: “Trong tỉnh Nam Định, người Công Giáo bị đuổi khỏi nhà, quân lính trói từng năm người một, họ chỉ đựơc đem theo mấy nắm gạo đủ ăn chừng hai ngày.. . Có 300 giáo hữu đang bị giam, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân ra lệnh cấm tiếp tế lương thực và chỉ mấy ngày sau, 240 người gục chết, những người còn lại hấp hối chờ chết. . . Ngày 18.05.1862, ông ra lệnh chém 21 người, ngày 22 chém 43 người, ngày 26 chém 67 người . . . Ngày 30.05 ông truyền trói 112 người buông thả sông, rồi hôm sau đến lượt 112 người khác. . .
“Việc làm của Tổng đốc được các quan phủ huyện noi theo. Người Công Giáo phải chết hàng trăm, kẻ bị chém, người bị thiêu sinh trong ngục, hoặc có ai tháo chạy ra ngoài được, cũng bị lý hình cầm gươm dí họ vào lửa cho đến chết. Có lần 150 người bị xử một lúc, lý hình vì không thành thạo, chém đi chém lại chỉ giết được 20 người, số còn lại bị đẩy xuống sông. Nhưng sông lại nhỏ, một số người sống sót lội vào bờ, quân lính tóm bắt, rồi cứ hai người một, buộc vào nhau ném xuống giếng sâu chết cả.” (1)
Riêng với năm chiến sĩ đức tin Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Mạo, Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi, quan vẫn còn nhân nhượng. Ngày 15.06.1862, một lần nữa, quan yêu cầu các ông chà đạp Thánh Giá, các ông lại từ chối. Quan liền sai lính trói cả năm ông đem ra phơi nắng suốt cả ngày không cho ăn uống. Sáng hôm sau, quan đổi chiến thuật, lấy lời ngon ngọt dụ dỗ các ông chối đạo. Mặc dù đói khát và mệt lả, ông Đaminh Mạo đại diện anh em khẳng khái trả lời: “Sao quan lại dụ dỗ chúng tôi như vậy? Chắc quan tưởng chúng tôi là con nít khiếp sợ đau đớn, nên quan khuyên dụ chúng tôi xúc phạm Thiên Chúa ư? Nếu chà đạp Thánh Giá để khỏi bị bắt và bị đánh đập thì chúng tôi đã làm ngay ở quê chúng tôi rồi, dại gì phải trải qua biết bao cực khổ nơi đây. Bây giờ quan cứ làm theo ý quan, chúng tôi không boa giờ bỏ đạo đâu.”

• Đón phúc vinh quang.
Tức giận trước những lời trên, quan lệnh truyền xử tử ngay tức khắc năm vị tôi tớ trung kiên của Chúa. Quân lính điệu các ông ra pháp trường Bạch Cốc, tỉnh Nam Định. Các chứng nhân đức tin vui mừng phó thác linh hồn trong tay Chúa, cầu xin Ngài ban cho đủ sức mạnh chiến thắng cơn thử thách cuối cùng. Quả thật, các ông đã tỏ ra can đảm phi thường. Ngoài ông Đaminh Nhi, cả bốn vị kia đều yêu cầu lý hình, thay vì chém một nhát thì xin họ chém ba nhát để các ông tỏ lòng tôn kính Chúa Ba Ngôi.
Hôm đó là ngày 16.06.1862. Thi thể năm vị anh hùng tuẫn giáo được gia đình và các bạn hữu chôn ngay nơi tử đạo, năm sau thì cải táng về nhà thờ họ quê làng.
Ngày 29.04.1951, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng suy tôn năm vị tử đạo Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Nguyễn Đức Mạo, Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi lên bậc Chân Phước.

Ngày 17 tháng 06

Thánh Phêrô ĐA

Thợ mộc
(1802 – 1862)
• Đức tin kiên vững

Thánh Phêrô Đa là vị tử đạo cuối cùng trong 117 chứng nhân đức tin tại Việt Nam đã được Giáo Hội tôn vinh.Cái chết của Ngài chấm dứt một giai đoạn cam go va khai mạc một giai đoạn thanh bình mới của Giáo Hội Việt Nam. Tuy chỉ là một tín
(1) M. Gispert, Historia de las Misiones Dominicas en Tunkin, Avila 1928, tr. 610-612.
hữu tầm thường thiếu học, sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, nhưng lòng dũng cảm và đức tin kiên cường của ông thợ mộc Phêrô Đa không thua gì các vị mục tử của mình: chấp nhận hy sinh trọn vẹn, kể cả chính mạng sống, để giữ lòng trung tín với Đức Kitô.

• Đời sống đạo đức.
Phêrô Đa chào đời khoảng năm 1802 trong một gia đình lao động tại làng Ngọc Cục, xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định, thuộc địa phận Trung Đàng Ngoài. Thân phụ cậu là một Kitô hữu, nhưng thân mẫu là người ngoại đạo. Tuy thế, cậu Đa đã được đón nhận bí tích rửa tội ngày từ bé, và được giáo dục chu đáo niềm tin Kitô.
Ông Phêrô Đa theo nghề thợ mộc và đã lập gia đình. Ông là một gia trưởng gương mẫu, lưu tâm săn sóc con cái và hướng dẫn chúng bằng chính đời sống thánh thiện của mình. Đằng khác, ông rất nhiệt tình với việc chung và nhận làm ông Từ phụ trách kéo chuông và dọn đồ lễ tại thánh đường giáo xứ.
Sau chiếu chỉ Phân sáp, ông Phêrô Đa bị bắt khoảng 60 tuổi, và bị giải về phủ Xuân Trường với nhiều Kitô hữu khác. Sau sáu ngày bị giam, ông được giải đến Qua Linh. Tại đây ông chịu nhiều cuộc tra tấn dã man và nhiều khổ hình kinh khiếp, nhưng vị anh hùng luôn bền chí chịu đựng, không than van và nhất định không bước qua Thánh Gía. Khi biết chắc không thể làm ông khuất phục, quan liền kết án thiêu sinh ông Phêrô Đa cùng với một số chứng nhân đức tin khác.

• Vinh phúc người tôi trung.
Ngày 17.06.1862, vị tôi tớ trung kiên Phêrô Đa bị dẫn đến nơi xử án. Trên đường đi, ông biểu lộ nét hân hoan vui mừng. Ông bình thản cầu nguyện và phó dâng mọi sự trong bàn tay quan phòng của Chúa. Đồng thời ông khấn xin Chúa cho mình đủ can đảm chiến thắng cực hình sau cùng vì Danh Thầy Chí Thánh.
Khi ngọn lửa thiêu đốt sắp tàn, quân lính thấy ông vẫn còn sống, liền vung dao chém bay đầu vị tử đạo. Thế là thánh Phêrô Đa, người giáo hữu kiên cường bất khuất, có thể nói đã hy sinh về chân lý bất diệt đến hai lần: vừa bị thiêu đốt, vừa bị chém đầu. Thi hài của người tôi trung Đức Kitô được giáo hữu chôn ngay tại pháp trường. Năm sau giáo hữu lại cải về an táng tại quê nhà.

Ngày 29.04.1951, người thợ mộc làng Ngọc Cục, Phêrô Đa được Đức Thánh Cha Piô XII suy tôn lên bậc Chân Phước.
Ngày 26 tháng 06

Thánh Đaminh HENARES MINH (XUÂN)

Giám mục dòng Đaminh
(1765 – 1838)
• Lời kinh và ước vọng.

Lạy Chúa Giêsu rất dịu hiền là cha của lòng con. Xin Chúa vì cuộc tử nạn thánh, vì công nghiệp và lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin đoái thương đến bác của con, Đức Giám Mục Đaminh. Xin gìn giữ bác khỏi mọi sự dữ. Xin cho bác yêu Chúa thiết tha, trung thành phục vụ Chúa suốt cuộc đời. Và nếu cần để tôn vinh và làm danh Chúa hơn, xin cho bác được phúc đổ máu minh và hiến dâng mạng sống cho tình yêu Chúa để làm chứng cho đức tin. Amen.” (1)
Đó là lời kinh mà Đức cha Minh từ miền truyền giáo Việt Nam đã soạn gửi về quê nhà cho cháu mới năm tuổi đọc cầu cho bác. Cô bé đã dâng lời nguyện đó hằng ngày, dù em biết rất ít về người bác mình. Khi bà con lối xóm hỏi em về ông bác giám mục, em chỉ biết thưa; “Bác tên là Đaminh, tu dòng Đaminh, đang truyền giáo ở xa, thật xa, nơi mà người ta đang tàn sát các Kitô hữu.” Và Chúa đã nhận lời khấn xin tha thiết của hai bác cháu tại hai phương trời xa xăm đó.

• Theo tiếng gọi truyền giáo.
Đaminh Henares sinh ngày 19.12.1765 tại làng Baena, giáo phận Cordoba, nước Tây Ban Nha. Một vài năm sau, gia đình dọn về Granada, nơi cậu đã lớn lên và theo học các lớp phổ thông. Được thừa hưởng nơi người mẹ lòng đạo đức sốt sắng, Henares đã biết cách phát triển nó cách tuyệt vời. Trong khu phố, các phụ huynh thường nhắc đến cậu như một mẫu gương cho con cái mình. Còn bản thân cậu, càng ngày càng sôi sục trong lòng tiếng Chúa kêu goị vào đời sống tu trì. Năm 16 tuổi, Henares xin nhập dòng Đaminh ở tỉnh Granada. Nhưng mãi đến 30.08.1783, cậu mới được lãnh tu phục dòng tại tu viện Guadix (18 tuổi), năm sau thì tuyên khấn và theo học triết học. Ngay từ niên khóa đầu, thày Henares đã tỏ ra là một sinh viên xuất sắc, nên cuối năm đó, khi thày xin phép chuyển qua tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi để được truyền giáo ở Việt Nam, các bề trên đều tiếc nhớ. Thầy Đaminh đã nhận ra tiếng Chúa kêu mời qua lời cổ động khẩn thiết của Đức cha Obelar Khâm, địa phận Đông Đàng Ngoài: Đã 15 năm địa phận chưa nhận thêm được một thừa sai nào cả.
Còn Tiếp

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.