THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo

Ngày 26 tháng 11
Thánh Đaminh NGUYỄN VĂN XUYÊN
Linh mục dòng Đaminh (1786 – 1839)

Ai ơi giữ lấy túi khôn,
Đầy tràn tin cậy đầy lòng mến yêu.
Gươm đao đe dọa đã nhiều,
Quỷ ma cám dỗ sớm chiều lẻ loi.
Ai mà thắng được trên đời,
Mai sau hưởng phúc cõi trời cao sang.

Đó là những vần thơ lục bát do thánh Đaminh Xuyên sáng tác trong ngục tù, vừa diễn tả tâm tình của mình vừa khuyên nhủ các tín hữu đến thăm. Những vần thơ vắn gọn nhưng cô đọng trọn vẹn triết lý sống của các vị tử đạo, lòng tràn đầy niềm tin yêu vượt qua mọi gian khổ để chiếm đoạt vinh quang nước trời.
• Tấm lòng người tu sĩ áo trắng.
Đaminh Nguyễn Văn Xuyên còn có tên là Doãn, sinh năm 1786 tại làng Hương Hiệp, tỉnh Thái Bình. Thấy con có trí thông minh, cha mẹ cho cậu đi học chữ Nho, rồi gửi gấm cậu cho Đức cha Delgado Y dậy bảo. Được Đức cha nhắc nhở, cậu Xuyên chăm chỉ học hành, nhất là học hỏi giáo lý. Lớn lên, ngài cho anh vào chủng viện và trao ban chức linh mục năm 1819.
Ngày 20.04 năm sau, cha Xuyên tuyên khấn trọn đời trong dòng thánh Đaminh. Từ đó cha rất nhiệt thành phục vụ các giáo hữu, không ngừng đi nhiều nơi giảng tĩnh tâm, dậy giáo lý và sốt sắng cử hành phụng vụ bí tích.
Trước tiên cha Xuyên coi xứ Phạm Pháo, tỉnh Nam Định, rồi về xứ Kẻ Mèn, Thái Bình trong ba năm. Tại đây, ngài lập họ đạo mới, họ Thanh Minh, chọn thánh Vinh Sơn làm bổn mạng. Sau cha phụ trách xứ Đông Xuyên 13 năm. Thời gian này dân chúng bị hạn hán mất mùa nhiều năm, và bị giặc Phan Bá Vành quấy phá nên đói nghèo khổ sở. Có lần cha phải dốc cạn túi để giúp đỡ họ, có lần cha nhường phần cơm của mình. . . Bao giờ cha cũng để một ngân khoản riêng làm việc bác ái, từ thiện.

Cuối năm 1836, cha được bổ nhiệm làm phụ tá cha Fernandez Hiền tại chủng viện Ninh Cường giữa lúc cuộc bách hại của vua Minh Mạng gay gắt. Năm sau cha về làm quản lý địa phận Đông Đàng Ngoài, giúp Đức cha Delgado Y. Khi Đức cha phải lưu lạc về Kiên Lao rồi bị bắt thì cha Xuyên vừa tìm chỗ ẩn trốn, vừa giúp xứ Hạ Linh. Tuy phải lang thang nay nhà này mai nhà khác, cha cũng phục vụ các tín hữu ở đây được khoảng một năm. Ngày 18.08, cha đến cử hành lễ mừng thánh Gioakim, bổn mạng họ Phú Đường (họ lẻ xứ Hạ Linh) thì bị bắt. Một giáo viên trước có dậy ở Bùi Chu biết mặt cha đã đi báo quan kiếm tiền thưởng.
• Bền chí trung kiên…
Cha Xuyên dâng lễ gần xong, nghe tiếng gọi của quân lính, cha vội rước hết Mình Thánh, rồi cởi áo lễ đi trốn. Nhưng không kịp nữa, quân lính đã tóm bắt cha và dẫn đến quan phủ.
Quan phủ cười nói: “Đưa đây một số bạc, ta tha cho về”. Cha trả lời: “Tôi chẳng có đồng nào trong người, nếu quan tha, tôi cám ơn, nếu quan bắt, tôi xin chịu.” Về sau giáo hữu Hạ Linh góp tiền đem
đến chuộc, nhưng quan phủ không dám thả nữa vì trên tỉnh đã biết.
Khi nghe thuật lại chuyện, cha Xuyên an ủi lại: “Anh em hãy để tiền lo cha giáo xứ thì hơn, đừng tốn tiền chuộc làm chi vô ích. Ý Chúa đã muốn, chẳng ai làm khác được. Anh em cứ bình an về nhà, nhớ cầu nguyện cho tôi chịu sự khó cho nên.” Thế rồi cha mang gông nặng theo lính về Nam Định.
Biết cha là quản lý tòa giám mục, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh không những bắt cha bỏ đạo mà còn muốn khai thác các tài sản địa phận. Lần đầu tiên khi ra lệnh đánh đòn, Tổng đốc đứng ngay bên thúc giục: “Đánh nữa mạnh lên cho đến khi nó chịu khai và xuất giáo.” Người chiến sĩ đức tin chỉ biết kêu tên cực trọng “Giêsu Maria, xin cứu con” cho đến khi bất tỉnh phải khiêng về ngục.
Những lần sau ngài cố gắng cắn răng chịu đựng không kêu một tiếng, cũng chẳng tiết lộ điều gì về giáo phận. Quan Tổng đốc cho dùng những cực hình dã man hơn: lấy sắt nung đỏ dí vào cháy từng miếng thịt, cầm kìm nguội kẹp hay cắt nhiều chỗ trên thân thể. . . Nhưng cha can đảm gắng sức nói thẳng với quan: “Dù sống dù chết, tôi cũng không bỏ đạo. Tôi chọn cái chết để sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu mà muôn đời bị tiêu diệt.”
Nhiều lần quá đau đớn ngất xỉu giữa cuộc tra tấn. Sợ vị quản lý địa phận chết sớm, Tổng đốc sai lính đưa cha về ngục, cho mời lang y chữa trị để mong biết được những tài sản mà ông tưởng là vô số. Đến khi cha Xuyên bình phục, quan lại đưa ra khảo nữa, nhưng ông phải thất vọng vì thực sự địa phận chẳng có gì để khai, mặt khác, chẳng bao giờ cha chịu khuất phục bỏ đạo.
• Phần thưởng nước trời.
Ngày 25.10, quan Tổng đốc lập bản án trảm quyết gửi về kinh đô. Tháng sau bản án của cha Xuyên và cha Dụ trở lại Nam Định. Những ngày cuối hai cha được giam chung một phòng, tay bắt mặt mừng, xưng tội với nhau, an ủi khích lệ nhau vững chí cho đến cùng.
Ngày 26.11.1839, hai cha bị dẫn đi xử. Giữa quân lính đông đảo võ trang voi ngựa, hai vị chứng nhân Đức Kitô đi bộ mang gông, nhưng bình an vui vẻ, vừa đi vừa cầu nguyện cho tới pháp trường Bẩy Mẫu. Dân chúng đi xem đều bỡ ngỡ thán phục. Quan hỏi lại lần chót có muốn xuất giáo để được tha không. Hai vị trả lời: “Không”, rồi đưa tay cho lính trói vào cọc đã chôn sẵn.
Hai nhát gươm cùng vung lên, hai tôi tớ Chúa được lãnh triều thiên tử đạo tiến thẳng về Trời. Cha Xuyên với 53 tuổi đời, phục vụ Chúa trong chức vụ linh mục được 20 năm. Thi thể ngài được an táng ngay tại đó. Tháng giêng năm 1841, tín hữu cải táng hài cốt ngài về Lục Thủy.Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Đaminh Nguyễn Văn Xuyên, linh mục dòng Thuyết giáo lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Ngày 28 tháng 11
Thánh Anrê TRẦN VĂN TRÔNG 
Quân nhân (1814 – 1835)

• Trong vòng tay người mẹ.
Trong hạnh tích thánh Anrê Trần Văn Trông, người quân nhân xứ Huế, ta thấy nổi bật lên chân dung của một bà mẹ, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII ca tụng bà đã thể hiện lòng can trường “theo gương Nữ Vương Các
Thánh Tử đạo”. Như Đức Maria dưới chân Thánh Giá dâng hiến người ConYêu Dấu, bà mẹ đó cũng có mặt trong cuộc hành quyết để hiến dâng người con trai duy nhất của mình. Bà đi bên cạnh con, không than khóc, không sầu buồn, trái lại còn bĩnh tĩnh vui vẻ khuyên con hãy bền chí đến cùng.
Khi đầu Anrê Trông rơi xuống, bà mạnh dạn bước vào pháp trường kêu lớn tiếng trước mặt các quan: “Đây là con tôi, đứa con mà tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu của con tôi”. Nói xong, bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người con yêu quí, rồi mang về mai táng trong nhà.
• Tuổi xuân ước mơ.
Anh Anrê Trần Văn Trông sinh năm 1814 trong một gia đình Công Giáo ở Kim Long, Phú Xuân (Huế). Cậu là con trai duy nhất trong nhà, thế mà năm 15 tuổi, người cha lại mất sớm,
khiến gia đình lâm cảnh mẹ góa con côi. Để giúp mẹ mưu sinh, Anrê Trông đành thu xếp sách đèn, theo chân bà con lối xóm về họ Thợ Đúc dệt tơ cho hàng gia. Là người ngay thật, cậu không ăn
bớt của công, luôn chăm chỉ làm việc và không ưa những chuyện gây gỗ, bất hòa. Mỗi buổi chiều, sau những giờ lao động mệt mỏi, cậu thường vác cần câu đến ngồi bên bờ sông Hương xanh biếc, để
được gần gũi với thiên nhiên. Sử gia Rodriguez đã diễn tả tâm trạng của cậu qua những vần thơ sau (Martirologie III, pp. 158-159):
“Ôi êm đềm cảnh thiên nhiên trầm lặng,
Dưới ngàn cây râm mát thoảng hương hoa, Nước lung linh nghe thanh thản tâm hồn,
Sóng in dáng bóng non xanh xanh biếc. . .”

Nhưng cuộc đời êm ả đó không kéo dài được bao lâu, tháng 11.1834, triều đình ra lệnh những binh sĩ Công Giáo phải ra trình diện. Không chút e dè, Anrê Trông với 12 đồng đội cùng ở khu Thợ Đúc đến “ra mắt” quan. Quan yêu cầu các anh phải tuân lệnh nhà vua bỏ đạo và đạp lên Thánh Giá. Cả 13 chiến sĩ Công Giáo đều cương quyết khước từ. Các quan dùng biện pháp tra tấn dã man. . . Lần lượt 12 người bỏ cuộc, chỉ còn một mình Anrê Trông vẫn trung kiên đến cùng. Quân lính trói anh lại khiêng qua Thánh Giá, nhưng anh co chân lên, quyết không xúc phạm đến ảnh Chúa. Thế là từ trại lính, anh bị tống qua trại giam. Các quan kết án tử hình, nhưng còn giam hậu, nghĩa là chưa xử ngay.
Suốt một năm bị giam trong ngục, Anrê Trông chịu nhiều điều cơ cực khổ sở, nhưng niềm tin của anh qua những thử thách đó càng ngày càng vững mạnh. Anh sốt sắng cầu nguyện và đặc biệt phó thác đời mình cho Đức Mẹ, xin Chúa vì lời Mẹ Maria chuyển cầu ban cho ơn trung tín đến cùng. Những món quà tiếp tế nhận được, anh chia sẻ cho các bạn tù và lính canh ngục, nên được họ quí mến. Cũng chính nhờ đó, anh có cơ hội đặc biệt để đi xưng tội, rước lễ và thăm mẹ.
Khi biết tin có cha Ngôn đang hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một ngày dưới sự giám sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh mục, Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa. Lúc đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anh Trông liền bước qua thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ ra giữa dòng. Hai người nhỏ to “tâm sự” và anh quỳ xuống lãnh phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh ngỏ ý xin rước lễ, cha Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại nhà mẹ một đêm. Tả sao cho xiết niềm vui của hai mẹ con được tái ngộ trong hoàn cảnh bất ngờ này. Mẹ anh đã hết lời khích lệ động viên anh kiên tâm vì đức tin.
Tảng sáng hôm sau, anh Trông và người lính gác vội vã chèo thuyền đến điểm hẹn. Gặp lại vị “khách quí”, anh liền quỳ xuống lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn chúc lành: “Ước gì Mình Thánh Chúa Kitô sẽ giữ gìn con đến cuộc sống muôn đời”. Anh thưa: “Amen”. Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc mới lãnh nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên quan ngục.
• Nỗi lòng hai mẹ con.
Sau một năm giam tù, không hy vọng gì Anrê Trông thay đổi ý kiến, các quan quyết định ngày xử là 28.11.1835. Sáng hôm đó, người chiến sĩ đức tin gặp được người anh họ mình. Anh ta hỏi có muốn ăn gì không? Anrê Trông trả lời: “Em muốn ăn chay để dọn mình tử đạo”, rồi nói tiếp: “Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: đừng lo gì cho em cả, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện, và sẽ hài lòng về con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết.” Nhưng thực tế, người anh họ chưa kịp nhắn lại. Bà mẹ Anrê Trông khi hay tin con bị đem xử, liền vội vã ra đón con ở đầu chợ, nơi con sắp đi qua, gặp con, bà chỉ hỏi một câu vắn tắt:
“Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng, nếu có thì cho mẹ hay, mẹ sẽ trả thay con”.
Tấm lòng người mẹ là thế đấy. Bà biết rõ con của mình đủ can đảm chịu mọi đau đớn, giờ đây bà chỉ lo cho con về đức công bình.
Khi được con cho biết không vướng mắc gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh thêm lời khích lệ. Đến nơi xử, sau khi quân lính tháo gông xiềng, người chiến sĩ đức tin liền đón lấy, trao cho người lính cạnh bên và nói: “Xin nhờ anh đưa giùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm”. Mẹ anh đứng gần nên nghe rất rõ, nhưng bà chưa lấy kỷ niệm đó làm đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa
Chiêng trống nổi lên, lý hình vung gươm, đầu vị tử đạo 21 tuổi rơi xuống. Bà mẹ Anrê Trông chứng kiến ngay từ giây phút đầu tại pháp trường, bà thỏa lòng dù rất khổ đau, bước ra đòi viên chỉ huy trao thủ cấp cho bà. Bọc trong vạt áo rồi ghì chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lặp đi lặp lại: “Ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ nhé!”
Ngày 27.05.1900, Đức ‘ Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn người chiến sĩ anh hùng Anrê Trông lên hàng Chân Phước. Ngài không ngớt lời ca ngợi mẫu gương của bà mẹ hào hùng, đã họa lại gần trọn hình ảnh Đức Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo xưa trên đỉnh Can-vê.

Ngày 30 tháng 11
Thánh GiuSe MARCHAND DU
Linh mục Thừa Sai Paris (1803 – 1835)

Thánh Marchand Du bị xử bá đao.
(thân thể bị cắt đủ 100 mảnh)
• Người tử hùng bá đao.
Trong 117 thánh tử đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của thánh Marchand Du mang mầu sắc bi tráng nhất. Với gần ba tháng trong chiếc cũi chật hẹp, và những cuộc tra tấn chết đi sống lại, ngài là vị duy nhất bị án bá đao, nghĩa là bị cắt xẻo 100 nhát trước khi bị chặt ra làm bốn phần, còn thủ cấp bị nghiền nát đổ xuống biển. Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh đến những đau thương trong cuộc tử nạn, mà chúng ta quên mất những chứng từ đời sống của thánh nhân: sự nhiệt tâm truyền giáo, lòng yêu mến các tín hữu và chí cương quyết chỉ phục vụ Tin Mừng.
• Mong ước tuổi xuân.
Đầu thế kỷ XIX, tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy 10 tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây Thánh Giá, rồi bắt chước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là cậu Giuse Marchand. Mở mắt chào đời ngày 17.08.1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs. Ngay từ niên thiếu, dân làng đã thấý rõ ước muốn trở thành linh mục của cậu. Sau khi rước lễ lần đầu, cậu xin cha mẹ đi tu, nhưng vì gia đình làm nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu tìm cách trì hoãn cho cậu đổi ý. Tuy nhiên, Marchand đã không thay đổi ý định, cậu kiên quyết hoàn thành mộng ước tuổi xuân, cuối cùng bên người đổi ý là song thân của cậu. Năm 18 tuổi, Marchand gia
nhập chủng viện địa phận Besancon. Năm 1828, sau khi lãnh chức phó tế, thầy xin chuyển sang Hội Thừa Sai Paris. Độ nửa năm, thầy thụ phong linh mục (04.04.1829), sau đó một tháng thì đáp tầu qua Macao đến Việt Nam giảng đạo.
• Nhà du thuyết nhiệt tâm.
Tháng 03.1830, cha Marchand vào tới Việt Nam, và lấy tên mới là Du. Sau một thời gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha Du được gửi tới Pnom-Penh để coi sóc các tín hữu tại đây (khi đó vùng đất Campuchia thuộc địa phận Đàng Trong). Thế rồi ít lâu, cha được gọi về Lái Thiêu coi sóc các chủng sinh, đồng thời phụ trách 25 giáo họ, với khoảng 7.000 tín hữu thuộc tỉnh Bình Thuận.
Trong thư đề ngày 13.06.1832 gửi về quê nhà cha viết: “ … 25 giáo họ cách nhau rất xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không thể bỏ phí một giây nào … Từ năm giờ sáng đến chín giờ tối, nhiều ngày chẳng có lúc nào rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành chút thời giờ chu toàn các việc đạo đức riêng lo cho phần rỗi của mình, còn thì luôn luôn phải làm việc để thánh hóa kẻ khác. . . Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy hơn được nữa, để vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương tâm, lại còn bắt buộc phải di chuyển bằng thuyền, nên không thể đi mọi nơi, hầu dẫn về đoàn chiên Chúa Giêsu những con chiên bất hạnh lạc đường. . .”
Cha Du mới đi hết 25 giáo họ này được hai lần thì ngày 06.01.1833 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Au châu. Đức cha Tabert Từ, cha Cúenot Thể và các thừa sai dẫn theo các chủng sinh qua Thái Lan. Chỉ mình cha Du nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục Tỉnh, giúp các họ Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm, và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long.
• Tôi chỉ biết một điều là giảng đạo.
Lê Văn Khôi thực ra có họ Nguyễn, từng nổi loạn ở Cao Bằng, sau ra đầu thú, được Tả quân Lê Văn Duyệt nhận làm con nuôi, mới đổi qua họ Lê (1). Lợi dụng việc vua Minh Mạng xử tệ với Tả quân (khi đó đã thất lộc) cho đánh trên mộ 100 trượng. Lê Văn Khôi liền lấy cớ phò cháu đích tôn của vua Gia Long, con hoàng tử Cảnh tên là Đản. Việc bại lộ, Khôi bị bắt. Đến 05.07.1833, ông với khoảng 30 bạn tù vượt ngục, giết một vài quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu binh chiếm Phiên An (Sàigòn) và miền Lục Tỉnh.
Lê Văn Khôi tuy ngoại đạo, nhưng đã khôn khéo hứa hẹn bãi bỏ các lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể qui tụ nhiều người Công Giáo hơn ủng hộ mình, Lê Văn Khôi cho mời cha Du về Sàigòn, cha từ chối. Sau vì một số tín hữu Chợ Quán nói: “Nếu cha không chịu về, sợ quan giận mà chém hết bổn đạo trong thành. Ớ đó bổn đạo cũng đông lắm. . .” Thế là cha Du đành lòng về xứ Chợ Quán ở nhà thờ cha Phước, nhưng rất ít khi ở nhà, cha lo đi thăm các gia đình tín hữu. Lê Văn Khôi nhiều lần mời, cha vẫn không vào trong thành.
(1) Trần Trọng Kim, VN Sử lược, tr. 443.
Khi quân triều đình bao vây thành Gia Định, Khôi cho quan đem voi ra Chợ Quán bắt ép cha Du phải vào thành. Cha Phước và nhiều tín hữu khác cũng theo vô. Trong thành, tướng Khôi xử đãi cha khá rộng rãi, có nhà riêng để dâng lễ hàng ngày, các tín hữu có thể tụ tập ở đó để đọc kinh, nghe giảng và lãnh các bí tích. Khôi có ý mua chuộc để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: “Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành”.
Một hôm cha được mời vào dinh nguyên soái. Một xấp thư kêu gọi dân chúng và tín hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng Khôi xin cha ký tên. Vị linh mục thấy rõ đã đến lúc tỏ rõ lập trường của mình, liền đứng dậy cầm xấp thư, ném tất cả vào lửa, dầu vậy quân của Khôi không dám làm gì cha, vì sợ các tín hữu trong đội quân sẽ chống lại.
Sau hơn hai năm vây hãm, ngày 08.09.1835 quân triều đình đã chiếm lại được Phiên An. Cha Du vừa cử hành thánh lễ xong thì bị bắt, bị đánh đập và bị nhốt vào cũi nhỏ, dài một mét (1m), rộng bẩy tấc (0,7cm), cao tám tấc (0,8cm). Đó là “nha ở” của cha cho đến ngày bị xử tử, căn nhà mà chủ nhân chỉ có thể ngồi khom lưng suốt ngày đêm.
Số người bị tàn sát lên đến 1.994, trong đó có 66 tín hữu (chỉ có 20 nam, còn bao nhiêu là phụ nữ, trẻ em), cha Phước cũng bị xử lăng trì (chặt tay chân, rồi chẻ thân mình làm bốn). Cha Du được đưa ra xét xử:
– Giặc đã đem thầy vào thành, thầy không làm gì để giúp chúng sao?
– Tôi chỉ lo một việc giảng đạo mà thôi.
– Giảng đạo là giống gì?
– Là đọc kinh, làm lễ và dậy dỗ bổn đạo.
– Thầy có biết làm thuốc mê để dỗ lòng ngụy cho nó theo không?
– Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi.
Sau hai cuộc tra vấn nữa, cha Du bị giam trong
cũi và bị áp giải về kinh đô cùng với tổng Trắm, đồ Hoành, bốn Bang, phó Nhã và con trai Lê Văn Khôi là Lê Văn Viên mới bẩy tuổi. Đoàn người về tới Phú Xuân ngày 15.10, cha Du bị giam trong ngục Võ Lâm gần tòa Tam Pháp.
• Đàng sau bản án phản loạn.
Hôm sau 16.10, cha Du bị đưa ra tòa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội giúp Khôi làm loạn. Nhưng cha khẳng định: “Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ thôi”. Quan hạch hỏi:
– Có phải ngươi gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Gia Tô trong Đồng Nai, biểu nó đến giúp ngụy không?
Cha Du trả lời:
– Ông Khôi có biểu tôi viết thư, song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: Đạo tôi cấm làm như vậy và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy mà đốt trước mặt ông ấy.”
Để bắt cha nhận tội, tối hôm sau, các quan dùng đủ cực hình kìm kẹp: Họ cho nung đỏ kìm sắt và cho kẹp hai lần vào hai đùi cha, rồi giữ nguyên cho tới khi kìm nguội. Mỗi lần như vậy mùi thịt cháy xông lên khét lẹt, chính quân lính cũng phải quay mặt đi. Vị anh hùng đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ nguyên lời khai cũ. Họ đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.
Để tạo chứng gian buộc tội cha, các quan dổ con trai Lê Văn Khôi, hứa trả tự do nếu khai rằng “ông thầy Tây” giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu bé bẩy tuổi ấy không biết nói dối, cậu nói cha Du hoàn toàn vô can, dầu cha cậu có hứa hẹn, khuyên dụ nhiều phen.
Cuối cùng, các quan đành xoay qua “tội giảng đạo”. Họ nhắc đến chiếu chỉ nhà vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua Thánh Giá. Cha Du cám ơn quan và tuyên bố sẵn sàng chịu cực hình, chứ không thể thất trung với Chúa. Họ lại tiếp tục nhốt cha trong cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô đã trôi qua như thế. Các tín hữu ghé vào thăm và tiếp tế cho cha, đều thuật lại rằng: “Cha Du vẫn luôn vui vẻ và thường cầm cuốn sách nhỏ để đọc đêm ngày”.
Thừa lệnh vua Minh Mạng, bản án cuối cùng được viết như sau:
“Tây dương Ma Sang kêu là danh Du, Gia Tô đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội có viết thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh xử bá đao”.
• Chết vì lý do tôn giáo.
Sáng hôm 30.11.1835, bẩy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người đến tham dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê Văn Viên được đưa ra khỏi cũi (phó Nhã đã chết trong ngục), mọi người chỉ được đóng khố, rồi dẫn đến cửa Ngọ Môn trình diện và phục lạy vua năm lạy. Vua Minh Mạng tỏ vẻ giận dữ ném chiếc cờ hiệu xuống đất. Đó là dấu không ân xá lần cuối, năm tội nhân được đưa ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa vào tòa Tam Pháp tra khảo một lần nữa. Đọc nội dung cuộc tra khảo này, chúng ta thấy quan quân không đá động gì đến lý do chính trị cả!
Năm người lính cầm năm kìm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. Phía sau là năm người lính khác cầm roi để năm lý hình không được phép nương tay. Ba lần kìm kẹp, thân thể cha Du đã có đủ 15 vết bỏng. Song song với cuộc tra tấn là mẫu đối thoại sau:
– Tại sao đạo Gia Tô móc mắt mấy người gần chết?
– Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.
– Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn thờ?
– Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trứoc mặt các tín hữu ở đó.
– Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không?
– Không, chẳng hề có những điều quái gở.
– Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lũ để phát cho những đứa đã xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?
Cha Du đã kiệt sức không thể trả lời được nữa. Lính dọn cho tử tội bữa ăn sau cùng, nhưng cha không dùng chi cả, chỉ lo cầu nguyện với Chúa. Sau đó lính đưa các tử tội đến pháp trường tại họ Thợ Đúc bên sông Hương, cách kinh thành một dặm đường.
• Chết như một tội nhân.
Năm cây cọc đã cắm sẵn. Lính trói năm tử tội, cha Du bị trói vào cây cọc thứ hai. Ngài bị án “Phản loạn” và sẽ chết giữa những người phản loạn. Dân chúng bị đuổi lùi ra xa 30 thước. Cứ mỗi tử tội lại có ba lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một lo đếm số cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng tội nhân và cột chặt, để không ai có thể kêu la được nữa.
Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mặt, rồi cắt từng mảnh hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị chứng nhân giẫy giụa, quằn quại, ngước mắt lên trới cao rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa đời. Tiếp theo quân lính cắt đầu của ngài, cởi dây, bổ thân mình làm bốn, và ném xuống biển chung với bốn tử tội kia. Còn thủ cấp cha, được đưa đi bêu tại nhiều nơi, rồi được trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.
Ngày 30.11.1835 cũng là ngày kính thánh Anrê. Các thánh lễ hôm đó đều đọc lại đoạn sách Isaia (Is 52, 7): “Đẹp thay bước chân người rao giảng Tin Mừng” như lời chúc tụng vị thừa sai đã hoàn tất sứ mạng tông đồ của mình. Giáo Hội đã rất thận trọng khi nghiên cứu hồ sơ cha Marchand Du, căn cứ vào các buổi tra khảo, nhất là cuộc thẩm vấn cuối cùng. Giáo Hội khẳng định ngài đã hiến mạng sống vì đức tin.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900
(1) Diễn biến bị bắt, các lời khai cuộc tử đạo của linh mục Du đựơc hai thừa sai De La Motte và Marette thuật lại cho thánh Bộ Truyền Giáo trong thư ngày 29.01 và ngày 21.02.1836, nghĩa là ba tháng sau cuộc tử đạo. Xin coi Anneles de la Propagation de la Foi 1836, pp573-585, Đại Nam Thực Lục XI, tr. 243-247 đã sáng tác những câu trả lời tương ứng với câu hỏi.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.