Trái tim Chúa Giêsu thương xót con dường ấy

Thụy Miên.

Có những lần nó mơ thấy nó đi lang thang trên vỉa hè của vực thẳm của đường đời. Nó tưởng chừng như sẽ té nhào xuống đáy sâu, và chính giây phút ấy nó đã kêu to lên cùng Chúa: “Lạy Chúa Giêsu. Xin cứu giúp con”.

Nó được chào đời vào những ngày đầu của mùa rét, gió lạnh thổi vào căn buồng của bố mẹ nó, đã làm nó rét run cả người, khóc thét liên hồi đến nỗi ướt cả tã. Cái tã cuối cùng mà mẹ nó vừa thay cho nó, để có giờ đi giặt đống tã vải mà nó đã làm ướt cả đêm qua. Bố nó đi lính cho Pháp, chức tước binh nhì và được bổ sung vào ban quân xa. Nó chỉ được nghe mẹ nó kể lại, nó đã được sinh ra vào những năm đầu thập niên 50, tại cái bốt lính ở Lực Điền, tỉnh Hưng Yên. Thế rồi cuộc chiến chống Pháp đã đến ngày tàn, và người Pháp rút quân theo hiệp định Genever 1954. Cùng thời gian ấy, cơn dịch đậu mùa đang lan tràn khắp nơi các tỉnh miền Bắc. Trẻ em như nó chết nhiều lắm, có xóm chẳng còn đứa trẻ nào, có nơi chỉ còn một vài đứa với các biến chứng như mù mắt, tịt lỗ mũi, và lẽ dĩ nhiên mình mẩy, khắp thân thể đầy các vết sẹo to như hạt ngô. Nó là một trong những đứa trẻ còn sống sót ở thời gian ấy.

Chúa đã động lòng trắc ẩn khi thấy mẹ nó gầy gò, mệt mỏi, bồng ẵm nó trên tay, miệng thì thầm khấn dâng nó cho Trái tim Chúa Giêsu, cầu xin cho nó được chữa lành. Những đồng tiền cuối cùng của gia đình, nay đã được dùng để hốt cho nó vài thang thuốc bắc với sự cầu mong Chúa sẽ cho nó gặp được thầy, được thuốc.

Nó đã được chữa lành với đôi mắt sáng, nhưng biến chứng của cơn bệnh đậu mùa đã làm cho hai lỗ nũi cũa nó bị teo hẹp lại như cái ruột của bút mực nguyên tử. Vào trong miền Nam năm 1954, nó cũng được giải phẫu để nong lỗ mũi, nhưng cứ bỏ cái ống nong mũi ra thì chỉ ít hôm là lỗ mũi bị teo hẹp trở lại. Hễ nó đi đến đâu thì trẻ con bu quanh nó để xem hai cái ống cao su lòi ra ngoài khỏi lỗ mũi chừng 2 phân. Người lớn thì tội nghiệp cho nó vì nó gầy gò, xấu xí lại phải đeo ống cao su để nong mũi.

Nó đã tập thở bằng miệng ngay từ lúc còn bé xíu. Nó lớn lên trong vòng tay ấu yếm và chăm sóc của mẹ nó nhiều hơn của người cha. Bố nó là lính bộ binh thời chiến cơ mà, chả mấy khi được về thăm nhà lâu, và đủ thời gian để mà dạy dỗ hay chăm sóc cho anh em nó. Nó sống và lớn lên trong tình yêu của Thiên Chúa là Cha ngự trên trời hằng luôn thương yêu nó, dù nó chỉ là thằng bé xấu xí, bệnh tật.

Ngày tháng trôi qua. Nó lớn lên trong đất nước vẫn còn chiến tranh Nam Bắc, giữa chủ nghĩa Tự Do và chủ nghĩa Cộng Sản. Bạn bè của nó, nhiều người đã chết vì hy sinh chính nghĩa, thế mà nó vẫn còn ngồi mài đũng quần trên ghế của trường Đại Học. Nó tin vào lời khấn hứa của mẹ nó ngày xưa vẫn được Chúa nhận lời, vì Người động lòng trắc ẩn, thương cho số kiếp nghèo và bệnh tật của nó. Chúa đã cho nó sinh ra làm người và nay cho nó sống thành người.

Nếu như Chúa chấp tội vì những lần nó đã oán trách Chúa, và từ chối lòng yêu thương của Chúa, thì chắc giờ này nó đâu còn sống để mà viết. Chiến tranh vào những tháng năm cuối, càng ngày càng trở nên khốc liệt. Nó cũng như các sinh viên khác vào năm 1972 bị động viên, đôn quân gia nhập quân ngũ, để đi giữ gìn đất nước và cứu nước. Thế nhưng, một lần nữa nó lại được hoãn dịch vì lý do sức khỏe. Các quân đội đồng minh rút lui, để lại cho các chiến sĩ Việt Nam gánh nặng trách nhiệm tràn trề. Con số tử vong ngày càng gia tăng, nó làm sao có thể ngồi yên mà học, và nó quyết định đi lính, một cách âm thầm không cho bố mẹ nó biết. Nó đã tình nguyện xin gia nhập quân ngũ trong kỳ tái khám sức khỏe 9 tháng sau đó.

Đời nó thay đổi từ ấy. Khoác áo chiến y, vai đeo túi quân trang, nó cùng bạn bè leo lên xe cam nhông đến quân trường Thủ Đức. Nó đã được rèn luyện để trở thành một người quân nhân trong thời loạn. Đứa con trai đầu lòng của nó, được chào đời trong lúc nó còn đang được huấn luyện trong quân trường.

Ngày nó gần ra trường, chiến trận càng gia tăng. Số binh lính tử vong ngày càng nhiều. Nhớ vợ thương con là điều làm nó phải suy nghĩ về tương lai. Nếu như chỉ một vài lần đụng trận sau khi ra trường mà nó đã bị hy sinh, thì chính nó đã đem sự đau khổ cho vợ con của nó. Biết thế nào hơn đây, nó đành phó thác và dâng vợ con của nó cho Chúa, và xin Người gìn giữ, định liệu cho cuộc đời của nó. Một lần nữa Chúa lại nhận lời. Trong ngày mãn khóa, nó và một số anh em có tên được chọn về Trường Quân Y, để được huấn luyện cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Trong cuộc sống đạo của nó, nhiều lần Chúa đã thử thách nó. Người đã để nó đối diện với sợ hãi tột cùng, rồi Chúa mới cứu vớt nó. Người đã để nó lầm lỗi rồi mới sửa phạt nó. Người đã để nó kiêu căng rồi mới trách cứ nó. Người đã để nó trong cô đơn, buồn bã, và bật thành tiếng khóc rồi Chúa mới vỗ về, ủi an nó. Có những lần nó mơ thấy nó đi lang thang trên vỉa hè của vực thẳm của đường đời. Nó tưởng chừng như sẽ té nhào xuống đáy sâu, và chính giây phút ấy nó đã kêu to lên cùng Chúa: “Lạy Chúa Giêsu. Xin cứu giúp con”. Nó đã giật mình tỉnh giấc, thoát khỏi cơn mộng hãi hùng ấy. Người ta bảo nó: “Có đầy trong bụng thì mới phát ra lời nói, hay đêm nằm mới mơ thấy điều ấy”. Chẳng biết có đúng không, nhưng nó vẫn nằm mơ thấy bị công an rượt bắt, trong những lần nó đi vượt biển ngày xưa. Có thể những giấc mơ là điều báo mộng cho nó phải cầu nguyện thật nhiều, ăn ngay ở lành, làm việc tích đức nhiều hơn nữa, để khỏi phải sa chước cám dỗ, và tránh khỏi làm điều ác. Cũng chính những giấc mơ về những ngày đói khổ ấy, đã giúp nó sống cách đơn giản trong xã hội đầy tiện nghi ở Úc này. Nó mua nhà to nhiều phòng cho con cái, chứ hai vợ chồng nó chỉ cần một cái phòng vừa phải là đủ rồi. Nó cứ nghĩ đến câu chuyện Thiên Chúa ban bánh Mana cho dân Do Thái, và kinh Lạy Cha về chuyện của ăn hàng ngày mà lấy làm tâm đắc. Mọi người chỉ xin Chúa cho có đủ bữa ăn hàng ngày mà thôi, chứ đâu có xin cho dư để dành ngày mai đâu. Ngày nào lo tròn bổn phận ngày ấy là đủ rồi. Lo lắng quá mà làm chi cho mệt thân già của nó.

Cuộc chiến tàn, nó cũng như biết bao nhiêu quân, dân, cán, chính của miền Nam. Mọi người bị ghép tội với hai chữ: “Phản động” hay đơn giản hơn là chữ: “Ngụy”. Đời nó lại thêm một lần đổi thay. Tay trắng tay vì những lần đổi tiền và thật ra thì vợ chồng nó đã trắng tay ngay từ ngày mất nước vì chơi hội, người ta tản mát một người một phương trời, biết ai đâu mà tìm. Nó lâm cảnh khốn nghèo. Ăn mặc thiếu thốn, cộng thêm sự dòm ngó theo dõi của tai mắt công an và những người từ sâu bọ lên làm người. Đã nhiều lần đức tin của nó yếu kém đến độ nó thốt lên: “Thế là hết”. Đời nó chỉ còn hai chữ tuyệt vọng. Thế nhưng, Chúa vẫn còn thương yêu nó. Người dạy đã cho nó bài học của vua Salomon, để nó biết kh-iêm nhường, ăn năn thống hối, và cuối cùng Người đã cho nó niềm hy vọng trong cõi tuyệt vọng của nó.

Chúa đã sai sứ thần của Người đến cứu giúp nó qua các vị ân nhân. Có người chỉ cho nó nấu kẹo kéo, có người chỉ nó đan võng, người thì dạy nó cách sửa đồng hồ hư, có người rũ nó đi mua than về Sài Gòn bán, lúc thì đi mua mía, đi lấy củi trong rừng về bán ở chợ. Cuối cùng nó gặp được một người chỉ cho nó cái nghề mà nó thích nhất và cũng từ đó mà nó có cơ hội nghĩ đến chuyện vượt biên. Cái nghề đi chích heo, thì chẳng khấm khá gì, nhưng từ đó nó đỡ bị dòm ngó, theo dõi, vì đa số nhà của những người có chức, có quyền thời đó mới có tiền để nuôi bày heo nái. Đêm hôm lúc nào họ gọi là nó có mặt ngay. Nó tận tình, siêng năng nên được bà con thương, và từ đó tự nhiên nó có cái phép tự do đi vắng nhà mà không cần giấy tờ gì cả.

Thế rồi sau nhiều lần đi vượt biển hụt, nó đã đến được bến bờ đảo Bi- Đông vào lần thứ 8.

Cuộc hải trình chỉ dài có 5 ngày thôi mà tràn đầy nguy hiểm. Chiếc thuyền nhỏ dài 9 mét, ngang cỡ 1.5 mét với cái máy chưa được một ‘lốc’, chở 35 người vượt sóng ra khơi. Gặp ngày sóng to, gió lớn. Thuyền bị sóng nhồi, lắc lư, nước ngập vào hầm của tầu. Mọi người tát nước trong tầu. Nó cầm tay lái cách bất đắc dĩ, và ngửa mặt nhìn lên bầu trời đen kịt với cơn mưa to nặng hột. Nó có nhìn thấy Chúa đâu, nhưng nó tin có Chúa ở trên cao. Nó bắt đầu cầu xin Chúa với lời thật chân tình phát xuất tự đáy lòng của nó: “Lạy Chúa, nếu con có tội xin Chúa phạt riêng con, nhưng con xin Chúa thương xót đến 34 người đang ở trong chiếc tầu này. Xin vì sự vinh quang của Chúa, và lòng thương xót của Chúa mà cứu giúp chúng con”. Trong ngay giây phút ấy, nó tự nghĩ tiếp: Con hứa sẽ sống suốt cả quãng đời còn lại, làm việc để làm sáng danh Chúa, và cho xứng với lòng Chúa đã yêu thương con”.

Sóng vẫn cao ngất trời và gió vẫn to, thế nhưng tự đầu những ngọn sóng to ấy, nó đã thấy xa xa xuất hiện một dãy đèn điện màu vàng cũng đang nhấp nhô theo sóng. Nó cho tầu chạy nhắm theo hướng các ngọn đèn ấy, nó đã gặp được làng chài của người dân Malaysia. Họ chỉ cho nó hướng vào bờ. Thế là hơn 5 giờ sau nó đã đặt chân lên bờ của một đảo hoang gần đảo Pulau Tioman, một đảo du lịch nổi tiếng của nước Mã Lai, và được cảnh sát chở vào bờ. Ngày nay, nó vẫn nhớ lại việc đầu tiên khi nó lên tới bờ, nó quỳ xuống hôn cát của bờ biển và tạ ơn Chúa đã nhận lời. Nó vẫn nhớ lời nó đã hứa với Chúa lúc còn ở giữa biển khơi.

Bây giờ nó luôn sống trong tình yêu của Chúa, và trong tinh thần tông đồ giáo dân. Nó mong có thể thực hiện lời hứa khi xưa của nó với Chúa. Có nhiều bạn bè của nó hỏi lý do tại sao vậy, nó chỉ cười trả lời vì nó bắt chước gương sống đạo của ông kia, bà nọ. Trong gia đình của nó, nó có lần nghe được người con dâu và vợ nó nói chuyện, đã gợi cho nó về việc đáp đền ơn. Hàng năm, vợ chồng nó thường về Melbourne thăm con cháu. Mỗi lần về thì vợ nó cùng người con dâu hay đi mua thêm ít thực phẩm để mang về xứ Tasmania, đứa con dâu trả tiền khi ở shop, nói là về nhà hãy tính. Khi về đến nhà, vợ nó móc tiền ra trả, thì con dâu của nó từ chối khéo: “Ba mẹ cho chúng con thì nhiều, chứ chúng con đã làm được gì để báo đáp công ơn cha mẹ đâu. Mẹ hãy để cho chúng con có cơ hội đi mà mẹ”. Cảm động thay, cũng đáng với lý tưởng của nó: ‘sống cho và vì con cái’ của nó.

Thật ra đời sống của gia đình nó đã nhận được biết bao ơn lành của Chúa ban cho, chứ chính nó đã làm được điều gì, để gọi là đền đáp lại ơn Chúa đâu. Đấy cũng là lý do để nó sống đạo tuổi già.

Trước là làm gương cho con cháu, sau là có chút gì đáp lại lòng yêu thương của Thiên Chúa đã ban cho suốt đời của nó.

Hy vọng câu chuyện kể trên của nó, như là mẩu chuyện trả lời cho bạn bè của nó về lý do tại sao nó làm việc tông đồ. Cũng may là cả hai vợ chồng của nó đều đồng tâm nhất trí, chứ nếu không thì nhất định mang tiếng là: “Ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng”. Xin gởi đến mọi người bản kinh dâng mình cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, cùng kính chúc toàn thể qúy vị độc giả báo Dân Chúa được tràn đầy hồng ân của Chúa trong 6 này.

– Kinh Dâng Mình Cho Thánh Tâm Chúa Giêsu

(của Đức Piô XI)

“Lạy ơn Trái Tim cực trọng Đức Chúa Giêsu đã thương chúng con vô cùng

Ai kể cho xiết được những ơn Trái Tim cực thánh đã ban cho chúng con.

Từ khi Đức Chúa Giêsu mới sinh ra, thì Trái Tim Người đã nghĩ đến chúng con là kẻ hèn mọn. Mọi việc Người làm thì đã làm vì chúng con. Người đã chịu đau đớn, đã chịu nạn, đã chịu chết.

Trái Tim Người đã chịu cực khổ vì chúng con. Chúng con mê muội bấy lâu nay, chưa suy ơn Đức Chúa Trời nên.

Xin Đức Chúa Trời tha tội tha vạ cho kẻ có tội. Chúng con là kẻ khốn khó, chẳng biết làm thế nào mà đội ơn cho xứng đáng.

Nay ơn trên trời soi sáng thì chúng con mới biết Đức Chúa Giêsu muốn cho người ta kính mến Trái Tim Người cách riêng.

Thật là chúng con thiếu thốn mọi đàng, trong mình những thấy tội lỗi, chẳng có sự gì lành đáng dâng cho Trái Tim cực thánh.

Chúng con xấu hổ lắm, sấp mình xuống dưới chân Đấng nhân lành vô cùng.

Chúng con hợp một ý cùng Bề trên mà dâng mình cho Trái Tim cực trọng Đức Chúa Giêsu.

Chúng con dâng linh hồn, xin Trái Tim gìn giữ cho sạch mọi tội.

Chúng con dâng xác, xin Trái Tim ban ơn cho được làm tôi Đức Chúa Trời.

Mọi sự bề trong bề ngoài, mọi việc chúng con làm; sự sống, sự chết, tài trí, của cải, hết mọi sự chúng con dâng cho Trái Tim thay thảy.

Dù khi chúng con được sự gì lành, dù khi phải sự gì khốn khó, thì xin chịu bằng lòng cho sáng danh Trái Tim Đức Chúa Giêsu.

Chúng con cũng xin dâng cả anh em, họ hàng, xin Trái Tim gìn giữ cùng ban mọi ơn lành.

Ớ Trái Tim cực thánh, xin cai trị trong lòng chúng con.

Xin che chở chúng con cho khỏi chước ma quỷ. Xin thêm lòng tin, cậy, kính mến cho chúng con được đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Xin phá những sự dữ hay vây bọc tư bề. Xin cứu lấy chúng con trong giờ sau hết.

Xin ban mọi ơn lành cho Đức Giám mục chăn giữ con chiên Đức Chúa Giêsu.

Xin phù hộ cho các Linh mục được đẹp lòng Đức Chúa Trời, cùng xin giúp các Đấng, các bậc được dạy dỗ chúng con cho nên.

Ớ Trái Tim hay thương vô cùng, xin chịu lấy trái tim hèn mọn chúng con. Xin ban lòng kính mến một ngày một hơn ở đời này.

Xin đưa chúng con lên Thiên đàng hưởng Trái Tim Đức Chúa Giêsu đời đời chẳng cùng. Amen”.

(Toàn niên Kinh nguyện, Bùi chu trang 135).

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.