Trần Gian Là Kiếp Sống Nhờ, Ở Tạm

Ngày xưa đã có rất nhiều vị vua đã cố công tìm kiếm dược liệu, để họ có thể kéo dài tuổi thọ, với hy vọng được hưởng thụ lâu dài trên ngôi báu hoàng đế, nhưng tiếc thay, họ đã thất bại. Trần gian chỉ là nơi ở tạm bợ trong kiếp nhân sinh ngắn ngủi và ngôi vị, chức vụ cũng chỉ là nhất thời do người đời ban cho mà thôi. Chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, với niềm tin tưởng chắc chắn rằng chúng ta sẽ được sống lại trong ngày sau hết. Nói như thế, kiếp sống ở trần gian này chỉ là một thời gian ngắn ngủi, còn có một kiếp sống đời đời, mà giả như ông bà tổ tiên của chúng ta đã không phạm tội, thì chúng ta đã được sự sống đời đời như các thiên thần từ lâu lắm rồi.

Có người hỏi tôi tại sao các cụ ngày xưa lại nói rằng: Kiếp sống ở trần gian là kiếp sống nhờ, ở tạm?

Xin thưa vì những lý do mà đề tài Dân Chúa tháng 4 này, tôi muốn dẫn chứng cùng mọi người như sau:

Khi chúng ta còn ở trong bụng mẹ

Bào thai nhỏ bé ấy đã được tạo thành trong cung lòng của người mẹ, sống nhờ dòng máu của người mẹ cung cấp cho thai nhi qua cuống nhau, và thai nhi đã nhờ khối nước ối trong cung lòng người mẹ che chở, mà thai di chuyển ngược xuôi một cách dễ dàng. Thai nhi đã sống nhờ ở cung lòng người mẹ, được nuôi dưỡng từ dòng máu của người mẹ trong suốt chín tháng mười ngày trước khi em được chào đời. Đây là cuộc sống tạm đầu tiên của loài người, cho dù bào thai có quyến luyến cung lòng người mẹ thế nào đi chăng nữa, thì khi đã đủ tháng, đủ ngày, thai nhi ấy cũng phải buộc chia rời, để chào đời bằng tiếng khóc đầu đời. Có những trường hợp buồn thảm xảy ra khiến cho cuộc sống tạm ấy bị ngắn hơn. Thí dụ như vì bệnh, vì tai nạn, vì bị hành hung, hay vì sự phá thai, đã khiến cho các thai nhi ấy đã bị trục xuất ra khỏi cung lòng người mẹ, trước hạn định, và thê thảm hơn nữa là các thai nhi ấy đa số bị chết.

Khi bé được chào đời

Khi đứa trẻ được sinh ra thì nó đã cất tiếng khóc chào đời. Các cụ cho rằng tiếng khóc của đứa trẻ càng to, thì càng tốt. Điều này báo hiệu cho mọi người biết rằng em bé còn sống, sau khi đã vượt thoát ra khỏi lòng mẹ. Em hít tràn đầy khí trời vào phổi và thở ra mãnh liệt qua đường miệng, hơi thở đụng chạm vào hộp thanh quản và phát ra tiếng khóc. Kể cũng lạ thật, tại sao lại không phải là tiếng cười, hay một thứ tiếng nào khác, mà tất cả mọi trẻ sơ sinh đều phát ra tiếng khóc.

Trẻ sơ sinh sống được nhờ tình yêu thương của mẹ cha, của anh chị trong gia đình. Thật vậy từ những giọt sữa đầu tiên của người mẹ, đến hơi thở ấm áp của người mẹ, những nụ hôn âu yếm và tất cả sự thương yêu của anh chị em, ông bà, chú bác, đã giúp cho em bé ngày càng một lớn hơn. Nhờ vào sự chăm sóc ấy mà em đã tránh được biết bao nhiêu cơn bệnh, những vi trùng đang có sẵn trong môi trường để huỷ hoại em. Em có biết chăng, người mẹ của em đã chịu nhịn những thứ mình thèm muốn, kiêng ăn, kiêng uống, để cho em có thể được bú những giòng sữa tinh khiết, bỗ dưỡng. Mẹ cha vất vả thức đêm vì tiếng khóc của em, thay tã cho em, hay cho em bú. Mọi sự em đều diễn tả bằng tiếng khóc, như : Khóc vì đói, khóc vì đau như đau bụng, đau vì ruột quặn và thắt vào nhau, khóc vì sài, đẹn, gặp cơn gió độc hay bị người nặng vía bồng ẵm, khóc vì đái, ỉa là em ngứa ngáy khó chịu, hay em khóc vì muốn tìm hơi ấm áp của mẹ cha.

Sự hy sinh của mẹ cha để cho em được sống thì rất nhiều. Ngày xưa , các cụ thường nói rằng:“Chỗ ướt mẹ nằm, để em được nằm chỗ khô”. Mùi hơi sữa trên da thịt của em là thứ mùi cha mẹ thích còn hơn bất cứ loại nước hoa khác trên thế giới. Thiên chức làm cha, làm mẹ giờ đây giúp họ sống đời hy sinh vì con, và cho con cái. Những lúc em ốm đau là những lúc cha mẹ của em lo buồn và sầu khổ nhất. Họ bỡ ngỡ vì chưa bao giờ được đối diện với người con bé bỏng của họ bị bệnh, dù chỉ là một cơn sốt bình thường, hay chỉ vài một tiếng húng hắng ho. Họ ngỡ ngàng khi con trẻ biếng ăn, tiêu chảy hay táo bón, nổi mụn đầy người, và rồi họ lo sợ đi hỏi han kinh nghiệm từ những bậc lớn tuổi hơn, hay mang em đến vị Bác sĩ gia đình.

Cái thời gian từ lúc sinh ra cho đến khi em được 12 tháng, chính là mỗi lo buồn nhất của người cha, người mẹ của em. Vì em chưa biết nói, vì những tai nạn có thể xảy ra như té ngã, vì sức kháng thể của em còn yêu ớt, vì em cần được ôm ấp, bóp tay, bóp chân, vì em đã biết phân biệt người lạ, người quen qua việc ngửi mùi. Em có biết chăng có nhiều khi cha mẹ giận nhau cũng vì tiếng khóc của em.

Em được nuôi dưỡng lớn dần và bước vào giai đoạn từ 1 đến 5 năm tuổi. Ở tuổi này, em vẫn phải sống nhờ vào sự chăm sóc của mẹ cha và anh chị em trong gia đình. Từ cái ăn, thức uống, cái áo, cái quần. Sự chăm sóc cho em càng nhiều hơn, vì nhu cầu của em như: quần áo, đồ chơi, sách vở, ăn uống, và thuốc men. Em vô tư nhưng cha mẹ càng ngày càng yêu thương, chăm sóc cho em nhiều hơn. Họ hãnh diện với bạn bè vì có em, hơn là than vất vả. Còn em, em vẫn sống được vì nhờ vào bàn tay của cha mẹ hoàn toàn. Thế nhưng em bây giờ có nghĩ lại giai đoạn sống này của em không. Chắc là không, vì bây giờ có nhiều em cho rằng đây là chuyện đồng lần mà ai làm cha mẹ cũng đều phải lo lắng như thế.

Em ơi! Hãy lắng nghe điều tôi kể như sau: Em còn sống và được sống là nhờ tình thương của cha mẹ đối với em vô giới hạn, đến nỗi họ sống cho em, vì, và với em. Em may mắn được sinh đúng thời hạn, chứ không phải bị đẻ non, em sinh ra với thân thể lành mạnh và đầy đủ. May mắn cho em, Chúa đã cho em được làm người có đủ mắt, đủ tai, đủ tay chân chứ không bị tàn tật hay khiếm khuyết bẩm sinh. Em đã có bao giờ biết tạ ơn Chúa hay chưa? Em có bao giờ nói lời cảm ơn mẹ cha hay là một việc hy sinh nào đó để giúp lại cho mẹ cha hay chưa? Không phải chỉ làm và cảm ơn như người Úc một năm một lần trong ngày của cha, ngày của mẹ mà thôi. Em sống nhờ và được sống bởi công ơn của cha mẹ suốt thời niên thiếu của em mà phải đợi đến ngày của cha mẹ thì em mới mua cái thiệp, viết vài chữ nguệch ngoạc, giả dối để gởi cho cha mẹ hay sao?

Phần tôi cũng như bao nhiêu đứa trẻ bị ốm đau từ thủa bé, mỗi lần tôi bị bệnh là tôi đều nhớ đến người mẹ của tôi. Mẹ tôi chịu đủ mọi sự đau khổ, nghèo đói để tìm thày thuốc cứu chữa cho tôi được sống. Nay tôi đã khôn lớn thì mẹ tôi đã lìa cõi đời. Có nhiều em cha chết sớm, người mẹ ở vậy nuôi con khôn lớn, lo cho ăn học thành tài. Có nhiều người mẹ chịu tiếng xấu, để quyết giữ lại tính mạng của đứa con do tình yêu vụng trộm mà có. Còn em là những đứa con có đủ cha mẹ, anh chị em, mà sao em lại coi thường tình yêu thương của cha mẹ đến thế. Đạo làm con của người Việt Nam vẫn là thờ cha, kính mẹ mới là đạo con. Hàng ngày em đi ra khỏi nhà thì phải thưa, và khi em về lại nhà thì phải trình, để cho cha mẹ em không phải lo lắng vì em.

Tuổi có trí khôn

Khi đến tuổi khôn, hay nói khác đi là đến tuổi đủ trí khôn để đi học, thì các em phải nhớ câu: “Tiên học Lễ, hậu học Văn”. Vì có học mà thất lễ cũng thành vô dụng, không ai dám dung người ấy. Tuổi này ở em có thêm một cuộc sống khác nữa, đó là sống, giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi, cùng lớp học. Mặc dù em vẩn phải sống nhờ vào cha mẹ, nhưng thời gian em dành cho người ngoài gia đình thì nhiều giờ hơn. Có em thích đi học, để được gặp bạn bè, hay thích cô giáo nhiều hơn vì cô giáo lớp mẫu giáo chiều các em hơn cha mẹ. Tuổi học trò, các em ganh đua học hành và vẫn thường nghe lời mẹ cha dạy bảo. Nhưng có nhiều bậc cha mẹ đã làm hư con vì nuông chiều thái quá. Chúng muốn gì là được nấy, chúng không phải đụng đến móng tay vào bất cứ việc gì trong nhà, từ việc gấp quần áo, rửa chén, quét nhà. Ngược lại, có nhiều cha mẹ lại làm các em bị đánh mất tuổi thơ vì họ ép các em làm việc hay học quá nhiều.

Thời gian này tuy thân xác các em đã phát triển lớn to, khoẻ mạnh, nhưng trí óc của các em hãy còn quá non nớt, vì thế các em vẫn còn phải sống nhờ vào cha mẹ dạy dỗ, bảo ban. Các em thường quyết định sai về việc mình làm, như nghịch lửa, nấu ăn quên trông chừng, để làm cháy cả nồi, theo bạn bè đi tắm sông mà chưa biết bơi, chạy chơi ở ngoài đường mà không cần để ý đến xe cộ, trèo lên cao và nhảy xuống. Chính những điều thiếu suy nghĩ này đã gây nên tai nạn nguy hiểm đến tính mạng. Các em ở cái tuổi ngỗ nghịch này mà còn sống được là nhờ cha mẹ, hay các người lớn, các y tá, bác sĩ đã chăm sóc cho các em.

Tuổi biết yêu đương

Các em đã vượt qua cái thời niên thiếu, và bước vào tuổi biết yêu, thường vào cái tuổi 16. Tuổi trăng tròn lẻ, ấy các cô cậu bây giờ đã biết tương tư về hình bóng của bạn trai, hay bạn gái. Thường thì chẳng có tai hại gì, nhưng thật ra thì các em bị ảnh hưởng bởi cái tương tư này làm kém về việc học hành rất nhiều. Những ánh mắt, những nụ cười, những lá thư tình đã làm thay đổi cuộc sống của các em. Các bậc cha mẹ thường rất tinh ý trong các việc này. Tuy nhiên, để yêu và được yêu lại thì rất ư là khó. Tôi 16 tuổi đã biết yêu, yêu tha thiết người con gái hàng xóm. Yêu đến nỗi tôi như thờ thẫn, nếu như mỗi ngày không nhìn thấy nàng, không được nàng nhoẻn một nụ cười, hay không được nói với nàng một câu. Yêu như thế mà khi nàng 17 tuổi, đã lên xe hoa về nhà chồng nơi xứ lạ. Phận làm con thời ấy thì các cụ thường cho rằng: “Nhà có con gái lớn trong nhà, thì giống như nhà có chứa bom nổ chậm vậy”.

Tôi thoát khỏi cảnh tương tư từ lúc ấy. Mẹ tôi khuyên tôi rằng gái đẹp thường bị khổ sớm. Ý của mẹ tôi: Các thiếu nữ ấy thường có nhiều người ngắm nghé, nên hay bị cha mẹ ép gả chồng sớm. Thật vậy, vài năm sau nàng có được 2 người con, thì chồng nàng đã bị chết trận. Nàng ở vậy nuôi con, cho đến bây giờ đã gần tuổi 70. Tôi bây giờ mới hiểu được lời mẹ tôi đã khuyên khi tôi bị ốm tương tư.

Báo chí đăng rất nhiều về các cặp yêu đương đã kết liễu mạng sống của mình vì bị cha mẹ cấm đoán. Tuổi học sinh, sinh viên và cả nhiều khi họ đã có nghề nghiệp vững chắc cũng thường vì yêu mà họ đã chết cho người mình yêu. Lúc về sau, thì thanh niên nam nữ lại tự do yêu, tự do quyết định sống với người mình yêu mà chẳng cần được phép của cha mẹ. Thật là một cú sốc lớn cho các bậc làm cha mẹ. Họ cho rằng họ đã bỏ công nuôi nấng, dạy dỗ con cái cho khôn lớn. Họ mong rằng con cái của họ gặp được người chồng, người vợ có gia đình đạo đức, danh giá theo kiểu môn đăng, hộ đối cho bõ công nuôi nấng dạy dỗ. Nào ngờ, con họ chẳng nghe, để sau này chúng lại than khổ, vì bị chèn ép và rồi lại ly dị, để gia đình đổ nát, trắng tay.

Cái tuổi sống nhờ vào tình yêu của người khác, có khi kéo dài cả mười năm tình lận đận, trước khi bước vào đời sống hôn nhân. Cũng có người chẳng bao giờ muốn yêu ai nữa cả. Họ chỉ còn muốn yêu mình mà thôi.

Tuổi về sống với người mình yêu

Thời gian sống nhờ cha mẹ, hay nói cách khác sống với cha mẹ chẳng được là bao lâu. Ngày xưa thì con gái đi lấy chồng từ thủa 16, 17, để về ở với gia đình đằng chồng. Ngày nay dù có lấy chồng trễ hay sớm, thì con cái cũng thường dọn đi sống riêng khi chúng học xong bậc Đại học, hay khi họ đã có công việc làm.

Cứ cho rằng thời gian lâu nhất là 25 năm ở chung với cha mẹ. Chúng ta đã biết gì về công ơn của mẹ cha, hay chúng ta chỉ nghe lóm được những âu lo của mẹ cha qua tiếng thở dài từng đêm.

Ở cái tuổi lập gia đình riêng, chúng ta đã bước qua kiếp sống nhờ vào người vợ, hay người chồng của mình. Những khi sa cơ, thất thế, hay lúc ốm đau, bệnh tật.

Tôi nhớ mãi cái bổn phận của người làm chồng của các cụ: “Việc quan anh liệu, việc nhà em lo”. Thế mà từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã khiến cho hàng triệu kẻ làm chồng phải nhờ vợ nuôi. Họ nuôi chồng bị đi tù, họ nuôi chồng ở nhà vì đa số đàn ông không có giấy phép đi lại vượt qua giới hạn của làng xã.

Tôi sống nhờ vợ tôi, vì nàng đã liều mình theo mẹ tôi đi mót lúa, ở các cánh đồng xa nhà như ở Bến Gỗ, Hố Nai, và ở các nơi người ta trồng lúa theo kiểu hợp tác xã.  Ngày xưa chẳng biết tại sao bà Tú Xương lại phải quanh năm buôn bán ở ven sông, để nuôi đủ 5 con, với 1 chồng. Còn tôi thì tôi biết phận mình, tôi có biết nghề ngỗng gì đâu, vả lại còn phải đợi được nhà nước cấp cho giấy có quyền công dân, thì mới được đi lại dễ dàng. Một kỷ niệm khó quên mà tôi vẫn nhớ, cái ngày tôi đi theo giúp người anh cột chèo về vùng kinh tế mới Xuyên-Mộc. Lúc đó tôi chưa có giấy tờ tuỳ thân, vì tất cả giấy tờ đều bị nộp cho nhà nước sau khi họ tiếp thu. Giả như tôi đi theo xe chở người đi vùng kinh tế mới ngay chiều hôm ấy thì đã không bị xảy ra chuyện, nhưng vì thương các cháu nên tôi đã ở lại đi chặt cây làm giường cho các cháu, và sang hôm sau mới đi xe đò trở về. Khi tôi và cậu em về đến ngã ba chợ Bà-Tô, thì tôi đã bị hai thằng du kích bắt, và chúng dộng báng súng vào mặt tôi. Chúng trói tôi như trói khỉ, hai cánh tay cột trói ra phía sau lưng, chân quỳ và chúng kéo dây cột tay xuống và buộc hai chân của tôi lại với nhau. Sau đó chúng quẳng tôi lên xe bò đưa tôi về giam ở trại công an huyện Bà-Tô, giam vào trong căn buồng độ 2 mét vuông, cao khoảng 1.8 mét với hàng rào kẽm gai làm trần buồng, trong đó đã có sẵn 2 người đàn ông khác. Vài giờ sau chúng đem tôi lên văn phòng và thẩm vấn tôi. Qua cuộc thẩm vấn, thì tôi mới biết là mình đã bị bắt lầm. Chúng lầm tưởng tôi là người tù trốn từ trại Bàu Lâm ra, vì ngày hôm đó có người đã trốn tù, nên bọn du kích đã chờ đón sẵn ở ngã ba chợ Bà Tô. Vì thấy tôi có vẻ mặt ngơ ngáo nên chúng thộp và bắt trói ngay tại chỗ. Tôi nghĩ đôi khi mình bị bệnh Đậu mùa tàn phá dung nhan cũng là điều may, vì khi nhận dạng là chúng biết ngay người trốn tù ấy không phải là tôi. Chúng đã thả tôi vào lúc 4 giờ chiều.

Tôi đi bộ đến được chợ Bà Rịa vào lúc quá nửa đêm. Chợ vẫn còn có người ngủ lại để canh giữ hàng hoá và tôi đã gặp được một bà tốt bụng. Chén cơm cá kho tộ đêm hôm ấy luôn nhắc nhở tôi suốt đời về cái kiếp sống nhờ, ở tạm nơi trần gian này, cho dù thế nào đi chăng nữa thì vẫn còn người tử tế và tốt bụng. Tôi thoát khỏi cơn đói lả đêm hôm đó là nhờ lòng tốt của bà Hai. Tôi gọi như thế vì bà là người miền Nam, họ thường thích gọi bằng ngôi thứ trong gia đình. Sáng sớm hôm sau bà gởi tôi đi theo xe đò để về Tam Hiệp. Kỷ niệm nhà tù cộng sản và lòng tốt của người dân miền Nam, đã cho tôi những bài học vô giá về kiếp sống nhờ, ở tạm nơi thế gian này.

Chính vì thế mà bậc tiền nhân thường nói: Bình an của thế gian chỉ là tạm bợ, vinh hoa, phú quý ở đời này cũng vậy mà thôi. Vâng đúng lắm, đúng vô cùng. Vì ai đã từng đi làm rồi đều biết, chúng ta sống nhờ người chủ, vì ông ta đã cho chúng ta công ăn việc làm, và ngược lại chúng ta cũng phải cố gắng hết sức để làm việc cho chủ nhân. Vì nếu không thì chúng ta sẽ không còn nhờ được lòng tốt của người chủ, để mà có việc làm nữa. Thất ngiệp, không tiền, không bạn bè và lại đành kiếp sống nhờ vợ, nhờ gia đình thì ôi nhục nhã thay. Cũng may là tôi được sống ở nước Úc, khi hết tuổi lao động thì chính phủ trợ cấp tiền già, cho đủ ăn, đủ ở và đủ sống. Chứ nếu sống ở nhiều nước khác thì khổ cái thân già, vì sống chết mặc bay, tiền thì các ông chính quyền cứ tha hồ mà bỏ vào túi riêng của mình.

Sống ở đời thì ông bà chúng ta đã thường nói rằng: “Lúc còn nhỏ thì sống cậy vào cha mẹ, lúc về già thì nhờ vào con cái”. Cũng vì chữ “cậy và nhờ” ấy, mà nhiều người khi về già lâm vào cảnh sống khốn khổ.

Anh bạn của tôi thấy tôi lo lắng cho con cái quá sức, chẳng tiếc quản gì sức khoẻ của chính mình, vì tôi nghĩ rằng chẳng nên lo gì cho ngày mai, tôi cứ lo cho hiện tại, lo cho con có đủ ăn, đủ mặc, thì sau này ngại gì mà chúng chẳng cho mình sống nhờ, ở tạm. Anh bèn kể cho tôi câu chuyện như sau:

Có một gia đình kia, cha mẹ làm ăn vất vả nuôi một đàn con đông. Họ cho các con học ở các trường học danh tiếng, để mong muốn chúng trở thành tài danh. Họ dựng vợ, gả chồng cho chúng và tạo công ăn sự nghiệp cho con cái. Thế nhưng khi về già, gặp lúc đổi thời thế, đổi tiền bạc khiến ông bà trắng tay. Ông bà cũng không tiếc xót gì, vì họ nghĩ rằng mình không còn của nhưng còn con, chắc thế nào khi ốm đau cũng được nhờ vào chúng. Nào ngờ, cái lo sợ về bệnh tật ấy lại ập đến. Cái mà họ tưởng tiền bạc giao cho con cái làm ăn ngày xưa ấy, khi đến lúc cần cũng sẽ có, để mà lo tiền thuốc. Nhưng khổ thay, thời cuộc đã khiến cho mọi người trắng tay. Ông bố đã chết vì không có tiền để lo cho chính thân mình, và cũng chết vì chẳng nhờ được con như đã dự tính. Cái kiếp sống nhờ khổ lắm lắm ai ơi.

Sống nhờ vợ, nhờ chồng có lẽ là giai đoạn lâu nhất. Tuổi càng cao thì sự nhờ vả ấy càng tăng, vì mắt họ mờ, tai điếc, chân tay run khiến dễ bị té ngã. Lại thêm trí óc lú lẫn, sức yếu khiến họ không thể tự mình chăm sóc cho mình được nữa. Họ phải dựa vào sức lực của nhau để mà sống. Nhiều khi đi ra ngoài, họ phải nắm tay, để dìu nhau bước đi cho khỏi bị té ngã. Những lúc ốm đau, thì còn có người đút cháo cho ăn. Hoặc các cụ siêng đọc kinh thì có kẻ thưa người đáp. Thế mới biết càng về già, người ta cần “con bà hàng xóm” giúp đỡ, hơn là nhờ con ruột của mình. Khi lấy nhau họ giao ước là yêu nhau trọn đời, trọn kiếp chính vì thế mà hai người sẽ hạnh phúc khi giữ được sự chung thuỷ với nhau. Hôn nhân không phải là khế ước ban phát ân huệ cho nhau, nhưng nó là sự tự nguyện trao ban tình yêu cho nhau, để cùng nhờ nhau mà sống nhất là khi tuổi đã già.

Cũng tại vì kiếp nhân sinh là cái kiếp con người ta chỉ sống nhờ, ở tạm nơi trần thế. Cho nên, tôi tự hỏi chính mình rằng: Tại sao ngay bây giờ tôi lại chẳng bắt chước người quản lý khôn ngoan trong Tin Mừng thánh Luca 16, 9: “Phần Thầy, Thầy bảo anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”.

Tôi đã được sống, nhờ vào tình thương của cha mẹ, của vợ con, của anh chị em, của bạn bè. Tôi phải bắt chước họ để tạo ra tình thương, để cho nhiều kẻ khốn khó đang chờ đợi sự chia sẻ tình thương ấy được hưởng nhờ. Hay ít ra tôi cũng hỏi những con nợ của tôi rằng: “Bác nợ tôi bao nhiêu vậy? 10 ngàn ư?” Rồi tôi sẽ bảo họ: Bác cầm lấy biên lai, viết lại 5 ngàn thôi. Có những đứa em ngày xưa nợ tôi một vài chỉ vàng, đến khi tôi đến chơi thì chúng nhắc lại chuyện nợ nần. Tôi chưa kịp nói gì thì con của chúng đã nói: “chuyện lâu quá rồi bác, bác xí xoá cho ba mẹ cháu luôn nhé bác”.

Ừ thì bác đã quên lâu rồi, cho ba mẹ con từ lâu rồi, nên bác có nhắc đến nữa đâu. Anh bạn tôi cũng đã khuyên tôi rằng: “Đừng bao giờ nói “cho tiền” đứa con nào cả, mà phải nói là cho chúng “mượn” mà thôi. Vì nói cho mượn thì sẽ khiến chúng còn mắc nợ mình, chứ nói cho rồi là xong luôn, đừng mong gì mà có lại.

Ngày tôi còn làm thày thuốc ở Việt Nam, cũng có cuốn sổ nợ, nhưng cứ vào ngày 30 tết thì tôi đem đốt cuốn sổ nợ ấy đi, vì mọi người đều vì đói nghèo mà bị bệnh, tiền ăn họ còn chưa chạy nổi, thì khi ốm đau lấy gì mà có tiền thuốc. Sang năm mới ai có khả năng thì trả, còn không thì coi như xí xoá. Ấy thế mà Chúa ban cho tôi đi vượt biên được, và vẫn còn sống được tới ngày nay là tôi tạ ơn Chúa lắm rồi.

Sống nhờ Chúa

Có một điều mà chúng ta ít ai muốn để ý, đó là chúng ta thường được nghe các cha chủ tế đọc rằng: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi vinh quang đều quy về Chúa đến muôn thủa, muôn đời”.

Chúng ta nhờ vào tình yêu của Thiên Chúa từ trước khi có chúng ta, để chúng ta được làm người từ cõi hư không, đấy là câu trả lời cho những đứa con vô thần hỏi cha mẹ nó rằng: “Tại sao sinh nó ra mà không hỏi ý kiến nó”.  Ngược ngạo làm sao khi có trái cây hỏi thân cây rằng tại sao lại tạo ra nó. Đi mà hỏi ông trời thì sẽ rõ.

Vâng đúng thế, đứa bé được sinh ra bởi tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại và do chính tình yêu của người nam và người nữ với nhau. Thiên Chúa chăm sóc, nuôi dưỡng chúng ta cả phần xác, lẫn phần hồn, từ thể xác lẫn tinh thần. Hãy nhìn chim trời, cá biển, sông núi, tinh tú và vạn vật trên mặt đất thì sẽ biết tình yêu của Thiên Chúa bao la biết chừng nào kể cho xiết. Sự sống nhờ vào Chúa thì lâu dài và viên mãn, không giống như những giai đoạn sống nhờ vào cha mẹ, gia đình, vợ chồng, thân nhân, bạn bè ở trần gian. Bởi vì chúng ta được sống với Người, được đồng hành với người qua những chặng đường Người đã đi qua. Chúng ta sống với Chúa Giêsu ngay từ thủa ấu thơ, cho đến khi trưởng thành. Chúng ta cùng vác thập giá của đời mình, để đi với Chúa đến núi Sọ. Chúng ta sống với Chúa qua những buồn vui của những ngày tháng năm sống nhờ và ở tạm dưới thế gian này. Có những lúc chúng ta cảm thấy cô đơn và thất vọng vì không thấy Chúa ở bên cạnh chúng ta. Đừng sợ và hãy vững niềm tin vào tình yêu, vào lòng thương xót của Chúa, vì những lúc ấy thì Chúa đang sống ở trong ta, hoặc là chúng ta đang sống ở trong Chúa. Chính lúc ấy bạn hãy hạnh phúc và kêu lên: Lạy Chúa, con sống nhưng không phải là con sống, chính Chúa đang sống trong con. Con mong ước được giữ mãi Chúa trong tâm hồn, trong lòng trí của con, để như lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu đã cầu cho các tông đồ, tín hữu trước khi Người chịu nạn: “ Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như Chúng Ta là một: Con trong chúng và Cha trong Con, để chúng được hoàn toàn nên một, ngõ hầu thế gian biết là Cha đã sai Con, và đã yêu mến chúng, như Cha đã yêu mến Con.” (Gioan 17, 22-23).

Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh đã giúp cho mọi người Công Giáo có được cuộc sống hạnh phúc hơn nơi trần gian này, vì như các thánh tông đồ đã được Chúa Cha tuyển chọn từ giữa thế gian mà ban cho Chúa Giêsu. Chúng ta là những người đã nhờ lời truyền giáo của các thánh mà tin vào Chúa Giêsu, đã xuất phát từ Chúa Cha, và tin rằng chính Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu xuống thế gian để cứu chuộc nhân loại. Chúng ta được chính Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha gìn giữ chúng ta khỏi kẻ dữ, ngõ hầu chúng ta nên một như Chúa Cha và Chúa Con.

Nhờ vào sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, mà chúng ta biết được có cuộc sống vĩnh cửu sau khi lìa khỏi cõi sống tạm bợ ở trần gian này. Cuộc sống ấy là nơi Chúa Con đã đến cùng Chúa Cha, như lời cầu nguyện hiến tế của Chúa Giêsu: “Lạy Cha điều Cha đã ban cho Con, thì Con muốn là Con ở đâu, chúng cũng ở đó với Con để chúng được ngắm vinh quang của Con, mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con từ trước tạo thiên lập địa”. (Gioan 17, 24).

Xin kính chúc toàn thể quý vị độc giả Báo Dân Chúa Úc Châu, được tràn đầy an bình, hạnh phúc và hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu trong tương lai như Lời Chúa đã hứa ban cho chúng ta.