Trang Học Sinh – SỐ THÁNG 11, 2017

Thầy giáo trường Dòng

Vấn Đề Phụng Dưỡng Cha Mẹ Xưa Và Nay

Các em học sinh thân mến, tháng 11 năm nay Thày giáo Trường Dòng xin được cùng với các em học về đề tài phụng dưỡng mẹ cha. Trong số này chúng ta thử đi tìm hiểu cách đền đáp công ơn cha mẹ của các bậc ông bà: lý do, cách thức báo đền, nuôi dưỡng, cách thức báo đền ơn nghĩa sau khi cha mẹ đã qua đời. Kế đến, chúng ta suy nghĩ về phương cách mà tuổi trẻ ngày hôm nay đang thực hiện.

Trước hết, từ ngàn xưa trong mười điều răn Đức C

húa Trời đã dạy các con cái của Người rằng: “Hãy thảo kính cha mẹ”. Giới răn này rất quan trọng đến nỗi được Đức Chúa Trời xếp hàng đầu, sau những giới răn về Đức Chúa Trời.

Thảo kính cha mẹ vì cha mẹ là đấng sinh thành ra chúng ta, và công ơn nuôi dưỡng, giáo dục chúng ta nên người tốt lành. Cha mẹ làm việc vất vả, hy sinh chính bản thân của họ, để lo cho con cái miếng ăn cái mặc. Trong trí óc họ đều mong muốn cho con cái được bằng anh, bằng em, và chúng phải có cuộc sống khá hơn họ.

Xin kể một câu chuyện về chính mình, cho các em nghe như sau:

Ngày ấy, sau khi đất nước miền Nam bị rơi vào tay Cộng sản, bao gồm: Nga, Trung cộng, người miền Bắc Việt Nam vào 30/4/1975. Người làm việc cho chính phủ của miền Nam, đều bị họ đối xử như kẻ tử thù. Họ gọi chúng tôi là “Ngụy”, ngụỵ quân, ngụy quyền.

Họ sách động những phong trào tịch thu và đốt cho bằng sạch các hình ảnh, giấy tờ, sách vở, tài liệu có liên quan đến chính phủ, giáo dục, lịch sử, báo chí của người miền Nam.

Họ tịch thu tài sản như gạo, dụng cụ nông nghiệp, y tế, và cơ khí, để chở về miền Bắc. Những chiếc xe cam nhông của bộ đội nối đuôi nhau theo Quốc lộ số 1 để về Bắc, thời gian kéo dài từ năm 1975 đến 1978. Họ tịch thu tất cả những kho chứa dụng cụ của chính phủ miền Nam để chở về miền Bắc.

Họ đổi tiền cứ 500$ thì đổi lấy 1$ tiền mới, và đổi cho một số tiền có giới hạn mà thôi, khiến cho mọi người đều bị trắng tay.

Tất cả những người tài giỏi, các cấp bậc sĩ quan từ bậc Thiếu uý trở lên đến hàng Tá, Tướng và những người giàu có đều bị bắt đi tù đày theo cái danh xưng “cải tạo”. Chưa kể đến những người dân còn có lòng ái quốc thì bị họ lừa theo phong trào chống cộng, và bị bắt đi tù đày, vì người tổ chức phong trào là do chính các cán bộ Cộng sản tổ chức.

Còn những binh lính cấp nhỏ từ Chuẩn Uý trở xuống hàng Binh sĩ thì học tập tại địa phương. Họ phải đối diện với cảnh ngờ vực, theo dõi vì bị nghi ngờ là thành phần dễ dàng phản động. Cộng sản bầu lên các tổ dân phố, để những kẻ làm tay sai cho cộng sản tha hồ mà hạch sách, tố cáo, đàn áp người dân trong thôn xóm. Những người này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo những người sống ở chung quanh họ về lời nói, về cách ăn uống, giao tiếp, sinh hoạt chợ búa và nhất là khai báo lý lịch của nhà bên cạnh như đi lính, cấp bậc gì, hay đã làm việc với chính phủ cũ ở cơ quan nào.

Mọi người đã không còn gạo ăn, không còn được buôn bán, sinh hoạt dễ dàng như trước. Mọi sự di chuyển ra khỏi làng xã, đều phải có giấy phép của Khóm, Phường.

Đói, cái đói làm cho con người hèn hạ và dễ sai khiến. Đây là một trong những chủ ý của thuyết Cộng sản: Ngu dân để dễ trị, và làm cho dân đói để dễ sai khiến.

Năm 1977, Miền Nam trở nên khan hiếm gạo, vì số gạo đã được họ trở về miền Bắc. Thay thế vào đó họ bán ‘bo – bo’ cho dân miền Nam. Tôi nấu cho các con ăn thử vì nhà không còn gạo. Ngày hôm sau thấy chúng ôm bụng kêu đau, đi cầu ra nguyên hột bo-bo. Dân nhà quê chúng tôi làm gì có toilet như bây giờ, chỉ có cái “chuồng xí”, quay tấm bao gạo ở ngoài góc vườn mà thôi, nên nhìn phân của chúng là biết ngay chúng ăn không tiêu. Hai vợ chồng nhìn nhau mà lòng đau xót cho lũ con, chúng ăn vào hột bo bo như thế nào thì khi thải ra y như thế, lấy gì mà gọi bổ dưỡng. Tôi nghe bạn bè nói đi vào rừng cưa củi đem về Bến Gỗ đổi gạo. Mặc dù tôi rất sợ bị hàng xóm nghi kỵ, khi tôi đạp xe vào rừng chặt củi. Họ có thể khai là tôi tìm cớ vào rừng liên lạc với những người lính cũ còn đang trốn ở trong rừng. Tôi đã rủ những người con của các người hàng xóm đi cùng. Chúng tôi thức dậy từ trước chuông nhất của nhà thờ, vào đúng 4 giờ sáng là khởi hành. Từ Tam Hiệp đi qua dốc 47 ở Tân Mai 2, quẹo trái thêm chừng 5 cây số nữa là đến rừng, để cưa những cây khô, rồi chặt thành từng khúc dài 60 cm. Tôi bó chúng thành từ 8 đến 10 bó củi to, nhỏ và cỡ trung bình, cột chúng vào khung xe, yên đàng sau xe, hai càng của bánh xe trước và sau, trên tay lái của xe đạp. Chúng tôi đạp xe chở những bó củi ấy vượt đèo, xuống dốc, để về chợ Bến Gỗ, nơi có đồng lúa xanh rộng bát ngát, đổi củi lấy gạo của dân địa phương. Chỉ khi nào củi chắc, chặt phải đều đặn thì mới đổi được 5 lít, chứ củi không đẹp, thì chỉ được 4 lít hay 4 lít rưỡi gạo là cùng. Khi tôi bán xong củi, tuỳ theo từng hôm, tôi mang về nhà được từ 4 đến 5 lít gạo. Vợ tôi để phần cho tôi một lít, nấu thành cơm rồi lấy khăn mặt sạch dùng để nắm cơm thành 2 nắm cơm to, cho tôi mang đi rừng ăn vào sáng ngày hôm sau. Thường mỗi ngày, chúng tôi đạp xe từ nhà đến dốc 47 mất độ 1 tiếng, thì chúng tôi ngừng xe, để ăn sáng hết một nắm cơm với muối vừng vào lúc 5 giờ trước khi vào rừng. Còn một nắm cơm, tôi để dành cho phần ăn trưa. Cơm nắm mà ăn với muối vừng thì ngon tuyệt, theo như ý nghĩ của đám con nhà nghèo chúng tôi. Tôi mang thêm một bình tông nước để uống, thế là đủ khẩu phần cho cả ngày. Thỉnh thoảng bắt được con rắn, tôi lột da, xát muối nướng ăn thật là khoái khẩu. Cực khổ thế nào chúng tôi cũng cam chịu, chỉ mong cho lũ con có được hột cơm mà ăn. Con cái khoẻ thì bố mẹ vui, thế là vui lắm rồi.

Công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ

Nói đến công ơn nuôi dưỡng, thì ai có sinh con rồi mới biết lòng mẹ cha. Các em đừng bắt chước kiểu sống của người Úc nhé, vì làm đau lòng các bậc cha mẹ lắm lắm. Ở Úc này, tôi làm ở bệnh viện đã được 26 năm, thường gặp những cảnh thấy mà đau lòng giùm cho người làm cha, làm mẹ.

Con cái người Việt như tuổi của chúng tôi, khi thấy cha mẹ già đau bệnh nan y, thì tốn kém bao nhiêu tiền cũng lo chạy chữa cho đến khi các ngài nhắm mắt xuôi tay, còn người Úc thì chưa gì đã vội vàng ký vào tờ giấy: “không cấp cứu, khi bệnh nhân ngừng thở, hoặc tim ngưng đập” (Not for Resuscitation). Đã thế, khi chúng tôi báo cho người nhà biết là bố hay mẹ của họ đã qua đời, thì nhiều khi họ còn nói là họ còn phải ngủ để sáng đi làm, hay họ có con nhỏ không vào thăm ngay được, cứ chuyển xác xuống nhà xác, rồi họ sẽ đến thăm sau.

Họ cho rằng khi cha mẹ đã chết là hết, là xong chuyện. Nếu bạn có tham dự đám tang người Úc, thì sẽ thấy họ kể chuyện vui cười nhiều hơn là khóc lóc như người Việt của chúng ta. Thật là khác với văn hoá của người Việt Nam. Xin các em đừng bắt chước họ nhé! Dù các em sinh ra ở nơi đâu, thì dòng máu Việt vẫn ở trong con người của các em, và văn hoá Việt Nam đã nuôi dưỡng các em thành người.

Mẹ tôi đã nuôi tôi khi bị bệnh đậu mùa vào thời đầu thập niên 1950, Bệnh ‘Đậu mùa’ đã giết chết nhiều trẻ em trong làng của chúng tôi. Vì vào thời ấy, thuốc phòng ngừa còn chưa có, thuốc chữa phần lớn là thuốc Bắc và kiêng cữ gió máy. Những mụn mọng nước vỡ ra, rồi lan tràn khắp cả thân người tôi, khiến cả căn buồng toàn là mùi tanh hôi. Mẹ tôi đã ròng rã chịu đựng suốt cả tháng trời, mà không hề than vãn lấy một tiếng. Về sau này, tôi bị biến chứng của bệnh làm teo nhỏ hai lỗ mũi, tôi phải đeo hai ống cao su suốt tuổi ấu thơ, cho mũi tôi khỏi bị teo tịt, dính lại với nhau. Tôi trở thành đứa bé xấu xí của gia đình, bao nhiêu điều xấu xa, dèm pha do phong tục làng xã thời ấy. Mẹ tôi vì thương tôi đã im lặng chịu đựng một mình, mẹ thường nói với tôi: “Đau đớn và tủi nhục lắm con ơi, nhưng thôi còn sống thì mẹ để bụng, chết thì mẹ mang theo, chứ nói ra cho người khác biết mà là gì”.

Khi tôi khôn lớn, tôi cũng tìm được nguyên nhân cái đau đớn ấy là do tôi bị bệnh trở nên xấu xí mà mẹ bị dèm pha tiếng xấu. Tôi suốt đời cố gắng làm cho mẹ vui, mặc dù hay bị mẹ la mắng.

Mẹ tôi đã qua đời về với Chúa được nhiều năm rồi, nhưng trong trí óc tôi thì hình ảnh của người mẹ không bao giờ phai nhạt.

Làm cha, làm mẹ khổ tâm lắm các em ơi

Người làm cha, làm mẹ thì bên ngoài cực về phần xác, bên trong thì khổ phần tâm lý, tinh thần. Cực khổ, hy sinh rất nhiều để làm tròn bổn phận và trách nhiệm mà Thiên Chúa trao phó cho họ, chứ chẳng dễ gì đâu như người sống độc thân. Có người đã cho rằng kẻ độc thân là người trốn cái khổ của kẻ làm cha, làm mẹ.

Trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, đã đè nặng trên đôi vai của cả người cha lẫn người mẹ suốt cuộc đời của họ, cho nên có câu: Nuôi con càng lớn mẹ càng thêm lo”. Các em hãy suy nghĩ cho thật kỹ, về bổn phận và trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái này. Các em đừng liều lĩnh để nhục dục chế ngự trí óc, xúi các em làm những điều mà các em chưa thể gánh vác được. Rồi sau khi đã thoả mãn dục vọng thì các em lại phủi tay, cụp vòi, và trốn mất như con ong, con bướm.

Những tấm gương hiếu thảo đối với cha mẹ

Trong kho tàng văn chương bình dân của VN, có nhiều thơ văn đề cao lòng hiếu thảo của con đối với mẹ như Phạm Công – Cúc Hoa, Lục Văn Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn, Trần Minh khố chuối, nhưng cảm động nhất là sự hiếu thảo của Vua Tự Ðức, đối với mẹ ruột của mình là Hoàng Thái Hậu Từ Dũ.

Công ơn của người mẹ thật to lớn, nói sao cho hết lời như nhà văn Pháp Edmon de Amacid, đã viết trong ‘Tâm Hồn Cao Thượng’, Hà Mai Anh dịch rằng: “Người Mẹ sẵn lòng, đem một năm hạnh phúc của mình, để đổi một giờ đau đớn cho con”. Người Mẹ cũng sẵn sàng hy sinh cả tính mệnh, để cứu sống con mình. Con ơi, suốt đời con, sẽ có những ngày buồn rầu đau thương, và cũng là chuỗi ngày sầu thảm nhất : ‘Ðó là ngày con mất mẹ’.

Các bậc cha ông thủa xưa luôn luôn ghi nhớ câu khuyên dạy: “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trao mình”. Hiếu thảo khi cha mẹ còn sống cũng như khi các ngài đã qua đời. Con cháu phải luôn gìn giữ danh dự của gia đình, tránh làm điều xấu để người đời nguyền rủa tên của mẹ cha, ông bà. Lại có những người ở vậy suốt đời để nuôi dưỡng mẹ cha, thay mẹ già nuôi các em ăn học cho thành người. Khi cha mẹ chết thì các con của họ, từ chối và tránh xa những tiệc vui khi được mời, vì nhà có đại tang. Họ không làm đám hỏi, đám cưới trong suốt thời gian 3 năm đeo tang ấy.

Thời ấy, con gái thường vâng lời cha mẹ, để lấy chồng, tình duyên đều do các “bà mai”, đi dạm hỏi thay cho bên đàng trai. Thế mà cũng con đàn cháu đống, chứ đâu có tự do chọn lựa bạn đời như bây giờ. Tuổi trẻ họ tự do chọn lựa nhau, rồi về trình diện bố mẹ sau. Họ góp gạo nấu ăn, ở chung và sống thử với nhau, mặc dù họ biết luật đạo Công giáo cấm ăn ở với nhau trước hôn nhân.

Họ thích sống vội nhưng lại thích cưới muộn. Họ sống ích kỷ, ngừa thai vì không muốn làm phiền bản thân của họ. Họ bắt chước người Tây để hoan nghênh chính phủ ban lệnh cho phép ngừa thai, phá thai, phép trợ tử, phép tự do đồng tính luyến ái. Họ coi trọng tình dục hơn tình yêu. Họ yêu tiền bạc hơn tình người, và có những đứa con đã sẵn sàng tặng cho cha mẹ những cú đấm đá khi cha mẹ từ chối không cho họ tiền, hay chia của không đều. Cũng có kẻ chẳng còn lương tâm, khi dám dùng thuốc độc để giết cha mẹ và cưỡng đoạt tài sản.

Không dám vơ đũa cả nắm. Nhưng thời đại của chúng ta bây giờ là như thế đó. Khiến cho nhiều gia đình đã phải than rằng: “Con là nợ”. Một lũ con mà chẳng có được một đứa nào biết giúp đỡ mẹ cha trong công việc vệ sinh nhà cửa, nấu ăn, giặt quần áo, hay làm vườn. Chúng học thì ít, nhưng chơi thì nhiều. Chúng biết đòi ăn ngon, đòi  mặc đẹp, chứ chúng có mấy khi mà tự nguyện giúp đỡ mẹ cha.

Cũng một phần lỗi là do cha mẹ quá nuông chiều con, làm giùm cho con mà không tập cho chúng biết tự làm và giúp gia đình, không giải thích cho chúng sự quan trọng của trách nhiệm, và bổn phận của từng thành viên sống trong sinh hoạt tập thể. Chúng chỉ biết sống thừa hưởng những công sức của mẹ cha, mà không biết cùng cộng tác đóng góp thời giờ, công sức cho xã hội.

Đối sử bất hiếu với cha mẹ

Cũng do lỗi chính phủ đã cho sản xuất ra nhiều sách báo, phim truyện sấu, và cũng do những gương sấu của kẻ ác được tung tin trên báo chí, đã ảnh hưởng lớn đến những suy tư và hành động của con cái chúng ta.

Câu chuyện người con bất hiếu của một gia đình nọ, người thanh niên thấy cha già của mình vì tay rung hay làm rơi vỡ bát, nên anh ta đã dùng gáo dừa khô thay bát cho cha của mình ăn cơm. Anh không ngờ rằng đứa con của anh, nhìn thấy thế bèn bắt chước, nó nhặt những quả dừa khô đem về chất đống ở phía sau vườn nhà. Khi anh ta hỏi thằng con thì nó trả lời: “Con đi nhặt những trái dừa khô này để dành cho bố, khi bố trở nên già như ông”.

Sự bất hiếu ở thời nào cũng có, chứ không phải bây giờ mới có. Thời của tôi có người hàng xóm nuôi cha già. Bà ta thường quát to ầm lên cho cả xóm nghe: “Ăn gì mà ỉa lắm thế, mới rửa đít cho xong, lại ra đầy quần rồi. Hơi sức đâu, mà hầu cho nổi, này trời”.

Ai mà chẳng có ngày già yếu đi, tại sao lúc khoẻ không giúp đỡ người già, nhất là giúp chính người có công sinh thành dưỡng dục của mình.

Sự bất hiếu không phải là cái nợ từ kiếp trước của bậc làm cha mẹ

Quả báo là chuyện ai cũng biết, vì gieo nhân nào thì gặp qủa ấy. Thế mà tại sao chúng ta không hướng dẫn và làm gương cho con cái chúng ta gieo giống tốt, làm việc tốt.

Người Phật giáo thường cho rằng con cái hay vợ chồng là cái nợ oan gia từ kiếp trước của họ. Cũng có nhiều người Công giáo vẫn còn tin rằng con là nợ, vì họ phải chịu những đau khổ do con cái của họ gây ra. Suy nghĩ như thế này, đã khiến cho họ càng đau khổ hơn. Họ đổ thừa cho Chúa chẳng thương tình, chẳng đáp lời họ cầu nguyện. Họ chửi đời, trách xã hội và trách chính họ đã sống lầm thời. Thưa không hẳn đúng như vậy, nhưng sự hiếu thảo của con cái là những thành quả của công trình dạy dỗ, dưỡng nuôi, và do những gương sáng, tốt đẹp mà các bạn đã làm cho chính cha mẹ của mình. Xin mời các em và mọi người nghe tôi kể chuyện như sau:

Có một cặp vợ chồng đến nước Úc được 33 năm, họ có cả thẩy 6 người con, và họ hết lòng lo lắng cho con cái về phần xác cũng như phần hồn ở nước Úc này. Người chồng chịu khó làm việc gấp đôi số giờ 38 tiếng một tuần, vì anh ta nghĩ rằng: Mình vất vả làm việc thay cho vợ, để cô ta ở nhà chăm sóc miếng cơm và gần gũi với con cái hơn, đúng với câu ca dao: “Việc quan anh liệu, việc nhà em lo”. Hơn nữa vì tiếng Anh không dành, đi làm việc ở hãng xưởng thì họ sẽ không nhận, có làm may ở nhà thì một mình có kiếm được đâu là bao nhiêu tiền; Nếu bắt con cái phụ việc thì làm sao chúng có thì giờ học và làm bài.

Anh nghĩ lại cái thủa học sinh của chính anh. Anh ta vừa phải kín vài phi nước tắm cho heo, vừa phải đi cắt rau ngoài rừng, băm rau, nấu cám heo, và vừa phải học bài thi bằng đệ nhị, đệ nhất. Anh đâu còn thì giờ đâu để mà học và làm bài thi. Khổ nỗi các cụ của anh ta ngày xưa có được đi học đâu mà biết anh rất cần thì giờ để mà học. Chính vì thế mà anh đã hứa với long, về sau khi anh ta có con thì nguyện sẽ hy sinh, chăm chỉ làm việc để vợ anh ta có thể giúp làm việc nhà mà không phải bắt con cái vừa phải kín nước tắm cho heo, bổ củi nữa, để cho chúng có giờ mà học. Nhờ ơn Chúa mà anh ta đạt được một nửa sự mong ước đó.

Nhiều người quen sẽ hỏi anh: “Ủa! Tại sao anh nói chỉ có được một nửa? 

Dạ xin thưa vì vợ chồng anh ta có 6 đứa con, thì chỉ có 3 đứa là thành công và thành danh. Còn 3 đứa khác, chúng học hành cũng đỗ đạt, nhưng chẳng nên ông, nên bà gì ráo chọi. Anh ta cười buồn và trả lời.

Có người biết gia đình của anh ta, nên lại họ lại hỏi thêm: “Có mấy ai được như anh chị đâu, mà còn kêu trời cái gì?”

Anh ta trả lời ngắn gọn: Vì chúng chẳng bằng anh, bằng em. Rồi anh lại nói: Tại sao chúng có cùng một cha mẹ sinh ra, ăn cùng một mâm, tôi nuôi dạy chúng bằng mọi cách thế giống nhau; Thế mà, chúng chẳng giống nhau như khuôn chúng tôi đã đúc, đã dạy bảo. Anh ta im lặng đôi phút rồi kể tiếp:

Từ khi chúng có vợ, có chồng thì nếp sống lại càng khác biệt hơn nhiều nữa. Gia đình đứa này thì dư ăn, dư mặc. Còn đứa khác thì thiếu hụt, nợ nần. Từ đó tình cảm giữa anh em chúng nó ngày càng xa cách. Chúng không còn giữ Lời Chúa dạy: “Các con hãy yêu thương nhau như Thày yêu chúng con”.

À thì ra cái buồn của anh là thế, vì các con của anh chị ta, mỗi đứa có một nghề khác biệt nhau, một cuộc sống khác nhau, và một gia đình khác nhau. Nói như thế thì chắc các bậc làm cha mẹ thì ai cũng hiểu rằng, khi chim con đã đủ lông, cánh, chúng rời tổ và làm tổ riêng của chúng, thì còn đâu cảnh Chim mẹ mớm mồi cho con, khi chúng còn nằm chung trong tổ ấm của gia đình. Chính vì anh ta yêu thương các con, và xót thương cho những đứa con nghèo, sống khổ sở, vất vả đã làm cho cả anh lẫn chị phải đau lòng, thở dài, ngày đêm tìm cách giúp đỡ chúng.

Muốn giúp đỡ những đứa con nghèo với đàn cháu sống thiếu thốn, anh ta bèn gầy việc cho chúng làm. Anh đã xin đi làm trở lại sau 3 năm nghỉ việc, để có giấy chứng nhận là mình còn đang hành nghề thì mới giúp việc cho các con được Anh cho rằng một vị tướng giỏi phải là người đào tạo nên được nhiều binh sĩ giỏi. Đấy mới là vị tướng tài. Còn nếu không thì chỉ vì may mắn mà được phong lên làm tướng mà thôi. Hơn nữa anh cho rằng: Sống cho con, cho cháu là cuộc sống hạnh phúc nhất của tuổi già. Anh dùng số tiền hưu bổng, xây dựng nên cơ sở y tế của gia đình. Lý do anh tạo dựng lên cơ sở này, vì sau này dù anh chị có chết đi, thì các concháu sẽ nối dõi sự nghiệp của anh, để làm việc giúp đời, cứu đời, và sự gần gũi, đoàn kết với các anh em của chúng được trở nên tốt đẹp hơn.

Khổ một nỗi là lực bất tòng tâm, sức khoẻ kém nên nó lôi kéo nhiều tai nạn xảy đến cho anh. Đối với anh thì chẳng có gì là khó đối với việc điều hành một cơ sở, nhưng đối với đứa con trai lớn của anh thì là cả một vấn đề phức tạp, vì mọi sự là mới đối với nó. Sự vất vả của anh đã khiến cho chị lo âu về đủ mọi mặt như về tài chánh, sức khoẻ…

Chị ta là người chân chất, vui với cảnh nghèo đã từ lâu, chỉ biết bám vào Chúa mà sống. Cho nên nhân vì sự lo âu về công việc của các con, chị cảm thấy buồn. Rồi chẳng biết nghe ai nói chị đâm ra lo sợ sự nợ nần trong tương lai của công việc mới. Chị ta buồn sầu đến nỗi sụt 10 ký lô trong vòng vài tháng, đêm ngủ không được, đọc kinh suốt đêm từ kinh của Dòng, đến kinh của Hội Legio, đến kinh Lòng Thương Xót Chúa. Có thể nói, không còn thiếu xót một thứ kinh sách nào, hay giờ chầu, giờ thánh lễ nào mà chị không tham dự. Không biết có phải tại các bài giảng của cha quản nhiệm về bổn phận đối với Chúa và Giáo hội, như Chúa sẽ phạt mất linh hồn vì con cái đam mê tiền bạc, không siêng năng đi lễ, xưng tội, không đóng góp, làm phúc, bố thí hay không mà chị bỗng dưng trở nên trầm cảm và mặc cảm có tội vì con cái sống sa rời Giáo Hội.

Sự xa rời Giáo hội của con cái

Tôi xin hỏi các em học sinh, thanh niên Công Giáo về những lý do nào đã khiến cho các em có thể xa rời Giáo Hội. Xin các em giúp tôi câu trả lời: Làm thế nào để các em thanh thiếu niên đã sống sa rời, bỏ bê Giáo hội biết quay trở về với Thiên Chúa là Người Cha nhân lành? Xin Các em cứ mạnh dạn góp ý kiến nhé, tôi mong chờ để được nghe các em tâm sự.

Thử đặt vấn đề: Có phải do một số ít vị lãnh đạo tinh thần đã làm gương mù khiến cho các em xa rời; Hay do Giáo hội đòi buộc các em phải giữ nhiều điều luật quá; Hoặc tại vì Xã hội ngày nay đã cho các em có nhiều tự do cách quá trớn;  Tại vì các em chiều theo ý xác thịt của riêng mình và trở nên lười biếng, ích kỷ, chỉ biết đòi hỏi chứ không biết hy sinh và cho đi?

Câu hỏi này tôi đặt ra cho chính tôi. Vì sự sống xa rời Giáo hội của con cái, của giới trẻ trên toàn thế giới ở thời đại bây giờ, đã làm cho biết bao cha mẹ đau buồn, tủi hổ và bị bệnh trầm cảm như trường hợp của gia đình anh chị mà tôi đã kể ở phần trên.

Họ sẽ chết trong đau buồn, trong héo mòn vì con cái. Các em là kẻ làm con, chẳng lẽ nào báo hiếu, đền đáp ơn sinh thành, phụng dưỡng cha mẹ  bằng cách sống sa rời Thiên Chúa như thế hay sao.

Có phải sự tự do tín ngưỡng và no đủ vật chất, đã làm cho các em quên đi ơn Chúa đã cho các em từ nhưng không được trở nên làm người. Chẳng lẽ nào, các em ăn quả, mà không cần biết ơn kẻ trồng cây. Chẳng lẽ nào các em chỉ biết sống cho riêng các em còn tất cả ông bà, cha mẹ, anh chị em và những người thân thích, họ hàng, chung quanh, họ sống chết thế nào mặc họ.

Sự đổ vỡ trong Hôn nhân của con cái

Hỡi các thanh thiên thiếu nữ, tôi khuyên các em nên thận trọng, suy nghĩ, học hỏi, và cầu nguyện trước khi nhận lời cầu hôn hay kết hôn, vì có thể các em đã hiểu sai hoặc chưa rõ hết ý nghĩa về Bí Tích Hôn Nhân.

Sống ở các nước Tây Phương như: Úc, Mỹ, Anh, Canada ngày nay thì có rất ít em chịu lập gia đình dưới tuổi 25. Thế mà, tại sao giới thanh niên Công giáo con số ly dị vẫn gia tăng, và trong số đó đa số là người có bằng cấp học thức đại học.

Sự đổ vỡ trong hôn nhân của các em cũng là nguyên nhân gây nên cái sầu muốn thủa cho bậc làm cha làm mẹ như chúng tôi, sầu dài hạn có nghĩa là sống cũng như chết, nó còn nặng hơn cả bệnh trầm cảm đang hoành hành hiện nay ở giới trẻ.

 Xin các em hãy suy nghĩ lại cách sống của mình, để cho cha mẹ được vui hưởng tuổi già, đó mới thực sự là các em báo hiếu cho cha mẹ.

Sống trong thời đại của Sự Dữ lên ngôi

Các em đổ thừa cho rằng mình đang sống ở những nước mà sự truyền thông của ma quỷ đang nắm quyền. Chúng đã dùng tiền bạc, chức quyền mua đứt linh hồn của những kẻ cầm quyền, để đạt được mục đích tội lỗi của chúng. Nhiều người làm luật đã nhân danh vì quyền tự do, vì yêu thương theo ý của Satan, và họ đã cho ra những luật: Phá thai, trợ tử, tự do kết hôn khác phái, tự do ly dị, tự do ngoại tình. Họ đã đi ngược lại với lời khuyên của Giáo hội Công giáo đã khuyên chúng ta tôn trọng sự sống của con người, khuyên chúng ta trung thành trong đời sống hôn nhân, và tuân giữ lời giao ước với Thiên Chúa. Chẳng lẽ các bạn trẻ không biết phân biệt thế nào là sự sống, và thế nào là sự chết; Thế nào là chân lý, và đâu là sự phỉnh lừa hay sao. Tin theo sự dữ là bạn đang làm cho cha mẹ đang chết dần mòn trong nỗi buồn vô hạn và vô phương cứu chữa. Bạn là người con có hiếu, chẳng lẽ lại hiếu thảo với cha mẹ của mình như thế hay sao.

Quay trở lại căn bệnh quái ác mà anh chị kia đang mắc phải, đó là khác biệt giữa hai nền văn hoá Á và Âu; đó cũng là sự quan niệm sống của hai xã hội xưa và nay; Sau cùng là sự thiếu xót bổn phận của con người đối với Thiên Chúa, đối với ông bà, cha mẹ và anh chị em.

Muốn chữa căn bệnh này, Trước hết chúng ta phải loại bỏ những yếu tố, những nguyên nhân gây ra bệnh. Cần có những người cố vấn tâm linh và những người đã được đào tạo, hiểu biết về bệnh này, để có thể giúp cho người bệnh thoát khỏi vòng buồn bã, suy nghĩ luẩn quẩn. Thay đổi môi trường sống và trị liệu bằng thuốc cũng cần thiết để giúp người bệnh mau lành, và  “Thời gian” cũng là liều thuốc hữu hiệu để làm vơi đi nỗi buồn muôn thủa này. Sau cùng thì theo kiểu anh bạn của tôi nói với cái bệnh này như sau: “Buồn ơi tạm biệt mi, mày mà không rời tao ra, thì tao mà chết thì mày cũng phải chết theo’.

Hy vọng bài viết này giúp các em biết cách phụng dưỡng mẹ cha, giúp các em hiểu thêm về bệnh trầm cảm của tuôỉ già, hiểu thêm về lòng thương yêu của mẹ cha đối với các con, và nhất là suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, người muốn chúng ta được sống và triển nở chứ không phải chết đời đời trong sự đau buồn, khóc lóc và trong bóng tối của ma quỷ.

Thày Giáo Trường Dòng.