Trang Học Sinh – số tháng 5, 2019

Thầy giáo trường Dòng

Mẹ ơi con yêu mẹ

Các em học sinh thân mến. Chẳng có ai trên cõi đời này, mà không được ở trong cung lòng của mẹ một thời gian, để phát triển đầy đủ chi thể và sẽ được chào đời bằng tiếng khóc đầu đời. Người ta phải cắt rời sợi dây truyền sức sống từ người mẹ là giây nhau, để đứa bé bắt đầu tìm thức ăn bằng đường miệng.

Người mẹ là người đầu tiên được phép ôm đứa con vào lòng trước khi con trẻ được lau chùi và đặt vào nôi của trẻ sơ sinh. Các em có bao giờ được ai nhắc nhở về chuyện chào đời của mình đâu, có ai kể cho các em nỗi đau đớn của người mẹ khi sinh con, cùng nét mặt mừng vui của người mẹ khi nghe tiếng khóc, khi nhìn thấy mặt con và được ôm con vào lòng. Có nhiều em sau này sinh con thì mới hiểu được lòng thương của mẹ cha.

Mẹ ơi con yêu mẹ. Đó là câu nói đầu tiên khi em vừa nói được thành câu. Thật vậy vì kể từ khi con trẻ được sinh ra cho đến tuổi đi học. Đứa trẻ thường được ở gần mẹ nhiều hơn là người bố. Mẹ là chốn con tựa đầu, là nơi cung cấp thức ăn cho con trẻ về phần xác cũng như phần hồn được phát triển. Những tiếng ru của mẹ đã in sâu vào tâm trí của con trẻ, những tiếng nói, diện mạo của người mẹ, cũng như mùi của da thịt người mẹ là những thứ giúp con trẻ nhận diện được ai là mẹ của nó. Nhất là sau khi hoàng hôn, đứa trẻ sẽ khóc mãi chẳng ngừng, khi nó không được bồng ẵm bởi người mẹ của nó. Mẹ là nhất và là tất cả của con trẻ.

Những khi lầm lỗi, con trẻ bị người cha xử phạt, thì cũng chính người mẹ lại xin cha tha lỗi giùm cho nó. Có nhiều khi cha vung tay đánh, thì mẹ đã mang tấm thân gầy gò của mình mà che chở cho đứa con. Có nhiều gia đình tan vỡ cũng vì con trẻ. Thế mà các em vẫn còn có cha, có mẹ ở bên cạnh thì quả là một hồng phúc biết bao, do công lao của người mẹ.

Mẹ ơi con yêu mẹ. Thời xưa, các việc trong nhà đều do người mẹ đảm đang, từ khâu vá, giặt rũ, bổ củi, đi chợ, nấu ăn và dạy dỗ con cái học hành, tập tành những nhân đức, và dạy dỗ kinh sách cũng phần lớn là do người mẹ. Còn việc ngoài xã hội, lo kiếm tiền, lo việc sinh nhai là do người cha. Nhưng phần công lớn hơn là thuộc về người mẹ, vì người mẹ đa số là vừa lo việc nội trợ, vừa đảm đang buôn bán, làm việc kiếm tiền để phụ giúp người cha.

Mẹ ơi con yêu mẹ. Vì người mẹ Việt Nam luôn trung thành với việc hôn nhân như các cụ thường nói: “Gái chính chuyên một chồng”. Từ thời đạo Công giáo chưa có tại quê hương ta. Mẹ luôn chung thuỷ với mối tình hôn nhân đã được họ hàng đôi bên chấp nhận và nhất là theo luật của Hội thánh như Chúa Giêsu đã phán: Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, thì con người không được phân chia”.

Mẹ ơi con yêu mẹ. Vì những lúc con u buồn con đã tìm đến mẹ, để được nghe mẹ ủi an, khuyên nhủ. Những gì con không biết là tốt hay xấu, con đều được nghe mẹ phân tích, giải bày rõ ràng.

Mẹ ơi con yêu mẹ, vì nếu không có mẹ, thì làm sao có con. Nếu con không được mẹ dạy dỗ từ lời ăn, tiếng nói, cách nghĩ suy, thì làm sao ngày hôm nay con trở thành người hữu dụng được.

Đã có nhiều nhạc sĩ, văn sĩ viết nhiều bản nhạc, truyên ngắn, truyện dài để ca tụng về các bà mẹ. Đã có biết bao nhiêu đấng nhân tài thờ kính, phụng dưỡng mẹ già. Họ đã làm gương sống cho chúng con biết trân trọng tình mẫu tử.

Con tập tễnh làm bài thơ “Khóc mẹ trong mơ”, để nhớ đến mẹ:

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Bóng mẹ thật hiền từ,

Dáng mẹ thật xinh xinh,

Nuôi đàn con được sống,

Những tháng ngày điêu linh .

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Tính mẹ thật hiền hoà,

Dáng đi thật khoan thai,

Dạy đàn con đứng vững,

Trước cuộc đời phong ba.

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Dáng mẹ thật oai hung,

Gương mặt đầy uy nghiêm,

Khiến bọn quân hung ác,

Phải rùng mình lánh xa.

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Tấm thân mẹ gầy mòn,

Gương mặt mẹ xanh xao,

Nhưng mẹ luôn cương quyết,

Sống cuộc đời hy sinh.

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Sống trên cuộc đời này,

Biết bao là gian nguy,

Nhưng mẹ luôn vững chí,

Bước theo đường Chúa đi.

Mẹ hỡi, ới mẹ ơi.

Dáng mẹ thì gầy gầy,

Bóng mẹ thì cao cao,

Nhưng mẹ không còn nữa,

Con đành, khóc mẹ trong mơ.

Mẹ tôi đã về với đất trời, chỉ thiếu vài tháng nữa là đầy mười năm, nhưng tôi đã xa mẹ mất 36 năm rồi, kể từ khi vượt biển đến Mã-Lai, và định cư tại nước Úc. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm qua ngày giỗ, hay có dịp ghé về viếng thăm mộ người mẹ thân yêu tại quê nhà. Nhưng tôi và mọi người vẫn còn một người mẹ chung ở trên trời, đó là Đức Maria. Mẹ là mẹ Thiên Chúa và là mẹ của mọi người.

Các em học sinh thân mến. Hãy tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ như Lời Chúa đã dạy trong điều răn thứ Bốn: “Hãy thảo kính cha mẹ” khi còn sống cũng như lúc đã qua đời.

Nếu như các em không yêu người mẹ trần thế, thì làm sao các em có thể yêu mến người mẹ ở trên trời cho được, vì các em không nhìn thấy Đức Mẹ. Nếu chúng ta không đọc và dựa vào các sách của các thánh, sách cựu và tân ước, thì chúng ta khó có thể hiểu biết được về tình yêu mà Đức Mẹ dành cho nhân loại.

Không biết thì làm sao mà mộ mến cho được. Chính thế, chúng ta nên dành chút thì giờ mỗi ngày để tìm hiểu về Đức Mẹ cùng các vị thánh và các Đấng mà chúng ta tôn thờ. Nhớ nhé các em, vì điều này có lợi ích cho phần hồn của mọi người và nhất là cho các em học sinh Công giáo. Các nhạc sĩ đã viết lên nhiều bản nhạc để ca tụng Đức Mẹ. Nhiều cha xứ chọn Đức Mẹ làm bổn mạng cho giáo xứ của mình, qua các tước hiệu như: Đức Maria Vô Nhiễm, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Nữ Vương Mân Côi…

Tháng Năm của người Công Giáo là tháng rất quan trọng, để mọi người tỏ lòng sùng kính chân thật đối với Đức Mẹ. Trước hết các cần biết về tên cha mẹ của Đức mẹ. Bố tên là Joachim và mẹ tên là Anna. Cả hai đều là những người có cuộc sống rất thánh thiện. Giáo hội mừng kính hai thánh hàng năm vào ngày 26 tháng Bảy. Theo lich phụng vụ, Giáo hội mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ vào ngày mùng 8 tháng 9 hàng năm. Theo truyền thuyết của một ngụỵ thư thì Đức Mẹ được sinh ra do lời cầu xin của hai ông  bà Joachim và Anna, vì hai ông bà chịu tủi nhục vì đã cưới nhau lâu rồi mà không có con, họ chịu sự tủi nhục vì xã hội cho rằng họ bạc phước, không được Thiên Chúa chúc phúc. Nhưng thiên sứ đã đến báo tin cho ông bà biết là Thiên Chúa đã nhận lời cầu xin, và ban cho ông bà một hậu duệ được muôn đời nhắc đến. Sau khi hạ sinh được 14 ngày thì bà Anna đặt tên cho con là Maria. Việc ông thánh Giuse được chọn làm bạn trăm năm của Đức Maria như sau: Khi Đức Mẹ được 12 tuổi thì phải vào đền thờ, và các vị thượng tế  sắp xếp việc trăm năm cho Đức Mẹ bằng cách cho các chàng trai mang vào đền thờ một cây gậy. Sáng hôm sau, họ đến xem có phép lạ nào xảy ra hay không. Khi xưa thánh Giuse cầm lấy cây gậy của mình thì một con bồ câu thoát ra từ cây gậy ấy và bay lên đậu trên đầu của Ngài. Theo sách Tin Mừng của Thánh Gia-cô-bê, thì Đức mẹ chết vào ngày 15 tháng 8, mà ngày nay chúng ta mừng Lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời.

Ngày nay, chúng ta thường gọi tháng Năm là tháng dâng Hoa. Các bậc tổ tiên, ông bà của chúng ta thường dùng các loại sắc hoa dâng lên cho Đức Mẹ, để tưởng nhớ đến các nhân đức của Người. Nào là bông hoa màu đỏ, màu vàng, màu tím, màu trắng, màu xanh… Trích theo trang Web của Dòng Mân Côi Chí Hoà. Tác giả Jos.Vinc. Ngọc Biển, đã viết về nguồn gốc của việc dâng hoa cho Đức Mẹ như sau:

1. Nguồn gốc tháng hoa và việc dâng hoa

“Ngay từ những thế kỷ đầu, tại Rôma, thời điểm này, người ta tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên, bằng những cuộc rước linh đình để tôn kính Hoa là nữ thần của mùa Xuân.

Thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã khởi xướng việc trang hoàng hoa muôn sắc chung quanh tượng Mẹ.

Còn thánh Philiphê Nêri, vào ngày 01 tháng 05, đã quy tụ các trẻ em lại quanh bàn thờ Mẹ, và hướng dẫn các em dâng lên Mẹ những bông hoa tươi sắc. Ngài cũng dâng lên Mẹ những đóa hoa lòng còn trong trắng đơn sơ để Mẹ dìu dắt các em.

Sang thế kỷ thứ 17, việc dâng hoa kính Mẹ được cử hành trong toàn dòng các nữ tu kín Clara. Mỗi chiều đều vang lên những bài hát kính Đức Mẹ. Từ đó, dần dần được lan rộng ra bên ngoài nơi các xứ đạo lân cận.

Đầu thế kỷ 19, việc tôn kính Mẹ được lan rộng nhiều nơi. Các nhà giảng thuyết đã có những bài giảng suất sắc về Mẹ. Linh mục Chardon là người có công nhiều nhất trong việc phổ biến lòng đạo đức này. Thời điểm trên, lòng tôn kính Mẹ được cử hành rầm rộ nhất là tại nước Pháp và một số nước lân cận.

Các Đức Thánh Cha được coi là gắn bó đặc biệt với Đức Mẹ, đó là: Đức Thánh Cha Piô VII, đã cổ võ việc sùng kính Mẹ vào tháng Năm. Đức Piô IX đã ban ơn toàn xá cho những ai tham dự việc đạo đức này. Và, đến thời Đức Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, đã thêm vào và có tính khuyến khích cao: “Việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

Đầu thế kỷ 20, Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ được Đức Phaolô VI ban hành, trong đó có đoạn viết: “Tháng Năm là tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công Giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ những tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai toà rất dồi dào của Đức Mẹ” (Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, số 1).

Tháng 10 năm 2002, chuẩn bị mừng 25 năm Giáo Hoàng của đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài gửi đến mọi thành phần dân Chúa bức Tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi” về Kinh Mân Côi, lặp lại xác tín và lòng yêu mến Đức Mẹ. Và dịp Khánh Nhật Truyền Giáo năm 2003, ngài chỉ muốn nhắc lại xác tín này là “Hãy cùng với Đức Maria mà chiêm ngắm, bước theo và sinh Chúa Giêsu cho những người đồng thời với mình”.

2. Ý nghĩa của tháng Hoa

Mẹ Maria cũng được ví như Người Nữ tuyệt vời, đẹp nhất trong muôn ngàn phụ nữ, Mẹ đẹp tâm hồn, Mẹ đẹp thân xác. Vì thế, nơi hoa tỏa ra mùi thơm ngào ngạt, tượng trung cho các nhân đức nơi Mẹ. Đồng thời, những sắc màu của hoa tượng trưng cho Mẹ là Mẹ muôn loài khi đón nhận vai trò làm Mẹ Thiên Chúa.

Đức Mẹ còn được ví như Hòm Bia của Thiên Chúa, mà hoa lại là vật được dùng để trang trí cho Hòm Bia Giao Ước thời Cựu Ước. Như thế, Đức Mẹ luôn ở bên Thiên Chúa. Và hoa lại ở bên Mẹ…!

Hẳn chúng ta còn nhớ, trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh cho Môsê làm những nụ và cánh hoa để trang trí nơi cây đèn 7 ngọn đặt trước Hòm Bia Giao Ước. Hay như Salomon, ông đã ra lệnh cho nghệ nhân điêu khắc những cánh hoa bên trong và bên ngoài để trang trí nơi Cực Thánh trong đền thờ.

Bắt nguồn từ đó, hoa trong phụng vụ hay truyền thống của người Công Giáo luôn được coi trọng. Nó được dùng để trang hoàng cung thánh, bàn thờ hay để tỏ lòng tôn kính với các vị thánh, đặc biệt là Đức Mẹ. Tức là hoa được dùng vào vị trí trang trọng trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội.

Mẹ Maria được ví như bông hoa thơm ngát trước tòa Chúa, nhưng trước đó Mẹ cũng là những con người rất đỗi bình thường như bao người phụ nữ khác. Tuy nhiên, được Thiên Chúa tuyển chọn, và qua tiếng “Xin Vâng” nên Mẹ đã trở nên tuyệt mỹ hơn muôn ngàn phụ nữ. Mẹ đã trở nên đóa hoa thơm ngát trước Ngai Thiên Chúa. Mẹ đã trở nên đóa hoa độc nhất vô nhị của thế giới loài người. Tại sao lại như thế, thưa chỉ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và như một sự tất yếu, Mẹ là Mẹ loài người.

Nhờ ơn Chúa, Mẹ đã trở nên đóa hoa kiệt tác như: ơn Vô nhiễm nguyên tội, ơn Đồng trinh trọn đời, Mẹ Thiên Chúa, Hồn xác lên trời và Mẹ như “hoa hường mầu nhiệm vậy”.

3. Ý nghĩa của việc dâng Hoa kính Mẹ

Tại sao lại dâng hoa mà không dâng những thứ khác? Thưa! Rất đơn giản, vì hoa là thứ đẹp nhất trong mọi loài Chúa dựng nên, chẳng thế mà Đức Giêsu đã ví sự lộng lẫy, tươi đẹp của hoa còn hơn cả vua Salomon: “Chúng con hãy xem hoa huệ ngoài đồng. Chúng không canh cửa, không xe dệt, thế mà Thầy bảo cho chúng con biết, ngay cả Vua Salômôn dù vinh hoa tột bậc, cũng không thể mặc đẹp bằng một bông hoa ấy”.

Các nhà thờ thường hay tổ chức dâng hoa kính Mẹ, lúc này, mỗi màu hoa lại tượng trung cho một nỗi lòng của con cái muốn dâng lên Mẹ, hay ca ngợi một nhân đức nào đó của Mẹ. Như vậy, Hoa biểu trưng cho lòng Mẹ và cũng là biểu trưng của lòng con người:

  • Hoa huệ trắng biểu trưng sự trong sạch khiết trinh nơi Mẹ;
  • Hoa hồng diễn tả lòng mến nồng nàn mà Mẹ dành cho Chúa;
  • Hoa lan toát lên sự trung thành, mạnh mẽ và can đảm nơi Mẹ;
  • Hoa sen tượng trưng phó thác, đại lượng và cung kính nơi Mẹ;
  • Hoa có màu tím tượng trung cho sự khiêm tốn …

Người Việt Nam chúng ta khi biết ơn ai, hoặc kính trọng ai, thường hay biểu cảm qua bó hoa hay bông hoa. Cũng vậy khi đón nhận được ơn lành từ Trên ban, người ta cũng dâng tạ bằng những bông hoa. Với người Công Giáo, những biến cố quan trọng trong đời sống đức tin như: khi Rửa tôi; Thêm Sức; lãnh nhận Hôn Phối; hay Truyền Chức thánh, người ta cũng tặng hoa cho những người được mừng, và ngay cả khi chết, người ta cũng biểu đạt bằng hoa trên quan tài, bên di ảnh hay nơi mộ phần. Hay khi gặp rủi ro, tai nạn, bệnh tật, khi hết bệnh, người ta cũng dâng hoa để tỏ làng biết ơn với Thiên Chúa, Đức Mẹ và các thánh…

Riêng với Đức Mẹ, người dân Việt Nam có lòng sùng kính đặc biệt. Từ khắp nơi, mọi thành phần, lứa tuổi, đều hân hoan, nô nức dâng kính Mẹ những đóa hoa tươi thắm mối dịp tháng Năm về.

Tuy nhiên, hoa được dùng để qua đó, diễn tả hoa thiêng cõi lòng của con người. Hoa sẽ tàn phai, héo úa, lòng người cũng sẽ tàn phai và ủ rũ nếu không đón nhận được sứ điệp từ những việc đạo đức này.

Vì thế, điều quan trọng chính là tấm lòng chân thành, đơn sơ, yêu mến, phó thác, cậy trông của mỗi chúng ta dành nơi Mẹ. Như thế, nhờ những cách hoa lòng, chúng ta sẽ được nâng tâm hồn lên với Mẹ để Mẹ đón nhận và bầu chữa cho chúng ta. Thật vậy, không một ai có lòng tôn kính Mẹ mà mất ơn cứu rỗi bao giờ.

4. Lòng sùng kính Đức Mẹ đem lại hy vọng được sự sống đời đời

Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Trong nhiệm cục ân sủng, kể từ khi Mẹ tin tưởng ưng thuận trong ngày truyền tin, sự ưng thuận mà Mẹ đã kiên quyết giữ trọn cho đến bên Thập Giá. Đức Maria tiếp tục thiên chức làm Mẹ cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu độ mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng ngài vẫn tiếp tục liên lỉ chuyển cầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được cứu độ đời đời… Vì thế, trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian” (LG 62).

Vì Mẹ là Mẹ của Đầu thân thể mầu nhiệm Hội Thánh là chính Đức Giêsu và là “mẹ của nhân loại” (x. LG 54), và, Đấng Cứu Thế đã mang lấy đau khổ của mọi người thì Mẹ Maria, Đấng đồng công cứu chuộc, đã chia sẻ hơn ai hết các hậu quả tai ác của tội lỗi nhân loại khi đảm nhận sứ mệnh làm Mẹ Đấng Cứu Thế: “Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2, 35).

Tuy nhiên, vai trò Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian của Đức Mẹ phải gắn liền với Đức Giêsu là khơi nguyên và cùng đích của mọi điều thiện hảo.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cung minh định: “Trinh nữ Maria được công nhận và tôn kính là Mẹ đích thực của Thiên Chúa và của Đấng Cứu chuộc… Mẹ cũng thật sự là ‘Mẹ các chi thể Chúa Kitô’… vì Mẹ đã cộng tác bằng đức ái của mình vào việc sinh ra các tín hữu trong Hội Thánh, là những chi thể của Đức Kitô là Đầu. Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, là Mẹ của Hội Thánh” (x. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 963).

Việc sùng kính Đức Maria còn bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi vì: nhờ Người, với Người và trong Người, mọi vinh quang, danh dự đều quy về Cha trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, những biểu hiện tỏ lòng tôn kính Mẹ Maria cần phải dẫn đến việc tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thế nên, mọi việc tôn sùng Đức Mẹ phải nhằm vào sự kết hợp trực tiếp với Đức Giêsu, thiếu yếu tố này, mọi việc kể như vô hiệu.

Qua những gì đã chia sẻ ở trên dựa trên Giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta có quyền tin tưởng sẽ được cứu độ khi tôn sùng Đức Mẹ cách chính đáng và hợp với ý định và trong chương trình của Thiên Chúa.

Về điểm này, thánh Alphonsô quả quyết: “Hết mọi ơn thánh ở trong Chúa Giêsu như nguồn mạch: nhưng do ý định mầu nhiệm và thương xót của Chúa, không một ơn nào ban xuống cho loài người mà không có Mẹ cầu xin cho. Hơn nữa, Mẹ Maria là Mẹ đầy tình thương, Mẹ chỉ có một sứ mạng, một chức vụ là thương xót: đến nỗi những tội nhân khốn nạn nhất, tuyệt vọng nhất là những người đầu tiên được Mẹ cứu, Mẹ dấu yêu, miễn là họ đừng bỏ mất thiện chí cải tạo mà tin tưởng chạy đến với Mẹ”. Ngài còn kêu gọi tội nhân bằng lời tha thiết này: “Bạn hãy yêu mến Mẹ Maria! Hãy cầu xin Mẹ, thì bạn sẽ được cứu rỗi”; “Chúng ta được rỗi là do Mẹ cầu bầu”; “Tôi tớ Mẹ không ai có thể hư mất đời đời”.

5. Những việc làm cụ thể tỏ lòng tôn sùng Đức Mẹ theo truyền thống Việt Nam

Bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Người dân Việt Nam ngay từ lâu, đã có hình ảnh tốt đối với Đức Mẹ qua hình ảnh người mẹ trong đời thường.

Chắc chắn đã có lần anh chị em nghe lời giới thiệu ngọt ngào, truyền cảm, đầy xúc động của ca sĩ Thanh Lan trong băng nhạc chủ đề Quê hương và Lòng Mẹ như sau:

“Mẹ là dòng suối ngọt ngào”

“Mẹ là bóng mát dịu dàng”

“Mẹ là nguồn thương yêu bất tận”

“May mắn thay là những người còn mẹ”

“Mất mát thay là những người thiếu mẹ”

“Mỗi người chúng ta hãy dành một Bông Hồng cài áo Mẹ”

“Tất cả chúng ta đều trở nên bé nhỏ dưới ánh mắt, trong vòng tay và trong tình thương yêu bao la như biển cả của mẹ.”

“Mẹ đã che chở cho chúng ta trong những vinh nhục của cuộc sống, qua những sóng gió của cuộc đời”.

Như vậy, lòng sùng kính Đức Mẹ của chúng ta mang đậm nét kính trọng và mến yêu vì mang nặng tình mẫu tử. Qua hình ảnh người mẹ trần gian, thôi thúc chúng ta hướng về Mẹ trên trời. Thật vậy, trong cuộc sống, những lúc gặp khó khăn hay hoạn nạn, nhiều người đã thuộc nằm lòng những ca vãn ngợi khen, và cầu xin tha thiết như: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển… “; “Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam…”; “Lạy Mẹ, xin yên ủi chúng con luôn luôn…”, v.v… rồi những kinh Kính Mừng, tràng chuỗi Mân Côi được đọc lên râm ran trong các thánh đường, nơi các gia đình, và trong mọi biến cố vui buồn, thành công hay thất bại… Các cuộc rước linh đình, nhiều đền đài được mọc lên, nhiều nhà thờ được mang tước hiệu của Mẹ. Những thói quen đó đã đem lại cho Giáo Hội Việt Nam một tinh thần sốt sắng, giàu đức tin, lòng mến và trung kiên giữ đạo dù trải qua trăm nghìn thử thách gian truân.

Tuy nhiên, việc sùng kính đó nhiều lúc đã làm cho không ít người xa lạ với đức tin, tức là họ đã nhìn nhận Đức Mẹ như là đấng Trung Gian tuyệt đối, mà quên mất rằng: “Mọi ảnh hưởng có sức cứu độ của Đức Trinh Nữ trên nhân loại, đều bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô” (x. LG 60). “Thực vậy, không bao giờ có thể đặt một thụ tạo nào ngang hàng với Ngôi Lời Nhập Thể và Cứu Chuộc” (Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 970).

Thiết nghĩ, nhân dịp này, mỗi chúng ta hãy nhìn lại việc sùng kính của mình dành cho Đức Mẹ, và nếu đang đi quá xa về cách thức biểu lộ niềm tin và cách tôn sùng Mẹ không đúng với Giáo Huấn của Giáo Hội, thì hãy chỉnh lại sao cho phù hợp, để lòng tôn sùng Đức Mẹ không mất đi hay xa lạ với Đức Tin Công Giáo mà lại làm cho đức tin được thêm khởi sắc và đúng như ý Chúa, ý Mẹ và Giáo Huấn của Giáo Hội mong muốn.

Vì thế, Công Đồng đã nhắc nhở: “Lòng tôn sùng chân chính không hệ tại ở những tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại ở sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).

Mong sao, những việc tôn sùng Đức Mẹ của chúng ta sẽ dẫn đến việc noi gương Mẹ để sống cho đẹp lòng Thiên Chúa như Mẹ đã sống, để sau cuộc đời này, chúng ta được cùng Mẹ ca ngợi Thiên Chúa không ngừng trên Thiên Quốc.

Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con người Mẹ tuyệt với là Đức Maria. Xin cho mỗi chúng con biết yêu mến Chúa như Mẹ, biết noi gương các nhân đức của Mẹ, để sau cuộc đời nay, chúng con cũng được vào Thiên Quốc dự tiệc vui bên Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, xin đón nhận muôn vàn ý nguyện của chúng con dâng lên Mẹ qua những đóa hoa muôn sắc màu, ước gì chúng con được đón nhận những ơn lành của Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ. Amen”.

Hy vọng với những cố gắng sưu tầm này, Thày giáo trường Dòng mong các em học sinh có được lòng yêu mến những người mẹ một cách thành thực trong lòng, một cách tha thiết, một cách thánh thiện, một cách bền đỗ và nhất là yêu mến vô vị lợi, chớ hướng về mình, và chỉ được tìm Chúa trong Mẹ mà thôi. Amen.

Thày Giáo Trường Dòng.