Trang Học Sinh – Thầy giáo trường Dòng

Tôi Học Trường Đời

vào cái tuổi nghỉ hưu, tôi cứ ngỡ mình dày dạn kinh nghiệm trường đời sau 34 năm sống ở nước Úc. Thế nhưng, tôi đã lầm vì tôi chẳng biết sống như thế nào cho thích ứng với cuộc sống tuổi già này cả. Hai vợ chồng dọn ra ở riêng, để khỏi phiền hà con cháu được hơn 1 tuần lễ nay, nhưng cái nhà bếp vì phải rời ra bên hông nhà, nên chưa nối đường ống gas vào bếp được. Chúng tôi đành nhờ vào thùng mì hành để sống tạm. Sáng điểm tâm 1 gói, trưa và chiều hết thêm 2 gói nữa, vị chi cho hai vợ chồng tôi mỗi ngày tốn hết 6 gói mì hành. Mì hành là thứ dễ ăn nhất vì ít cay, mà lại rẻ nữa. Thế nhưng, vì nhà đang sửa và giây điện bị chạm mát, thành thử nhà bị cúp điện, đã gọi thợ mà họ cứ hẹn hoài mà chưa đến sửa cho, đành chạy qua nhà bên cạnh để nấu nước sôi nhờ. Cũng may cuối tuần chúng tôi thường được con cái mời ăn cơm gia đình, nên mới thấy cơm Việt Nam là số một. Những hột cơm trắng phau, nhai trong miệng sao mà nó ngon ngọt đến thế.

Con có khóc thì mẹ bới cho bú

Số tôi sao mà đói khát cả đời, lúc sinh ra thì khóc để chào đời. Được một tuổi thì khóc vì đau sốt bởi bệnh, và khi được vài tuổi thì cha mẹ dìu dắt đi vào miền Nam. Những đứa trẻ may mắn được di cư bằng các tàu há mồm, thì chúng được ăn uống no nê. Còn phần chúng tôi là những đứa con của con nhà lính, từ Hưng Yên xuống Hải Phòng vào Nam trong đợt cuối cùng 1954 thì lại phải chịu đói. Mẹ tôi kể về cơn đói di cư như sau. Mẹ tôi chỉ lo ôm con, đứa con bệnh tật, để theo chồng chạy loạn. Tài sản của vợ người lính cho quân đội Pháp, chẳng có gì để gồng gánh xuống tàu. Khi tàu đã ra khơi thì mới chợt nhớ ra chẳng có ai mang theo gạo. Cũng may trong số các bà có người còn mang được vài nắm gạo, nhưng không có nồi nấu. Bọn lũ trẻ chúng tôi vì đói nên kêu gào, khóc lóc ầm cả lên. Mẹ tôi kể rằng tôi là đứa bé gào khóc to nhất: “Mẹ ơi! Con ‘lả’ rồi mẹ ơi. Chữ ‘lả’ của người miền Bắc diễn tả cái đói lắm lắm, đói đến nỗi nhũn người ra, chân tay bủn rủn, không còn cử động được nữa, và chỉ còn biết gào lên. Tiếng gào khóc của trẻ con khiến cho các người lính Pháp phải động lòng tìm cách nấu vài nắm gạo của  người vợ lính đó thành nước cháo lỏng và múc cho mỗi gia đình một chút ít nước cháo cho lũ trẻ chúng tôi. Tôi học được bài học đầu đời là: “Con có khóc thì mẹ mới cho bú” là vậy đó.  Các em học sinh thân mến, các em các em đang đói khát ơn trợ giúp của Đức Chúa Thánh Thần, các em cũng đang lo sợ đủ điều. Tôi khuyên hãy chạy đến cùng Đức Mẹ, để xin người lo lắng và bảo trợ cho các em.

Một miếng khi đói bằng một gói khi no

Tôi chợt nhớ lại lần vượt biển lần thứ 7. Khi chiếc tàu của chúng tôi đã bị tàu đánh cá quốc doanh kéo về đảo Côn Sơn. Thế nhưng, trong cái xui lại có cái may. Gần đến đảo Côn Sơn thì có lẽ vì họ ngại gặp rắc rối, mất thì giờ đánh cá của họ, cho nên họ cắt dây kéo tầu của chúng tôi để tự lái tàu vào trình diện công an của đảo, phần họ thì lái tàu quay trở ra ngoài khơi để tiếp tục đánh cá. Vì trời gần tối, nên chúng tôi không bị phát hiện bởi công an biên phòng. Tôi đánh liều lái tàu chạy vào phía cửa Ba-Động, vùng biển của Trà Vinh, khi tàu chạy đến vùng cửa biển thì trời đã tối mịt, và tôi không còn biết hướng đi, tôi liều ủi đại tàu vào bờ của một cù lao.

Tất cả 34 người vượt biên chúng tôi dìu dắt nhau lên bờ, thôi phó mặc cho Chúa lo liệu, vì không còn lương thực, dầu, nước uống, ai nấy đều đói lả. May thay cho chúng tôi khi lên được bờ cù lao này, thì biết là mình vào trúng ngay vườn dưa hấu, trái đã to, nằm vắt vưởng, lền khên trên giồng. Trong khi tôi còn đang mải mê hái trái dưa, để ăn cho đỡ đói khát, thì thấy gáy mình lành lạnh. Tôi cố ngoáy cổ lại, thì tôi biết mình đang bị người chủ canh vườn dưa hấu kề phía sống của con dao vào cần cổ. Tôi nói vội là mình đi vượt bên bị lừa, đói quá đành bẻ trộm trái dưa để ăn, tôi bằng lòng đền cho anh ta tiền. Anh đồng ý và chỉ cho tôi hướng chạy về phía nhà dân. Tôi chạy theo hướng anh ta chỉ, vì trời đã tối tôi chẳng trông thấy ai, cho đến khi tôi gặp một bà già trong xóm cho tôi đi qua sân nhà để chạy về phía sau nhà.

Trời ơi tôi đâu có ngờ hệ thống kênh đào ở miền tây nhiều đến thế, Tôi phải vượt qua 6 con kênh đào thì tới được con sông lớn chạy cắt ngang hai cù lao. Vừa đói, vừa mệt vì chạy băng qua những cánh đồng ruộng, và phải bơi qua các con kênh đào. Tôi ôm đầu kêu trời, và than thầm là mình hết số mất rồi. Con sông lớn quá làm sao tôi còn đử sức để mà bơi. Chợt từ xa tôi thấy có ánh đèn dầu lấp lánh, càng lúc càng đến gần chỗ của tôi. Sợ hãi vì bị bắt cũng chẳng ngăn được tôi kêu cứu, vì thà bị bắt còn hơn là phải chết đuối. Tôi đã nhìn thấy chiếc thuyền nhỏ của người đi câu đêm, tôi lên tiếng gọi đại: “Anh Hai, anh Hai”. Chiếc thuyền vẫn lờ lững trôi theo dòng nước chảy, tôi vội kêu thêm lần nữa: “Anh Hai, anh Hai”. Lúc này thì chiếc thuyền câu ở giữa sông đã trôi qua chỗ đứng của tôi, và hình như nó đang hướng vào phía bờ sông nơi tôi đang trốn, chỉ ít phút sau thì chiếc thuyền đã vào tới bờ, và người chủ thuyền chèo ngược lại gần chỗ tôi.

Anh bảo tôi nói nhỏ tiếng, và chỉ cho tôi thấy ở gần đó có ánh đèn, anh bảo cho tôi biết đó là đồn biên phòng của cửa Ba Động. Tôi nói cho anh ta biết là tôi là người vượt biên bị lạc vào cù lao này. Nghe tôi nói xong, anh ta hỏi tôi trên tàu của chúng tôi có ai là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà không?

Tôi nào có biết ai vào với ai, vì tôi được người cùng giáo xứ dắt mối đi vượt biển, từ nhà chứa tôi được dắt ra bãi bến, đi ghe nhỏ ra tàu lớn gọi là tàu chứ nó trông bé cỏn con. Sau 4 ngày lên đênh trên mặt biển thì tàu của chúng tôi bị tầu đánh cá Kiên Giang bắt và tôi lái đại cho nó thoát khỏi Côn Sơn và nhắm hướng phía Tây mà chạy vào bờ.

Tôi còn do dự chưa nói, thì anh ta nói tiếp là tuần trước đó, có một chiếc thuyền vượt biên cũng bị lạc vào đây, trong chiếc tầu đó có 12 người sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, tất cả đều bị bọn công an bắn chết tại bờ của cù lao này. Em của anh ta là công an của đồn công an này, vì nó bất mãn và sợ nên đã xin nghỉ bịnh rồi. Tôi nghe xong cũng cảm thấy hồi hộp, không biết là thật hay giả. Anh ta lại hỏi tôi thêm một lần nữa. Trong đầu tôi suy nghĩ, nếu lời anh ta nói không phải là thật, thì tại sao anh ta không hỏi trên tàu có ai mang vàng bạc gì không?

Suy nghĩ như thế tôi bèn trả lời cho anh ta biết tôi không biết ai là sĩ quan trên tàu, chỉ có tôi là sĩ quan Trợ Y, còn đang ở Trường Quân Y. Cử điệu của anh diễn tả sự vui sướng như tìm thấy một thứ gì mà anh ta đang mong chờ. Anh ta nói anh là lính y tá. Rồi anh ta gọi tôi là ông thày. Tôi nói cho anh ta biết tôi là con lớn trong gia đình, và hỏi anh ta thứ mấy, và bảo anh ta gọi tôi là anh Hai, còn tôi gọi anh ta là chú Tư. Cho đến giây phút này tôi mới nhận biết được tình huynh đệ chi binh trong quân đội thì cao trọng biết mấy, tới lúc này tôi mới biết những lời nói của anh ta là thật. Anh ta kêu tôi xuống thuyền và chèo thuyền qua bên kia bờ sông. Con sông rộng, nước đang cao khiến con thuyền cũng phải mất 10 phút mới tới được bờ sông bên kia. Anh ta đi trước, tôi đi theo sau một cách nhanh nhẹn và im lặng. Tôi nhận ra đây lại là một cái cồn nữa. Chúng tôi đã đến chỗ dừng chân an toàn, anh ta dừng lại và nói: Ông thày tạm lánh ở đây nhe, chờ tối ngày mai tôi tới đưa ông thày vô đất liền.

Lòng tui lại lo lắng, có lẽ nào những điều anh ta nói khi gặp tôi không phải là thiệt, không chừng anh ta giữ tôi lại để gọi công an đến bắt. Anh ta biết tôi lo sợ, nên đưa cho tôi một nắm cơm vắt, một gói thuốc và một cái hộp quẹt rồi nói: “Ông thày dùng đỡ nắm cơm của tui, và gói thuốc và hộp bao diêm này. Tối mai tui sẽ đến đưa ông thày đi nhe. Tôi vội hỏi tên anh là gì, nhưng anh ta nói khéo rằng: “Cứ gọi tên theo thứ cho tiện, ông thày nhớ cho nếu có điều không may, thì đừng có khai là gặp tui nhen”.

Anh ta vội vàng đi ngược lại và xuống thuyền. Cơn đói  làm bụng tôi cồn cào, tôi há miệng cắn một miếng cơm. Chúa ơi! sao mà nó ngon, ngọt đến thế.  Tôi không thể diễn tả nổi sự ngon của nắm cơm không tối hôm ấy, nó dẻo và ngọt như tôi đang nhai cục đường thẻ vậy. Có thể là do miệng tôi quá đắng vì cái mặn của nước biển cả mấy hôm nay, không có lương thực, không còn nước và tôi đã bị đói 4 ngày rồi, bây giờ được ăn vắt cơm nguội này, thật là quý giá. Vắt cơm của anh Tư để dùng ăn qua đêm, anh ta đã nhường lại cho tôi, gói thuốc và hộp diêm của anh mà anh cũng dám nhịn hút để cho tôi. Tôi thực sự bị cái tình lính, huynh đệ chi binh này làm cho tôi xúc động đến rơi nước mắt, và tôi đã hoàn toàn tin tưởng lời nói của anh, để ngủ một giấc ngủ ngon lành cho tới khi trời sáng.

Ngày hôm sau, thời gian trôi đi quá chậm. Tôi chờ đợi trong hồi hộp và lo sợ. Tôi cầu xin Chúa cho trời mau tối, để anh Tư đến đưa tôi vào bờ. Từng giây, từng phút, rồi từng giờ qua đi trong sự mỏi mệt trông đợi của tôi. Đầu óc tôi lại hiện ra ý nghĩ: Chẳng lẽ anh Tư đã bỏ rơi mình hay anh ta gặp việc không may?

Những lùm cây mọc hoang trên đảo cũng tạo chỗ cho tôi nằm và thiếp đi, tiếng trò chuyện của những người đi đò dưới sông, cộng thêm tiếng nổ xình xịch của máy tầu đã giúp tôi hiểu vì sao anh Tư không thể đến gặp tôi vào ban ngày. Trời đã tối và đêm đen lại bao phủ, tôi không còn trông thấy gì nữa. Tôi chỉ biết dùng thính giác để nghe tiếng động của mọi vật chung quanh. Khoảng gần nửa đêm tôi chợt nghe thấy tiếng sột soạt của bước chân người cọ quẹt vào các cành cây trên lối đi, hình như không phải của một người mà là của hai người. Tôi sợ hãi nấp mình vào một bụi cây khác, để tránh khỏi sự bắt bớ của người lạ và chờ xem sự gì sẽ xảy ra cho tôi.

Bỗng tôi nghe thấy tiếng gọi khe khẽ: “Anh Hai, anh Hai, tui Tư đây!”. Tôi vẫn chưa dám lên tiếng trả lời, vì tôi ngửi thấy mùi rượu nồng nặc. Hình như anh Tư hiểu được ý, anh ta nói thêm: “Tui rủ thằng em đến phụ giúp một tay, đưa anh vô bờ”.

Tôi giật mình sợ hãi thêm, vì em của anh ta là công an biên phòng cơ mà. Nhưng tôi không còn sợ hãi chi nữa, lòng nhủ thầm cùng lắm thì ngồi tù chứ có chết đâu mà sợ. Tôi làm bộ ho cho họ biết chỗ tôi ẩn nấu. Anh ta giới thiệu tôi với người em: “Đây là anh Hai”. Tôi gật đầu chào lại rồi nói: “Chào chú Năm”.

Chúng tôi xuống chiếc xuồng tam bản, anh Tư ghé tai tôi nói nhỏ: “Anh Hai em sợ nó hổng bằng lòng giúp, nên mua xị rượu mời nó ăn cơm, thành thử ra hơi trễ”. Tôi cũng đáp lời: “Cảm ơn anh Tư nhiều lắm”. Im lặng được đôi phút, anh Tư lại ghé tai hỏi nhỏ: “Anh Hai còn tiền không?”. Tôi như chết điếng bởi vì tôi nghĩ xấu cho chú ta. Nhưng tôi thật thà trả lời là tui không có đồng xu ten dính túi. Anh ta móc túi và dấn vào tay tui rồi nói: “May quá tui còn đủ tiền biếu anh Hai mua vé xe đò từ chợ Trà Vinh dìa Sài gòn”. Lúc này tôi cảm động rơi nước mắt luôn.

Chúng tôi đã tới nơi chiếc xuồng của anh Tư, anh ta dặn dò tôi đủ thứ: Anh Hai tới bờ thì cứ đi thẳng đường đất, tới cái ngã tư thì quẹo phải là trại giam Bến Giá, nhưng cổng gác ở xa đường, anh Hai cứ vậy mà đi, đừng nói chuyện gì nghen, anh Hai cầm đôi dép, hay cặp nách mà đi cho giống dân địa phương, đừng ngó ngang ngó dọc, kẻo dân ở đây họ nghi ngờ. Nếu lỡ bị ai hỏi thì nói là đi lao động ở dưới này nghen. Tôi dạ cho xong, chứ hồn xác tôi còn vui gì mà với chuyện ai.

Hai anh em chú Tư, kẻ chèo đầu mũi, kẻ chèo cuối mũi, còn tôi thì ngồi im lặng ở giữa xuồng. Gặp phải những con lạch ít nước, anh Tư phải lội nước, lấy sức đẩy cho ghe đi qua chỗ cạn. Họ cố giữ cho quần áo tôi không bị lấm bùn. Độ chừng nửa giờ sau thì tôi tới được bờ đất, hai anh em nhà anh Tư im lặng và vội vàng chèo xuồng ngược trở về. Tôi cũng ngó chung quanh và đi thật nhanh trên con đường đất thẳng tắp. Đúng như lời anh Tư căn dặn, tôi đã gặp được ngã tư, queo phải và cứ thế mà đi tiếp suốt đêm, tôi đến được Xóm Cầu Ngang, và tôi cứ lủi thủi đi tới được Bến Xe Trà Vinh, kịp được chuyến xe đò đầu tiên đi Sài Gòn. Tôi về nhà bà chị con ông bác ruột để ở trọ. Người tôi đen như hòn than, thân tôi gầy gò, mắt tôi thì lõm vào, ai nhìn cũng biết là dân vượt biên hay là người thanh niên xung phong trốn lao đông ở nông trường nào đó, mới trở về nhà. Tôi mang ơn anh em của người lính Việt Nam Cộng Hoà đã cứu thoát tôi, tôi còn nợ anh Tư một vé xe đò ngày hôm đó. Trời đất bao la, tôi đâu có biết tên của anh, biết nhà của anh ở đâu để mà đáp đền ơn. Tôi đành xin trả ơn anh bằng những việc lành tôi đã làm cho đời, cho người mà tôi gặp gỡ sau này có hoàn cảnh khốn khó. Anh đã dặn tôi đừng hỏi tên anh, nhưng tôi xin gọi anh là anh Tư. Nơi anh ở cách chợ Trà Vinh cũng vài chục cây, tôi tính nhẩm bằng giờ tôi đã đi bộ 8 tiếng nhân với 4 cây số/giờ. Tính ra khoảng đường đất lẫn đường sông có thể là 30 cây số. Người ân nhân của tôi đã làm cho tôi thêm lòng yêu mến người miệt dưới. Họ hiền lành và chất phát. Nét đẹp của người miền tây sao mà hiền hậu, nhu mì đến thế. Anh Tư ơi hãy mỉm cười vì tình huynh đệ chi binh mà anh đã liều mình cứu tôi, bất chấp mọi hiểm nguy. Tôi xin giơ tay chào anh, người chiến sĩ vô danh với lòng biết ơn của tôi. Tôi bây giờ vẫn noi gương anh, sẵn sàng cứu giúp người gặp nạn, không quản ngại khó khan. Tạ ơn Chúa đã cho con một bài học về tình yêu sống động và quý giá.

Đời chỉ là kiếp sống tạm bợ

Thoáng một cái là hết một giây, rồi một phút, một ngày, rồi một năm sẽ trôi qua. Các em học sinh hãy kiên nhẫn vì thời gian là phương thuốc hay nhất giúp cho những lo lắng của các em mau hết. Tất cả những thử thách trong cuộc sống của con người rồi cũng qua, thì tại sao các em lại sợ đối diện với những khó khăn và trở ngại. Người ta hay dùng lửa để thử xem vàng tốt hay vàng xấu, vàng pha bạc hay pha đồng hay là vàng nguyên chất. Cũng như thế cuộc sống của chúng ta được gian khó thử thách để cho cuộc sống của các em được thăng tiến hơn. Có nhiều người tưởng rằng kết liễu đời mình là trốn tránh được sự khó, nhưng không phải vậy đâu, vì tại sao họ lại không dám sống để đối diện với những khó khăn, và đầy thách đố trong cuộc sống.

Nếu biết cuộc sống này chỉ là tạm bợ thì tại sao nhiều người lại đòi hỏi một mức sống quá cao, để suốt đời làm việc không ngừng nghỉ. Hoăc ngược lại, có những người lười biếng, trốn tránh bổn phận và thoái thác trách nhiệm cho người khác.

Tôi cũng may mắn từng là đứa bé đã kêu gào: “Mẹ ơi! Con lả rồi”. tôi cũng là những thằng bé lượm rác Mỹ, đã từng tranh nhau với những đứa trẻ khác, để bới trong ngọn lửa đốt rác ấy để tìm kiếm những dây điện bằng đồng đem về bán cho tiệm mua ‘ve chai’. Tranh nhau bới trong những thùng thức ăn thừa của rác Mỹ, để tìm những xúc xích, những miếng thịt ăn thừa, dở dang. Tôi vẫn còn sống và đang sống. Thời thế, thế thời phải thế. Tôi chẳng có danh gì với núi sông, nhưng tôi vẫn là ông của lũ cháu và là tôi của chính tôi.

Học cách sống ở trường đời là thế đấy. Các em học sinh thân mến, Ngày xưa chúng tôi thường được cha mẹ dạy rằng: “Hãy cứu giúp kẻ hoạn nạn, vì Thiên Chúa sẽ chúc phúc lành cho chúng ta, và con cháu của chúng ta cũng sẽ có ngày được người đời giúp lại”. Ngày nay các em hãy xét mình để xem các em đã giúp được bạn bè bao nhiêu lần? Hay đã giúp đỡ người già, yếu lần nào hay chưa? Các em có thương người giống như thương thân mình, hay các em sống ích kỷ và muốn bạn bè phải sống thiếu thốn của ăn, trong khi các em lại dư thừa. Hãy tập giữ những việc làm tốt lành cho tha nhân, hãy noi gương của các bậc tiền nhân, để cuộc sống của các em đem lại hạnh phúc cho muôn người. Tôi vẫn còn phải học tập nhiều nhân đức: yêu thương, hiền lành và khiêm nhường. Xin nói nhỏ với các em rằng, tôi càng già càng thêm lú lẫn, học hôm trước mà ngày hôm sau đã quên mất rồi. Tôi vừa cầm cái búa thế mà chỉ ít phút sau không còn nhớ là đặt để nó ở chỗ nào.

Các em còn trẻ, cho nên học cái gì cũng nhanh, hãy cố gắng ghi chép vào trong trí óc những điều tốt lành. Hầu sau này các em được mọi người mến yêu vì các việc mà các em đã làm có ích cho nhân loại. 

Thày Giáo Trường Dòng.