Ý tưởng lịch sử về việc phát triển lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NewAdvent.org)

1. Từ thời Thánh Gioan và Thánh Phaolô, trong Giáo hội cũng đã có những cách sùng kính như lòng sùng kính Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi trao ban chính Con Một của Ngài, và chính Chúa Giêsu cũng yêu thương chúng ta đến nỗi hiến thân vì chúng ta. Nhưng, nói một cách chính xác, đây không là lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì không có lòng kính trọng Thánh Tâm Chúa Giêsu như biểu tượng của Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Từ các thế kỷ đầu, phù ợp với gương của của Thánh sử, cạnh sườn của Đức Kitô và mầu nhiệm Máu và Nước đã được suy niệm, và Giáo hội chiêm ngưỡng những gì chảy ra từ cạnh sườn của Chúa Giêsu, như bà Êva được tạo nên từ xương sườn của ông Adam. Nhưng trong 10 thế kỷ đầu không có gì chứng tỏ điều đó, không có sự tôn thờ nào dành cho Trái Tim bị thương tích ấy.

2. Thế kỷ XI và XII, chúng ta thấy có những cách chứng tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Vết thương ở Trái Tim dần dần được đạt tới, và vết thương đó là biểu tượng của tình yêu. Đó là trong không khí nhiệt thành của Dòng

Biển Đức hoặc Dòng Xitô, theo tư tưởng của Thánh Anselmô hoặc Thánh Bênađô, rằng lòng sùng kính này tăng lên, dù không thể xác định các văn bản hoặc những người sùng kính đầu tiên. Theo Thánh Gertrude, Thánh mechtilde, và tác giả bản “Vitis mystica” (Cây nho Thần bí) đã nổi danh, chúng ta không thể chắc chắn xác định ai đã có công soạn “Vitis mystica”. Cho tới thời gian gần đây, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được quy cho Thánh Bênađô, nhưng cũng có thể quy cho Thánh Bônaventura (“S. Bonaventura opera omnia”, 1898, VIII, LIII sq.). Nhưng, có thể vậy, nó gồm một trong những đoạn ahy đã từng truyền cảm hứng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, thích hợp để Giáo hội có những bài học về kinh đêm của ngày lễ. Đối với Thánh Mechtilde (qua đời năm 1298) và Thánh Gertrude (qua đời năm 1302), đó là lòng sùng kính tương tự đã được chuyển thành nhiều lời nguyện và cách sử dụng. Điều đáng quan tâm là thị kiến của Thánh Gertrude vào chính ngày lễ Thánh Gioan Tông đồ, vì điều đó đã hình thành lịch sử của lòng sùng kính này. Được tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, bà đã nghe nhịp đập của Thánh Tâm Chúa Giêsu và hỏi Thánh Gioan rằng trong Bữa Tiệc Ly, ngài cũng nghe những nhịp đập kỳ diệu như vậy mà sao ngài không nói gì. Thánh Gioan trả lời rằng mặc khải này đã được giữ cho các hậu duệ, khi mà thế giới trở nên nguội lạnh, họ cần nhen nhóm lại tình yêu này (Legatus divinae pietatis, IV, 305; Revelationes Gertrudianae, ed. Poitiers and Paris, 1877).

3. Từ thế kỷ XIII tới XVI, lòng sùng kính này được truyền bá nhưng vẫn không phát triển nhiều. Khắp nơi được thực hành bởi các linh hồn được đặn ân, các thánh và các dòng tu như Dòng Phanxicô, Dòng Đa Minh, Dòng Carthusians, v.v… có nhiều tấm gương về lòng sùng kính này. Vì thế, đó là lòng sùng kính riêng của các dòng thần bí này. Không có gì khởi đầu, chỉ có viêc truyền bá lòng sùng kính Năm Dấu Thánh, trong đó Dấu Thánh ở Thánh Tâm được lưu ý nhất, và để xúc tiến điều đó, Dòng Phanxicô đã nỗ lực nhiều.

4. Khoảng thế kỷ XVII, lòng sùng kính tiếp tục phát triển và chuyển từ lĩnh vực thần bí sang lĩnh vực khổ hạnh Kitô giáo. Điều đó cấu thành một lòng sùng kính khách quan bằng những lời cầu nguyện được soạn sẵn và các cách thực hiện đặc biệt mà giá trị và cách thực hành đó được ca tụng. Chúng ta biết điều này nhờ các văn bản của các “sư phụ” về đời sống tâm linh là Lanspergius đạo hạnh (qua đời năm 1539), Dòng Carthusians ở Cologne, tu sĩ đạo hạnh Louis Blois (Blosius, 1566), Dòng Biển Đức, và Tu viện trưởng Liessies ở Hainaut. Có thể kể cả Chân phước Gioan Avila (qua đời năm 1569) và Thánh Phanxicô Salê, thế kỷ XVII.

5. Từ đó, mọi thứ cho thấy rõ lòng sùng kính này. Các tác giả khổ hạnh nói về điều đó, nhất là các tác giả Dòng Tên như Alvarez de Paz, Luis de la Puente, Saint-Jure, và Nouet, vẫn có những thỏa thuận đặc biệt về vấn đề này như tác phẩm nhỏ “Meta Cordium, Cor Jesu” của LM Druzbicki (qua đời năm 1662). Trong số các nhà thần bí và các linh hồn đạo đức tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu có Thánh Francis Borgia, Chân phước Phêrô Canisiô, Thánh Aloysiô Gonzaga, và Thánh Anphong Rodriguez, Dòng Tên; kể cả Tôi tớ Chúa Marina de Escobar (qua đời năm 1633), ở Tây Ban Nha; Bậc đáng kính Madeleine Thánh Giuse và Tôi tớ Chúa Margaritta Thánh thể, Dòng Cát Minh, Pháp quốc; Jeanne de S. Mathieu Deleloe (qua đời năm 1660), Dòng Biển Đức, Bỉ quốc; Armelle ở Vannes (qua đời năm 1671); thậm chí cả những người theo thuyết Jansen hoặc các trung tâm thế giới, Marie de Valernod (qua đời năm 1654) và Angélique Arnauld; M. Boudon, the great archdeacon ở Evreux, Linh mục Huby, tông đồ ẩn dật ở Brittany, và đặc biệt là Bậc đáng kính Maria Nhập Thể (qua đời tại Quebec năm 1672). Trực giác của Thánh Phanxicô Salê, các bài suy niệm của Mẹ Huillier (qua đời năm 1655), các thị kiến của Mẹ Anne-Marguerite Clément (qua đời năm 1661), và của nữ tu Jeanne-Bénigne Gojos (qua đời năm 1692) là những cái khởi đầu. Linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu có ở khắp nơi, đó là nhờ lòng sùng kính của Dòng Phanxicô đối với Năm Dấu Thánh và thói quen tốt lành của Dòng Tên thường đặt linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu trên các cuốn sách và trên tường nhà nguyện.

6. Tuy nhiên, lòng sùng kính này vẫn là riêng tư cá nhân. Thánh LM Gioan Eudes (16021680) đã công khai hóa để tôn kính bằng một Thánh lễ. LM Eudes là tông đồ của Trái Tim Đức Mẹ, nhưng việc ngài tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm có cả Thánh Tâm Chúa Giêsu. Dần dần lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên lòng sùng kính riêng biệt, và ngày 31-8-1670, lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được cử hành trọng thể tại Đại chủng viện Rennes. Theo sau là ở Coutances vào ngày 20-10, vì thế ngày này có liên quan lễ Thánh Eudes. Lễ này mau chóng lan rộng tới các giáo phận khác, và lòng sùng kính này cũng xuất hiện tại nhiều dòng tu. Đây đó cũng bắt đầu có lòng sùng kính này, khởi đầu từ Paray.

7. Chính Thánh Margaritta Maria Alacoque, một nữ tu khiêm nhường của Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, đã được Chúa Giêsu chọn để mặc khải những mong muốn của Thánh Tâm Ngài và giao nhiệm vụ phổ biến cách sống mới đối với lòng sùng kính này. Không có gì cho biết rõ rằng nữ tu đạo hạnh này đã biết lòng sùng kính này trước những lần được mặc khải, hoặc là bà đã chú ý tới điều đó. Các mặc khải này nhiều lắm, và những lần hiện ra tiếp theo rất đáng chú ý: Chúa Giêsu hiện ra vào ngày lễ Thánh Gioan, khi Ngài cho phép nữ tu Margaritta Maria Alacoque, như Ngài đã cho phép Thánh Gertrude, được tựa đầu vào ngực Ngài, được nghe những nhịp đập yêu thương của Ngài, được biết Ngài muốn bày tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa cho toàn nhân loại và loan truyền lòng nhân lành của Chúa. Ngài bày tỏ cho bà điều này vào ngày 2712, có thể là năm 1673. Ngài hiện ra với lòng yêu thương và yêu cầu tôn sùng tình yêu cứu chuộc (expiatory love) – rước lễ thường xuyên, rước lễ vào ngày Thứ Sáu Đầu Tháng, và làm Giờ Thánh (có thể là tháng 6 hoặc tháng 7-1674); đó là lần hiện ra quan trọng xảy ra trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi) năm 1675, có thể vào ngày 16 tháng 6, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy ngắm nhìn Thánh Tâm Ta yêu thương nhân laoị biết bao… Nhưng thay vì được biết ơn, Ta chỉ nhận được sự vô ơn…”, và Ngài yêu cầu bà vận động thành lập lễ kính Thánh Tâm vào Thứ Sáu sau lễ kính Mình Máu Thánh, và nói bà cho LM Colombière biết, lúc đó LM Colombière là bề trên Dòng Tên tại Paray.

Cuối cùng, lòng sùng kính này là trách nhiệm loan truyền của Dòng Thăm Viếng và các linh mục Dòng Tên. Vài ngày sau lần hiện ra quan trọng đó, tháng 6-1675, nữ tu Margaritta Maria Alacoque đã nói với LM Colombière, và điều này được nhận biết là tinh thần của Chúa, LM Colombière đã tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, hướng dẫn nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết lại việc thị kiến, được dùng ở Pháp quốc và Anh quốc. Khi LM Colombière qua đời, 15-1-1682, người ta phát hiện bản chép tay mà ngài đã yêu cầu nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết, cùng với vài nhận xét về lợi ích của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bản giải thích lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được xuất bản tại Lyons năm 1684. Cuốn sách nhỏ này được đọc nhiều, ngay cả ở Paray, dù vẫn có sự lầm lẫn về Thánh Margaritta Maria Alacoque, người đã có công truyền bá lòng sùng kính này. Moulins với Mẹ de Soudeilles, Dijon với Mẹ de Saumaise và nữ tu Joly, Semur với Mẹ Greyfié, và thậm chí ở Paray, đã phản đối nhưng rồi lại hòa nhập. Ngoài các tu sĩ Dòng Thăm Viếng, các linh mục, các tu sĩ, và giáo dân đã tán thành, đặc biệt là một tu sĩ Dòng Phanxicô, hai tu sĩ Dòng Thánh Margaritta Alacoque, và một số tu sĩ Dòng Tên, các linh mục Croiset và Gallifet, đã hành động nhiều vì lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

8. Sau khi Thánh Margaritta Maria Alacoque qua đời ngày 17-10-1690, lòng nhiệt thành của những người này vẫn không giảm sút; ngược lại, năm 1691, LM Croiset đã cho xuất bản cuốn “De la Dévotion au Sacré Cœur” (Về việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu) để truyền bá lòng sùng kính này. Mặc dù gặp nhiều trở ngại, sự trì trệ của Tòa thánh, năm 1693 đã có Huynh đoàn Thánh Tâm Chúa (Confraternities of the Sacred Heart), năm 1697, đã giao hội này cho các tu sĩ Dòng Thăm Viếng với lễ Năm Dấu Thánh (Mass of the Five Wounds). Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu phát triển mạnh, nhất là tại các dòng tu. Năm 1720, dịch bệnh ở Marseilles có thể là dịp đầu tiên để tận hiến và công khai tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu bên ngoài các cộng đoàn tu. Các thành phố khác ở miền Nam noi gương của Marseilles, thế nên lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên phổ biến. Năm 1726, người ta xin ý kiến của Rôma về lễ Thánh Tâm, nhưng Rôma vẫn từ chối vào năm 1729. Tuy nhiên, năm 1765, theo yêu cầu của Nữ hoàng, lễ này chính thức được các giám mục Pháp đón nhận. Năm 1856, theo yêu cầu của các giám mục Pháp, ĐGH Piô IX đã mở rộng lễ này cho Giáo hội hoàn vũ bằng một nghi thức trang trọng. Năm 1889, lễ này được Giáo hội nâng lên thành lễ bậc nhất. Việc tận hiến và chuẩn bị cho việc sùng kính này. Nhất là từ năm 1850, các cộng đoàn và các nhà dòng được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, và năm 1875, việc tận hiến này được mở rộng ra cả thế giới Công giáo. ĐGH vẫn không muốn can thiệp. Cuối cùng, ngày 116-1899, theo lệnh của ĐGH Lêô XIII, và theo công thức ngài lập ra, cả thế giới được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. ĐGH Lêô XIII gọi điều này là “điều vĩ đại” trong triều đại giáo hoàng của ngài, điều mà một nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành ở Oporto (Bồ Đào Nha) đã nói rằng bà nhận từ chính Chúa Giêsu. Bà là thành viên của cộng đoàn Drost-zu-Vischering, và được biết đến là nữ tu Maria Thánh Tâm Chúa. Bà qua đời vào đúng ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 2 ngày trước khi tận hiến, điều được hoãn lại vào Chúa nhật kế tiếp. Trong khi nói tới điều này, chúng ta đừng quên nói tới lòng sùng kính riêng trong các linh hồn. Vả lại, chúng ta đừng bỏ qua tính xã hội trong những năm sau. Nhất là Giáo hội Công giáo Pháp bám sát điều này như niềm hy vọng mạnh mẽ nhất của ơn cứu độ.